Đề tài: “Nâng cao thu nhập cho hộ nghèo ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình”
1
PHẦN MỘT:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đói nghèo hiện đang là vấn đề nóng không chỉ ở Việt Nam mà còn được cả thế
giới quan tâm. Mặc dù đã có nhiều giải pháp được đưa ra nhằm hỗ trợ và nâng cao thu
nhập, đời sống cho các hộ nghèo nhưng xóa nghèo bền vững hiện vẫn là một thách
thức lớn đối với toàn xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam vẫn còn cao trong những năm
trở lại đây: tính đến năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo của cả nước là 9, 6%, tỷ lệ hộ nghèo ở
các huyện nghèo chiếm 43, 89%. Khoảng cách giàu – nghèo giữa các vùng, nhóm dân
cư còn lớn, có vùng còn trên 50% hộ nghèo, cá biệt có vùng còn 60% -70% hộ nghèo.
Tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm gần 50% tổng số hộ nghèo trong cả nước,
thu nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân cả
nước. Sự phát triển của nền kinh tế kéo theo nhiều yếu tố như lạm phát, bão giá…
trong khi mức thu nhập của người nghèo còn quá thấp, điều này ảnh hưởng không nhỏ
đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Do đó việc nâng cao thu nhập cho
người nghèo là vấn đề đáng được quan tâm trong tiến trình CNH, HĐH đất nước hiện
nay.
Lệ Thủy là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Bình, là mảnh đất nối liền
giữa Quảng Bình và Quảng Trị. Huyện có diện tích 142.052 km
2
và dân số 142.723
người, điều kiện tài nguyên phong phú và đa dạng: có suối nước khoáng Bang… và là
nơi sản sinh ra nhiều vị anh hùng dân tộc trong các thời kỳ chiến tranh. Bên cạnh điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện cũng có những bước phát triển rõ rệt đặc biệt là
công tác XĐGN - đây là một trong những chiến lược phát triển quan trọng của huyện
trong những năm trở lại đây. Dù là huyện còn gặp nhiều khó khăn, người dân chủ yếu
làm nông nghiệp và số hộ nghèo còn cao nhưng nhờ sự phối hợp hiệu quả giữa chính
quyền địa phương và bản thân người nghèo đã bước đầu đem lại kết quả tích cực: Tỷ
lệ hộ nghèo đã giảm qua các năm, trong 5 năm (từ 2007-2011) huyện Lệ Thủy đã xóa
nghèo ở huyện Lệ Thủy trong những năm gần đây (2009-2013).
- Đưa ra phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển, nâng
cao hơn nữa thu nhập của hộ nghèo ở huyện Lệ Thủy trong những năm tiếp theo.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Các hộ nghèo ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mà chủ yếu là ở ba xã Tân
Thủy, Dương Thủy, Mỹ Thủy của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
- Về không gian: Trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng thu nhập của hộ nghèo giai đoạn 2010-
2013, đề ra giải pháp từ 2015-2018.
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng thu nhập của hộ nghèo ở huyện Lệ Thủy,
tỉnh Quảng Bình. Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nghèo
trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Phương pháp chung.
Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta để tiếp
cận đối tượng và nội dung nghiên cứu theo quan điểm khách quan, toàn diện, phát
triển và hệ thống.
4.2. Phương pháp riêng.
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu:
+ Tài liệu thứ cấp: nguồn tài liệu được thu nhập từ niên giám thống kê huyện
Lệ Thủy; số liệu về lao động, hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo từ phòng LĐTB&XH huyện Lệ
Thủy, các báo cáo phát triển kinh tế huyện và các xã, tài liệu từ các nguồn sách báo,
báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả liên quan đến lĩnh
vực nghiên cứu.
+ Tài liệu sơ cấp: điều tra trực tiếp các hộ nghèo.
+ Phương pháp điều tra: đề tài sử dụng phương pháp chọn ngẫu nhiên. Sau quá
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nghèo ở
huyện Lệ Thủy trong thời gian tới.
5
PHẦN HAI:
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO.
1.1. Cơ sở lý luận.
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về nghèo đói.
1.1.1.1. Khái niệm nghèo đói.
Nghèo đói hiện đang là một vấn đề nghiên cứu chuyên biệt của khoa học xã hội
hiện đại và đến nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói.
- “Nghèo” là tình trạng khó khăn chung về việc không có khả năng đáp ứng các
nhu cầu cơ bản, mà chủ yếu là các nhu cầu phi lương thực như nhà ở, giáo dục, y tế,
văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ
thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức
sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. [1, 7]
Xét ở một góc độ khác Tiến sỹ M.G.Guilna thuộc ngân hàng Châu Á đã đưa
khái niệm nghèo thành khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau:
+ Nghèo tuyệt đối (Absolute poverty): là tình trạng một bộ phận dân cư không
được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống con người. Tình trạng nghèo
tuyệt đối xảy ra khi thu nhập hay mức tiêu dùng của một người hay hộ gia đình giảm
xuống thấp hơn chuẩn nghèo đói. [2, 40]
+ Nghèo tương đối (Relative poverty): là tình trạng không đạt mức sống tối
thiểu tại một thời điểm trong một không gian xác định nào đó và được xác định khi so
sánh mức sống của cộng đồng hay nhóm dân cư này với cộng đồng hay nhóm dân cư
khác hoặc giữa các vùng với nhau. [2, 41]
- “Đói” là tình trạng con người không có ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối
thiểu cần thiết. Nói cách khác, đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con người ăn
không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì cuộc sống hằng ngày
tiếng nói ít được coi trọng, họ ít có địa vị trong xã hội - những điều này là bước cản để
họ tìm kiếm công việc tốt hơn trong các ngành trả lương cao. Vì vậy họ thường có thu
7
nhập thấp hoặc thậm chí không có thu nhập mà chỉ phụ thuộc vào các nguồn trợ cấp,
thu nhập không ổn định.
Thứ hai, phần lớn thu nhập của người nghèo chỉ đáp ứng được các nhu cầu thiết
yếu nhất cho cuộc sống. Họ thường có khuynh hướng chi vượt khỏi thu. Do nguồn thu
nhập ít ỏi nên hầu như phần lớn thu nhập chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu ăn
uống hằng ngày của người nghèo và đa phần chưa biết cách quản lý kinh tế cũng như
cách thức làm ăn hợp lý. Thực tế cho thấy tình trạng chi tiêu vượt quá mức thu nhập
dẫn đến việc vay nợ chồng chất của hộ nghèo. Nên trong quá trình làm ăn họ gặp
nhiều khó khăn và ít tận dụng được các cơ hội từ bên ngoài.
Thứ ba, phần đông họ là những gia đình đông con, số lượng nhân khẩu trong
gia đình cao hơn bình quân chung. Hệ quả là quy mô gia đình càng lớn dẫn đến thu
nhập bình quân đầu người sẽ giảm và khả năng nghèo đói của hộ càng cao. Các hộ gia
đình đông con và có ít lao động dẫn đến tỉ lệ ăn theo trong gia đình cao, phần lớn hộ
nghèo là những hộ có tỉ lệ ăn theo cao.
Thứ tư, cuộc sống của người nghèo thường phải phụ thuộc người khác như phải
vay vốn với lãi suất cao chỉ để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu, họ dễ bị bọn chủ nợ bóc lột
một cách dễ dàng; Đối với những hộ nghèo mà nguồn thu nhập chủ yếu là từ lao động
làm thuê thì phải phụ thuộc vào nhu cầu công nhân và từng thời điểm, mùa vụ cần thuê
lao động; Hộ nghèo dễ bị ảnh hưởng trước những biến động của thị trường, giá cả, sản
phẩm làm được bán ra thì rẻ trong khi mua vào thì hết sức đắt đỏ.
Thứ năm, cơ hội tiếp cận giáo dục và các dịch vụ xã hội của những người
nghèo rất khó khăn. Thu nhập của người nghèo phần lớn sử dụng cho nhu cầu về ăn
uống và sinh hoạt, còn chi phí cho giáo dục, y tế, văn hóa…rất eo hẹp. Do đó ở những
hộ nghèo, trình độ học vấn của chủ hộ và con em họ thường rất thấp, trẻ em bỏ học
giữa chừng chiếm tỷ lệ cao. Sự tiếp nhận y tế, văn hóa đối với người nghèo là rất hạn
chế, vì vậy họ thường có nguy cơ mắc bệnh cao và kéo dài do không được chữa trị kịp
thời, đúng cách. Với chế độ ăn uống không đầy đủ nên họ thường bị suy dinh dưỡng,
+ Từ 20.000 USD/năm đến dưới 25.000 USD/năm: Nước giàu.
+ Từ 10.000 USD/năm đến dưới 20.000 USD/năm: Nước khá giàu.
+ Từ 2.500 USD/năm đến dưới 10.000 USD/năm: Nước trung bình.
+ Từ 500 USD đến dưới 2.500 USD/năm: Nước nghèo.
+ Dưới 500 USD/năm: Nước cực nghèo. [4, 9]
Ngân hàng thế giới còn đưa ra khuyến nghị thang đo đói nghèo như sau:
+ Đối với nước kém phát triển, các cá nhân được coi là nghèo đói khi có mức
thu nhập dưới 0, 5 USD/ngày.
9
+ Đối với các nước đang phát triển là: 1 USD/ngày.
+ Các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh và Caribe: 2 USD/ngày.
+ Các nước Đông Âu: 4 USD/ngày.
+ Các nước công nghiệp phát triển: 14, 4 USD/ngày. [4, 9]
Theo tôi, chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo nêu trên còn phiến diện, bởi vì
trong thực tế còn nhiều nước có mức thu nhập bình quân đầu người rất cao nhưng
chưa đạt được sự phát triển hoàn hảo. Chẳng hạn nước giàu có như Hoa Kỳ có thu
nhập bình quân đầu người là 47.084 USD/người/năm (2011) nhưng cũng có tới 15, 7%
dân số sống dưới mức nghèo khó, vẫn còn thình trạng thất nghiệp, đói nghèo, ô nhiễm
bất công khác.
Dựa vào kết quả điều tra mức sống dân cư, WB đã đưa ra 2 chuẩn nghèo:
+ Chuẩn nghèo lương thực: tức là lượng lương thực thực phẩm tiêu thụ phải
đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với lượng calo là 2.100 Kcalo/người/ngày.
+ Chuẩn nghèo chung: là chuẩn nghèo bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi
lương thực. Chuẩn nghèo này tính đến năm 2005 là 1, 25 USD/ngày/người và đến đầu
năm 2008 chuẩn nghèo này là 2 USD/ngày/người, sau khi tính đến yếu tố lạm phát.
*Tiêu chí phân định nghèo đói của Việt Nam.
Do xuất phát từ một nước nông nghiệp, nên chuẩn nghèo đói ở nước ta thời
gian từ năm 1996 trở về trước tính theo mức chi tiêu bằng lương thực (quy gạo là
chính), về sau mới tính theo giá trị tiền. Theo đó từ năm 1996 đến nay, nước ta đã năm
lần công bố chuẩn nghèo cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước như sau:
+ Khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân 400.000 đồng/người/tháng trở
xuống.
+ Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng trở xuống.
Ngoài ra còn ban hành tiêu chuẩn về hộ cận nghèo như sau: hộ cận nghèo ở
nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000
đồng/người/tháng; hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ
501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.
Chuẩn nghèo trên được áp dụng cho tất cả các địa phương trong cả nước, tuy
nhiên địa phương nào đủ 3 điều kiện sau có thể đưa ra chuẩn đói nghèo của địa
phương cao hơn chuẩn nghèo đói tối thiểu trên, cụ thể:
11
+ Thu nhập bình quân đầu người của địa phương cao hơn thu nhập bình quân
đầu người của cả nước.
+ Có tỉ lệ nghèo thấp hơn bình quân cả nước.
+ Có đủ nguồn lực cân đối cho các giải pháp xóa đói giảm nghèo. [1, 9-11]
Căn cứ vào tính chất đói nghèo người ta phân hộ nghèo thành ba loại:
- Hộ tái nghèo: là hộ nghèo từng vươn lên thoát nghèo nhưng hiện tại đã đuợc
công nhận quay trở lại nằm trong tốp nghèo.
- Hộ nghèo chuyển tiếp: là hộ được xét công nhận nghèo liên tiếp qua các năm
(ít nhất kể từ năm liền kề trước đó).
- Hộ nghèo mới: là hộ được công nhận nghèo tại thời điểm đang xét mà hoàn
toàn không phải là hộ nghèo kể từ thời điểm xét trở về trước đó.
1.1.1.4. Nguyên nhân của nghèo đói
*Nguyên nhân khách quan
Chính phủ Việt Nam vào năm 2003 kết luận rằng những nguyên nhân khách
quan của sự nghèo đói bao gồm: xuất phát điểm của nền kinh tế, tỷ lệ dân số hoạt động
trong nông nghiệp cao, chiến tranh, hạn chế về nguồn lực trong nước, thiên tai, tâm lý
trông chờ và bị động của các đối tượng hưởng lợi, đặc biệt là người dân miền núi.
+ Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua các cuộc chiến tranh lâu
dài, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nguồn lực chính của các hộ gia đình bị giảm do mất mát
- Thứ nhất, người nghèo thông thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội tiếp
cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất và khả năng tìm kiếm các công việc
trong lĩnh vực phi nông nghiệp, vì vậy cơ hội thoát nghèo nâng cao thu nhập của họ
thấp. Đồng thời do hạn chế về mặt kiến thức nên họ hầu như không có khả năng phân
tích những biến động của thị trường để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh những
sản phẩm đem lại thu nhập cao.
- Thứ hai, thu nhập thấp trong khi chi tiêu không có kế hoạch, không tính toán
cũng là nguyên nhân gây nghèo đói. Hộ nghèo có thu nhập thấp nên không đủ chi tiêu
cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày và hoàn toàn không có vốn để sản xuất kinh doanh.
Do đó một số hộ nghèo phải vay mượn hoặc có khi phải vay nặng lãi. Điều này làm
cho khó khăn của họ ngày càng khó khăn hơn.
13
- Thứ ba, một số gia đình có người ốm đau thường xuyên hoặc mắc tệ nạn xã
hội như rượu chè, cờ bạc, gia đình bất ổn. Như vậy họ không chỉ mất đi thu nhập từ
lao động trong nhà mà còn phải gánh chịu chi phí cho việc khám chữa bệnh, mua
rượu, thuốc, ma túy…nhiều khi tiền vốn vay được để kinh doanh thì chuyển sang chữa
bệnh. Đó cũng là nguyên nhân đẩy họ vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói.
- Thứ tư, người nghèo thường có tính ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của xã hội,
lười lao động, không có ý thức tự vươn lên thoát nghèo cũng là một nguyên nhân gây
nghèo đói.
- Thứ năm, chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong giảm nghèo
và hỗ trợ trực tiếp, tuy nhiên năng lực của đội ngũ cán bộ còn yếu và sự phối hợp tại
các cấp chưa tốt. Thực tế cho thấy rằng vẫn còn nhiều chính sách về mục tiêu XĐGN
chưa được thực hiện hiệu quả, thậm chí còn sai, làm phương hại đến kết quả xóa đói
giảm nghèo ở các địa phương. Đồng thời sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc
tế còn nhiều hạn chế, các nguồn vốn đầu tư cho các chương trình XĐGN, nước sạch
nông thôn…của Nhà nước còn hạn hẹp.
- Thứ sáu, ngoài những nguyên nhân trên, hiện tượng đói nghèo còn do một số
nguyên nhân khác như: tham nhũng, bất bình đẳng giới, ô nhiễm môi trường…
1.1.1.5. Sự cần thiết phải hỗ trợ người nghèo.
Theo Robert J.Gorden- nhà kinh tế học người Mỹ, Giáo sư trường Đại học khoa
học xã hội và nhân văn Northwesten: “Thu nhập cá nhân là thu nhập mà các cá nhân
nhận được từ mọi nguồn bao gồm các khoản làm ra và các khoản chuyển nhượng. Thu
nhập cá nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ đi các khoản thuế thu nhập cá nhân”
Khoản chuyển nhượng là những khoản tiền cá nhân nhận được nhưng không phải
trả tiền cho lao động sản xuất nào. Hiện nay trong lĩnh vực nông nghiệp nước ta, hộ gia
đình được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ. Thu nhập của hộ là toàn bộ các khoản thu
nhập bằng tiền và giá trị hiện vật (kể cả các khoản phúc lợi xuất hiện không mất tiền)
mà người lao động cũng như gia đình nhận được trong một thời gian nhất định.
Theo từ điển kinh tế học của tác giả Nguyễn Văn Ngọc: Thu nhập là khoản thu
mà các nhân tố sản xuất nhận được như tiền lương, tiền công, phí và hoa hồng, lợi
nhuận, tiền tô, lợi tức và lãi suất [6, 289] hay: thu nhập là các khoản lợi tức thu được
từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản xuất trong một thời kỳ. Các khoản lợi tức
15
thu được từ lao động, tư bản, đất đai và năng lực kinh doanh là tiền lương, lãi suất, địa
tô và lợi nhuận.
Trong lý thuyết về nhu cầu thì trợ cấp cũng được coi là thu nhập vì nó cũng
tham gia quy định giới hạn ngân sách như các khoản thu nhập khác.
Trung tâm thông tin Tư liệu - Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho
rằng: thu nhập có thể hiểu là cơ hội tiêu dùng và tiết kiệm mà một đối tượng có được
trong một khung thời gian cụ thể. Với đối tượng là hộ gia đình và các nhân thì thu
nhập là tổng của tiền lương, tiền công, lợi nhuận, tiền lãi, địa tô và những lợi tức khác
mà họ có được trong một khoảng thời gian nhất định [7, 12]
=>Thu nhập: là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức
tiền tệ mà chủ thể nào đó trong nền kinh tế xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao
động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân trong một khoảng thời hạn nhất định (thường là một năm).
1.1.2.2. Đặc điểm của thu nhập
Nền kinh tế nước ta đang chuyển dịch nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường,
đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước, chính vì vậy thu nhập của người lao động
hiện rất rõ nét.
Thứ nhất: Thu nhập của lao động nông thôn là rất thấp và có khoảng cách khá xa
so với thành thị. Sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị là do cơ hội việc
làm ở thành thị lớn hơn, năng suất lao động hay hiệu quả công việc ở thành thị cao hơn.
Đây là lý do hình thành luồng di dân từ nông thôn ra thành thị với mức độ ngày càng
tăng. Điều đó tạo ra yêu cầu khách quan là phải có giải pháp hợp lý nhằm tạo việc làm
cho lao động nông thôn và nâng cao hiệu quả của lao động nông thôn, hạn chế sự chênh
lệch quá lớn về thu nhập giữa nông thôn và thành thị từ đó khắc phục những ảnh hưởng
tiêu cực do sự chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị gây ra.
Thứ hai: Thu nhập của lao động nông thôn không ổn định. Đa số người dân ở
nông thôn đều làm nông nghiệp do đó phụ thuộc vào tính mùa vụ trong nông nghiệp.
Trong kỳ thời vụ, nhu cầu thuê lao động tăng nhưng thuê nhân công vừa khó vừa phải
trả tiền công cao. Ngược lại, thời kỳ nhàn rỗi nhu cầu thuê lao động thấp, người nông
dân không có việc làm nên họ sẵn sàng làm thuê với mức tiền công thấp.
17
1.1.2.3. Phân loại thu nhập.
Về bản chất, theo nghĩa rộng, thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: Thù lao cần
thiết (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương) và phần
có được từ thặng dư sản xuất hoặc lợi nhuận.
Căn cứ vào nhiều tiêu chí người ta phân loại thu nhập như sau:
Theo công bố ngày 01/7/2012, Ngân hàng Thế giới phân loại thu nhập theo
GNI bình quân đầu người theo bốn mức cụ thể như sau:
- Thu nhập thấp: 1.025 đô la hoặc ít hơn
- Thu nhập trung bình thấp: từ 1.026 đô la đến 4.035 đô la
- Thu nhập trung bình cao: từ 4.036 đô la đến 12.475 đô la
- Thu nhập cao: 12.476 đô la hoặc cao hơn
Các nền kinh tế có mức thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp đôi khi được
gọi là các nền kinh tế đang phát triển.
Ngoài ra, người ta còn phân loại thu nhập thành:
- Thu nhập cá nhân: là thuật ngữ đề cập đến tất cả các khoản thu nhập của
sản xuất thuần nông là chính, trình độ sản xuất hạn chế dẫn tới thu nhập thấp.
Những vùng trung du và miền núi (đặc biệt là miền núi) có địa hình hiểm trở bị
chia cắt do đó rất khó khăn trong việc phát triển giao thông và thuỷ lợi. Việc áp dụng
máy móc kỹ thuật cũng rất hạn chế do đất đai bị chia cắt manh mún. Vì vậy, năng suất
lao động thấp, hạn chế trong khả năng giao lưu kinh tế và tiếp cận với thị trường, với
các thông tin về văn hoá, khoa học kỹ thuật do vậy cũng hạn chế quá trình sản xuất
kinh doanh và ảnh hưởng đến thu nhập.
- Điều kiện kinh tế - xã hội:
Trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của người lao động: Con người với tư cách
là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi hoạt động lao động, vì vậy, chất lượng của nguồn lao
động quyết định hiệu quả của hoạt động lao động. Trong quá trình công nghiệp hoá và
hiện đại hoá hiện nay, con người được coi là nguồn lực của mọi nguồn lực cho phát
triển.Tuy lực lượng lao động của Việt Nam nhiều nhưng đa số vẫn là lao động có trình
độ thấp, dẫn đến thu nhập của người dân còn thấp, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến
đời sống của họ.
19
Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất: Đối với bất cứ ngành nghề nào thì vốn là một
yếu tố đầu vào không thể thiếu, chính vì vậy nó ảnh hưởng không nhỏ đến yếu tố đầu
ra tức là thu nhập của người lao động. Khi đầu tư càng lớn thì cơ hội lao động và thu
nhập của người dân càng cao và ngược lại.
Truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của từng dân tộc: Mỗi dân tộc có
một truyền thống và phong tục tập quán riêng. Truyền thống giúp đỡ nhau trong đời
sống hàng ngày, trong làm ăn kinh tế, trong khuyến học là những truyền thống tốt
đẹp. Có những làng xã người dân xây dựng thành các nhóm, hội kinh doanh rất hiệu
quả, có làng khuyến khích người dân làm kinh tế và báo cáo kết quả trong ngày hội
làng đã có tác động thúc đẩy kinh tế phát triển và thu nhập của người dân ngày càng
được nâng cao. Tuy nhiên, cũng có những hủ tục như ma chay cưới xin linh đình, công
việc xong trả nợ hàng năm mới hết. Các tệ nạn mê tín dị đoan thói quen sống và làm
việc mang tính tự nhiên không tính toán là lực cản vô cùng to lớn cho sự tiến bộ xã
hội cũng như thu nhập của người dân.
được như vậy huyện đã không ngừng quan tâm đến các gia đình chính sách, người tàn
tật và các đối tượng thuộc diện cứu trợ khác. Đồng thời tiếp thu kịp thời những thành
tựu khoa học công nghệ hiện đại để tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất. Kết
hợp phát triển kinh tế với hỗ trợ người nghèo, tranh thủ các nguồn đầu tư để phát triển
đồng bộ kết cấu hạ tầng. Mô hình hợp tác xã kiểu mới đã phát triển mạnh ở một số
hình thức như tổ hợp tác tín dụng, giúp người dân tiếp cận được với các nguồn vay tín
dụng từ ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và ngân hàng Chính sách xã
hội huyện để tạo nguồn vốn góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho từng
hộ gia đình.
1.2.2. Bài học rút ra cho huyện Lệ Thủy.
Qua kinh nghiệm nâng cao thu nhập, hỗ trợ người nghèo của các địa phương
trong nước có thể rút ra một số bài học cho huyện Lệ Thủy như sau:
21
-Thứ nhất, kết hợp tăng trưởng kinh tế nhanh với phân phối thu nhập công bằng
nâng cao mức sống của người dân.
-Thứ hai, xây dựng các mô hình điểm và nhân rộng các điển hình tiên tiến về
nâng cao thu nhập, hỗ trợ người nghèo trên địa bàn huyện, đẩy mạnh và hỗ trợ dạy
nghề cho nông dân, nhất là các hộ nghèo, hoặc tạo thêm nhiều ngành nghề mới cho
người nghèo để nâng cao thu nhập cho họ.
-Thứ ba, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư, các nguồn vốn vay phải được
đưa vào phát triển sản xuất, đồng thời tổ chức dạy nghề, chuyển giao khoa học kỹ
thuật, hướng dẫn và phổ biến sâu rộng cách làm ăn cho người nghèo.
-Thứ tư, nâng cao tinh thần vươn lên thoát nghèo, tự nâng cao chất lượng cuộc
sống cho bản thân họ và gia đình cũng như hạn chế sự ỷ lại, trông chờ từ bản thân
người nghèo…
-Thứ năm, tăng cường cơ hội cho người nghèo thường tập trung vào vai trò
trung tâm của các cơ hội vật chất, nó bao gồm công việc, tín dụng, đường sá, điện, thị
trường cho sự sản xuất của họ và trường học, nước sạch, vệ sinh và dịch vụ y tế giúp
nâng cao sức khỏe và kỹ năng cần thiết để làm việc.
-Thứ sáu, đối với các gia đình là nông dân cần giảm thiểu đóng góp cho họ như
Bắc và phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Thời gian mưa tập trung vào các
tháng 9, 10 và 11.
- Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24
0
C – 25
0
C. Ba
tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8.
Độ ẩm tương đối 83-84%.
Lệ Thủy có nhiều sông ngòi kệnh rạch nối nhau trong đó có sông Kiến Giang là
hợp lưu của nhiều nguồn sông suối phát nguyên từ vùng núi phía Tây-Nam của huyện
đổ về. Do địa hình bị chia cắt mạnh nên hầu hết các sông của Lệ Thủy ngắn và dốc,
khả năng thoát nước chậm.
2.1.1.3. Tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản.
Lệ Thủy có tài nguyên đất dồi dào, đất cát có diện tích khoảng 19.043 ha chủ
yếu tập trung ở các vùng ven biển của các xã Ngư Thủy, Sen Thủy. Ngoài ra còn có đất
mặn, đất phù sa tập trung ở vùng giáp giữa biển và đồng bằng.
Việc sở hữu vùng biển Ngư Thủy Bắc cũng đem lại cho Huyện nguồn hải sản
phong phú, có nhiều loại hải sản quý hiếm như tôm hùm, mực, hải sâm… giúp phát
triển kinh tế biển. Diện tích tiềm năng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản (sông ngòi, ao hồ
nhỏ, hồ chứa, mặt nước lớn, diện tích trồng lúa có khả năng nuôi, diện tích bãi bồi ven
sông, ven biển, nước mặn) tương đối lớn.
24
Tài nguyên rừng: Tổng diện tích rừng hiện có là 96.828,7 ha, diện tích rừng
trồng mới tập trung là 860, 4 ha. Độ che phủ rừng đạt 68, 5%. Rừng có khoảng 250
loại lâm sản, nhiều loại quý hiếm như mun, lim, gụ, lát hoa, loại trầm gió, thông
nhựa… Đặc sản dưới tán rừng khá đa dạng, phong phú và có giá trị cao như song mây,
trầm kỳ… Tài nguyên rừng và đất rừng ở đây có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong
lĩnh vực kinh tế mà còn đối với môi trường.