LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng khóa luận tốt nghiệp “Giải pháp nâng cao thu
nhập cho hộ nông dân xã Quang Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái
Bình” chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được công bố
cho việc bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận
đều được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
1
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ
nông dân xã Quang Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình”, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể, tôi xin được bày tỏ
sự biết ơn sâu sắc tới các cá nhân, tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát
triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã dạy bảo và trang bị cho
tôi những kiến thức giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo – TS. Lê Ngọc Hướng đã
trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ lãnh đạo ủy ban
nhân dân xã, hợp tác xã, hội nông dân và tập thể bà con trong xã Quang Bình,
huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian tôi
thực tập tại địa bàn.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những
nền sản xuất của xã nói chung vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Đời sống nhân
dân nơi đây từng ngày được cải thiện tuy nhiên vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong
sản xuất và đời sống. Cùng với xu thế chung của sự phát triển là sự chuyển dịch
dần cơ cấu lao động giữa các ngành (chủ yếu là từ nông nghiệp sang các ngành
khác), thế nhưng thu nhập của các hộ nông dân trong xã còn thấp và không ổn định.
Vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân
là cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng
cao thu nhập cho hộ nông dân xã Quang Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình”.
Nghiên cứu này nhằm đề xuất một số giải pháp chủ yếu để giúp người nông dân
trong xã phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của gia đình.
3
3
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu nghiên cứu, đánh giá thực trạng thu
nhập của hộ nông dân xã Quang Bình, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu
nhập của các hộ. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả kinh tế và phát triển cho phù hợp với tình hình thực tế giúp nâng cao
thu nhập cho các hộ nông dân trên địa bàn xã. Đề tài nghiên cứu với các nội dung
cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về vấn đề thu nhập và nâng cao thu
nhập cho người dân.
- Đánh giá thực trạng thu nhập của các hộ nông dân xã Quang Bình.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân xã Quang
Bình.
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, trên phương diện lý thuyết, đề tài góp phần
hệ thống hóa cơ sở lý luận về hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân, đặc điểm của kinh
tế hộ và thu nhập, các lý luận về thu nhập của hộ nông dân, cách tính thu nhập, đặc
điểm và các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ. Các khái niệm và đặc điểm được
tìm hiểu qua nhiều góc độ và cách nhìn nhận của nhiều nhà nghiên cứu trước đây.
Từ các khái niệm, đặc điểm về thu nhập của hộ nông dân, đề tài bước đầu khái quát
thêm thu nhập cho hộ. Trong khi đó, nhóm hộ chuyên có xu hướng đầu tư đại bộ
phận vốn sản xuất vào các hoạt động phi nông nghiệp mà chủ yếu là các hoạt động
ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ nên thu nhập của nhóm hộ
này không chịu ảnh hưởng bởi hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Sự khác nhau về thu nhập của các nhóm hộ là do tác động của nhiều yếu tố:
yếu tố số lượng lao động và trình độ lao động (đặc biệt là của chủ hộ), yếu tố đất
đai, yếu tố nguồn vốn và hiệu quả sử dụng vốn Hộ có trình độ của chủ hộ và các
lao động trong hộ cao thường có những phương án sản xuất tốt hoặc đưa ra các
quyết định sản xuất kịp thời, theo kịp nhu cầu của thị trường. Đối với nhóm hộ
thuần nông những hộ có diện tích đất sản xuất lớn, tập trung thì thu nhập của hộ
cao và ổn định hơn nhưng lại yêu cầu có mức đầu tư lớn hơn.
Kết quả trên là cơ sở để tôi nghiên cứu và đưa ra những giải pháp nâng cao
thu nhập cho các hộ nông dân trên địa bàn xã. Đề tài nêu những giải pháp chủ yếu
5
5
nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân như sau: (1) Nâng cao trình độ cho lao
động trong hộ đặc biệt là trình độ, năng lực của chủ hộ; (2) Tập trung tích tụ đất sản
xuất, giảm tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, tiến tới mở rộng sản xuất hàng
hóa theo nhu cầu của thị trường; (3) Huy động và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả,
khắc phục tình trạng thiếu trong sản xuất; (4) Quan tâm, đầu tư nâng cấp, xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất; (5) Nhà nước cần đầu tư vào cho việc
nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ về giống cây trồng vật nuôi áp dụng
kỹ thuật mới vào sản xuất; (6) Đối với thị trường cung ứng các yếu tố đầu vào: điều
tiết giá và trợ giá - Đối với thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra: khuyến khích các
doanh nghiệp ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm cho các hộ nông dân; (7)
Cung cấp các giống mới, vật tư nông nghiệp với giá ưu tiên hoặc ủng hộ cho các hộ
nghèo, hình thức này cần được khuyến khích duy trì.
Tóm lại, Đảng và nhà nước cũng như chính quyền địa phương cần quan tâm
hơn nữa đối với kinh tế hộ nông dân; cần có những chính sách khuyến khích, thúc
đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển để nâng cao thu nhập cho người dân,
TNBQ Thu nhập bình quân
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
9
9
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đông dân với nhiều thành phần dân tộc khác nhau,
dân số tăng nhanh dẫn đến tốc độ tăng nguồn lao động khoảng 3%/năm, hàng năm
có hơn 1 triệu thanh niên đến tuổi gia nhập lực lượng lao động cần có việc làm.
Khu vực nông thôn chiếm khoảng 70% lực lượng lao động của cả nước, trong đó
thường xuyên có gần 30% lao động thiếu việc làm, phổ biến là thiếu do mang tính
thời vụ hoặc thiếu đất canh tác (theo điều tra biến động dân số, lao động, nguồn lao
động và kế hoạch hóa gia đình 1/4/2008). Hằng năm lượng lao động tăng thêm của
nước ta rất lớn, số lượng lao động cũ chưa giải quyết hết giờ lại tăng thêm một số
lượng khá lớn, tình trạng thiếu việc làm càng tăng, việc làm không ổn định gây khó
khăn cho nền kinh tế nước ta, đặc biệt là ở nông thôn. Với 70% dân số sống ở nông
thôn và gần 90% dân số ở nông thôn làm nông nghiệp thì việc phát triển kinh tế
quốc dân phải gắn liền với phát triển kinh tế hộ gia đình. Phát triển kinh tế hộ gia
đình là nền tảng để phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng và nền kinh tế quốc
dân nói chung.
Những năm gần đây, nông nghiệp và nông thôn nước ta đã có sự phát triển
vượt bậc, đạt được những thành tựu đáng khích lệ với năng suất và sản lượng ngày
càng tăng. Tuy nhiên bên cạnh mặt đạt được, vẫn còn tồn tại những khó khăn. Đây
là tất yếu khách quan.
Đó là nền kinh tế hàng hoá đã tạo ra sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu
sắc, vấn đề chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng, giữa thành
thị và nông thôn ngày một rõ. Hiện nay, hơn 70% dân số nước ta ở nông thôn đây là
nguồn lao động dồi dào nhưng chưa được sử dụng hợp lý, tuy nhiên nó cũng là
một thách thức về vấn đề giải quyết việc làm tạo thu nhập cho người lao động. Bởi
đến thu nhập của hộ nông dân.
11
11
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của
các hộ nông dân, các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân xã
Quang Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
+ Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Quang Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh
Thái Bình.
+ Phạm vi thời gian của số liệu
Đề tài nghiên cứu tình hình sản xuất, kết quả sản xuất kinh doanh của địa
phương giai đoạn 2011 – 2013 và phân tích thu nhập, cơ cấu thu nhập của hộ năm
2013.
Đề xuất các giải pháp áp dụng cho giai đoạn 2015 – 2020.
Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014.
12
12
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU NHẬP
CỦA HỘ NÔNG DÂN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1Khái niệm về hộ
Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành
kinh tế, các tác giả định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ” là tất cả những người sống
chung trong một ngôi (mái) nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và
người làm công, người cùng ăn chung.
Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những người
sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một
+ Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường.
Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hoá lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần
thiết để tiêu dùng trong gia đình. Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải
hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tự túc cho
sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào:
Khả năng mở rộng diện tích đất đai.
Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập.
Có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.
+ Hộ nông dân sản xuất hàng hoá chủ yếu: loại hộ này có mục tiêu là tối đa
hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn,
ruộng đất, lao động.
- Căn cứ vào tính chất của các ngành sản xuất hộ nông dân gồm có:
+ Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp.
+ Hộ chuyên: là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc nề, rèn,
sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt, may, làm dịch
vụ kỹ thuật cho nông nghiệp.
+ Hộ kiêm nông: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công
nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính.
+ Hộ buôn bán: ở nơi đông dân cư, có quầy hàng hoặc buôn bán ở chợ.
14
14
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì
vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở
nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên
môn hoá. Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông
thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp tăng lên (Chu Văn Vũ, 1995).
- Căn cứ vào mức thu nhập của hộ nông dân gồm: hộ giàu, hộ khá, hộ trung
bình, hộ nghèo và hộ đói.
2.1.1.3 Khái niệm kinh tế hộ nông dân
sản xuất tiếp theo hay gửi tiết kiệm.
Thu nhập của hộ = Tổng thu của hộ - tổng chi phí sản xuất
Tổng thu nhập của hộ = Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp + Thu
nhập từ phi nông nghiệp + Thu nhập khác.
• Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân
Trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân chịu sự tác động bởi các
nhóm yếu tố chủ quan và khách quan. Các nhân tố này tác động đến thu nhập của
hộ thông qua hai bộ phận chính là tổng thu và chi phí. Do đó, các yếu tố ảnh hưởng
đến hai thành phần này sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân. Có nghĩa là
một yếu tố nào đó làm thay đổi một trong hai thành phần này cũng làm thay đổi thu
nhập của hộ. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổng thu và tổng chi phí trên còn có quan
hệ với nhau.
- Ảnh hưởng của lao động và nhân khẩu
Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản xuất, không có lao động
thì không thể có hoạt động sản xuất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, cũng như
đất đai lao động ảnh hưởng đến thu nhập trên cả hai mặt, lượng và chất.
Mặt lượng lao động thể hiện ở mức đầu tư lao động vào một công việc cụ
thể nào đó, nếu đầu tư sức lao động cao sẽ cho sản lượng cao hơn và thu nhập cao
hơn và ngược lại. Khi đánh giá vấn đề nhân khẩu, chúng ta phải đánh giá tỷ số giữa
số lượng lao động và số lượng nhân khẩu. Khi tỷ số giữa số lao động trên số nhân
khẩu thấp nghĩa là tỷ lệ phụ thuộc cao, điều này gây bất lợi cho hộ, nó làm cho
những hộ nghèo ngày càng nghèo thêm.
16
16
Mặt chất của lao động thể hiện ở trình độ học vấn, kỹ năng lao động, khả
năng tiếp thu khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất. Trong đó kiến thức
chuyên môn và trình độ học vấn là cơ sở để tiếp thu và đưa kỹ thuật hiện đại vào
sản xuất, kiến thức chuyên môn có được thông qua quá trình đào tạo ở trường, ở
các lớp tập huấn ngắn hạn hoặc dài hạn. Trang bị kiến thức chuyên môn cho người
lao động là rất cần thiết, đặc biệt đối với chủ hộ vì họ là người cuối cùng đưa ra
quyền huy động hoặc quyết định phân bổ vốn theo chu kỳ sản xuất. Vốn được tạo
ra từ hai nguồn cơ bản là vốn tự có và vốn đi vay. Việc sử dụng vốn có hiệu quả
hay không nó quyết định đến sự phát triển của kinh tế hộ. Nếu ta cố định các yếu tố
khác, chỉ xét riêng ảnh hưởng của vốn đến thu nhập của hộ thì vốn đầu tư cho sản
xuất và thu nhập của hộ là đại lượng đồng biến.
- Ảnh hưởng của yếu tố khoa học kỹ thuật
Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ
thuật và công nghệ vì nó tạo ra sản phẩm năng suất cao và chất lượng tốt. Cải thiện
tiến bộ kỹ thuật là tăng khối lượng và chất lượng hàng hóa, đồng thời giảm được
chi phí sản xuất và mở rộng được quy mô sản xuất do đó làm tăng thu nhập cho các
hộ.
- Ảnh hưởng của trình độ tổ chức, quản lý
Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân, việc lựa
chọn phương án sản xuất và cách bố trí sản xuất phù hợp với nguồn lực hiện tại của
hộ có vai trò quyết định đến thu nhập. Yếu tố này phụ thuộc vào trình độ văn hóa,
kinh nghiệm sản xuất và nhạy bén với thị trường của chủ hộ.
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất
mà người nông dân canh tác như: thời tiết, khí hậu, độ màu mỡ của đất… Do đối
tượng sản xuất là sinh vật sống nên quá trình sinh trưởng và phát triển của cây
trồng, vật nuôi chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh. Nếu điều kiện ngoại cảnh
thuận lợi, phù hợp với các giai đoạn phát triển của cây trồng, vật nuôi thì sẽ cho
năng suất cao và ngược lại thiên tai, dịch bệnh sẽ làm giảm năng suất cây trồng, vật
nuôi dẫn đến làm giảm thu nhập của hộ nông dân. Như vậy trong sản xuất nông
18
18
nghiệp thì điều kiện tự nhiên là yếu tố quyết định khá lớn đến kết quả sản xuất của
nông hộ.
- Ảnh hưởng của yếu tố thị trường
Nói đến thị trường là nói đến nhu cầu của xã hội đối với nông sản hàng hóa
dù là lớn hay nhỏ. Nếu chính sách đúng sẽ kích thích được sản xuất và ngược lại.
Vì vậy chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ hay đến
sự phát triển của kinh tế hộ. Trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn ở
Việt Nam, Nhà nước ta đã chứng tỏ được vai trò của mình trong quản lý kinh tế. Nó
thể hiện rõ nét nhất ở chính sách ruộng đất trong công cuộc đổi mới. Chính sách
này đã làm thay đổi thu nhập của toàn bộ dân cư nông thôn. Ngoài ra còn có sự
đóng góp hàng loạt các chính sách khác như đặt giá trần, giá sàn nhằm bảo vệ
người sản xuất và người tiêu dùng.
- Mức độ hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Đây là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước hết là hệ thống giao
thông, thuỷ lợi, hệ thống thông tin và năng lượng. Hệ thống giao thông thuận lợi sẽ
giảm chi phí vận tải, thuận lợi cho giao lưu kinh tế và văn hoá với các vùng khác từ
đó hình thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá và phát triển các ngành nghề phi
nông nghiệp. Hệ thống điện, thông tin giúp cho người dân có khả năng trang bị
máy móc kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động, thuận lợi trong việc
tiếp thu những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí được nâng cao.
Hệ thống trường học, bệnh viện có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ
cho nhân dân và đào tạo nhân lực. Vì vậy, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội tác
động một cách tổng hợp tới quá trình phát triển kinh tế xã hội và mức sống của dân
cư.
- Ảnh hưởng của tình trạng di cư tìm việc làm của thành viên lao động trong
hộ.
Việc di cư lao động không chỉ góp phần giải quyết thu nhập, cho bản thân
người di cư mà còn giúp cho người thân ở quê nhà có thêm những khoản tiền để cải
thiện điều kiện sống hiện tại của họ.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến khoản thu khác của hộ
20
20
Các khoản thu khác của hộ nông dân chịu ảnh hưởng của các yếu tố như số
người được hưởng trợ cấp, số người có lương hưu, số người đi làm việc ở các công
- Kinh tế hộ nông dân sử dụng sức lao động, nguồn vốn của mình là chủ yếu. Chỉ
khi nào quy mô sản xuất vượt quá nguồn lực sẵn có, các hoạt động mua bán hay đi
thuê mới diễn ra.
Với các đặc trưng trên, có thể khẳng định rằng kinh tế nông hộ luôn là hình
thức tổ chức kinh tế rất thích hợp với sản xuất nông nghiệp. Bởi vì, đối tượng sản
xuất của nông nghiệp là các sinh vật sống rất cần sự chăm sóc trực tiếp và thường
xuyên của con người. Người lao động trong nông hộ với ý thức trách nhiệm cao, có
sự gắn bó mật thiết với cây trồng vật nuôi nên hoàn toàn có thể đảm nhận công việc
đó.
2.1.4 Vai trò của kinh tế hộ nông dân trong điều kiện hiện nay
Trong nền kinh tế quốc dân, sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh
tế, các phương thức sản xuất là hoàn toàn khách quan. Kinh tế nông hộ là một bộ
phận cấu thành của nền kinh tế. Từ trước đến nay kinh tế hộ dù phát triển dưới bất
kỳ hình thức nào cũng đều là nhân tố quan trọng giúp cho nền kinh tế quốc dân
phát triển. Kinh tế nông hộ có sắc thái riêng về kinh tế nhân văn và xã hội.
Ở Việt Nam, giá trị sản phẩm nông nghiệp còn chiếm một tỷ trọng lớn trong
nền kinh tế. Mặt khác đối với nông nghiệp sản xuất hàng hoá chưa cao nên kinh tế
nông hộ càng có vai trò hết sức to lớn, nó thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn phát
triển. Theo ước tính thì kinh tế hộ nông dân đã cung cấp cho xã hội khoảng 90%
sản lượng thịt và cá, 90% sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây
ăn quả. Đẩy mạnh xuất khẩu và góp phần sử dụng tốt hơn tài nguyên đất, lao động,
vốn, rừng, biển nâng cao thu nhập cho người nông dân. Từng bước phát triển các
ngành nghề dịch vụ ở nông thôn theo tinh thần mà Đảng và Nhà nước ta đang
hướng tới là công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.
Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế chúng ta đang chủ trương xoá bỏ thế
độc canh tiến đến đa canh cây trồng vật nuôi và phát triển ngành nghề, dịch vụ ở
nông thôn theo điều kiện từng vùng, từng bước xoá bỏ cơ chế sản xuất tự cung tự
cấp sang sản xuất hàng hoá theo hình thức trang trại gia đình để tăng khả năng đầu
tư cũng như các tiềm lực khác, góp phần nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi,
phát triển các ngành nghề dịch vụ, nâng cao thu nhập cho người nông dân, từng
quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân, khuyến khích mở rộng ngành nghề, dịch vụ,
phát triển hàng hóa, khuyến khích thành phần kinh tế trong nông thôn phát triển. Cụ
23
23
thể, Trung Quốc đã đề ra và thực hiện tốt chính sách “ly nông bất ly hương”, “mua
đắt, bán rẻ”, “lấy công bù nông”…
- Về đầu tư: tiến hành nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn… Bên
cạnh đó, Chính phủ còn tăng cường đầu tư tài chính mở thêm nhiều hình thức tín
dụng để nông hộ có điều kiện vay vốn phát triển sản xuất.
- Chuyển giao khoa học công nghệ: việc kết hợp khoa học công nghệ với tiềm
năng kinh tế đã huy động và tận dụng mọi nguồn lực trong nông hộ, tạo được hiệu
quả cao trong sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân, giảm tối đa số hộ nghèo.
Năm 1985, cả nước có khoảng 25 triệu hộ sản xuất chuyên canh trong tổng số
180 triệu nông hộ (Nguyễn Sinh Cúc và Nguyễn Văn Tiêm, 1996). Chỉ sau 10 năm
thực hiện cải cách, bộ mặt nông thôn Trung Quốc đã thay đổi nhanh chóng, bình
quân hàng năm giá trị sản lượng trồng trọt tăng 4,6%, chăn nuôi tăng 9%, thu nhập
bình quân một người tăng 10,7%, quy mô xí nghiệp hương trấn ngày càng được mở
rộng. Năm 1987, có 1,524 triệu xí nghiệp hương trấn, năm 1991 có 19,08 triệu xí
nghiệp với tổng giá trị sản phẩm 846,1 tỷ nhân dân tệ, giải quyết việc làm cho 20%
lao động ở nông thôn (Vũ Thị Ngọc Trân, 1997).
Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia điển hình cho vùng Đông Bắc Á. Mặc dù các nông
hộ có quy mô nhỏ bé nhưng trong quá trình công nghiệp hóa đã ứng dụng rộng rãi,
có hiệu quả cao các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại về giống cây trồng vật
nuôi, các loại vật tư kỹ thuật nông nghiệp, phân bón cho cây trồng, thức ăn công
nghiệp cho gia súc, năng lượng cơ điện, nước, gió, các máy móc thiết bị nông nghiệp
và ứng dụng đồng bộ vào các chu trình sản xuất và chế biến, bảo quản nông, lâm,
thủy sản tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cao và năng suất lao động nông nghiệp
cao.
Ở Nhật Bản năm 1946 – 1949, nhà nước đã mua 1,95 triệu ha đất của các chủ
Thái Lan là một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển ổn định và
là một quốc gia đứng đầu về xuất khẩn gạo trên thế giới. Tại quốc gia này các hình
thức nông hộ, nông trại rất phát triển, nó cung cấp hầu hết nông sản hàng hóa cho
tiêu dùng và cho xuất khẩu. Chính sách của Thái Lan trước hết là chú trọng vào
nâng cấp, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đủ mạnh để thúc đẩy được kinh tế phát
triển. Bên cạnh việc củng cố cơ sở hạ tầng và cung cấp đầy đủ các yếu tố đầu vào
25
25