LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này được thực hiện một cách nghiêm túc,
trung thực bằng nỗ lực nghiên cứu của chính tác giả, không gian lận, không
sao chép từ các tài liệu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của toàn bộ nội dung khóa
luận tốt nghiệp
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lường Thị Oanh
i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài này, với lòng biết ơn
chân thành và sâu sắc nhất tới giáo viên hướng dẫn TS. Lê Ngọc Hướng –
giảng viên Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, người thầy đã dành nhiều
thời gian tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu, thực hiện đề tài này.
Tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, các
thầy cô giáo đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Phân tích định lượng –
Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, những người đã trang bị những kiến
thức bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo lãnh đạo UBND xã
Hải Ninh, và người dân xã Hải Ninh đã tạo mọi điều kiện về thời gian để
giúp đỡ tôi thu thập thông tin, số liệu cần thiết trong suốt quá trình thực hiện
nghiên cứu tại địa bàn.
Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và gia đình đã động viên, giúp đỡ
nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quí báu để tôi hoàn thành khó luận.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài của tôi chắc hẳn không thể tránh
khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các
thầy cô giáo và cùng toàn thể bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nôi, ngày 5 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
duy trì thu nhập đã khó, nâng cao thu nhập cho hộ gia đình lại càng khó hơn bởi
nông thôn thì sản suất nông nghiệp vẫn còn là chủ yếu. Do đó quan điểm
về CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn đang được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số làm nông nghiệp thì kinh
tế hộ nông dân đã góp một phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng nền kinh
tế nước nhà, có thể thấy kinh tế nông nghiệp đã và đang làm tốt vai trò "bệ
đỡ” của nền kinh tế. Kinh tế hộ gia đình đang ngày càng được quan tâm, chú
trọng phát triển. Tuy nhiên, trong thời gian qua đời sống người nông dân vẫn
còn gặp nhiều khó khăn. Thu nhập của người nông dân ngày càng đa dạng và có
xu hướng tăng nhưng mức chênh lệch về thu nhập của lao động nông nghiệp so
với lao động phi nông nghiệp thì ngày càng giãn rộng. Vì vậy vấn đề nâng cao
thu nhập cho hộ nông dân sống trong khu vực nông nghiệp, nông thôn là hết sức
cần thiết trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cũng như quá trình phát
triển kinh tế của đất nước.
Xã Hải Ninh huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa là một xã nông thôn
thuộc diện bãi ngang có tình hình kinh tế đặc biệt khó khăn, là một xã mang
đầy đủ những nét đặc trưng của nông thôn Việt Nam nói chung và nông thôn
tỉnh thanh hóa nói riêng. Giống như những miền quê khác, người dân Hải
Ninh sống với nhau trong tình làng nghĩa xóm gắn với điều kiện tự nhiên. Với
nền kinh tế tổng hợp bao gồm nhiều ngành nghề: sản xuất nông – ngư nghiệp,
khai thác nuôi trông thủy hải sản, thương mại – dịch vụ, nhưng sản xuất chủ
yếu vẫn còn nhỏ lẻ. Phải nói trên địa bàn cũng có điều kiện khá thuận lợi để
phát triển kinh tế, vậy mà mức thu nhập và đời sống của người dân vẫn còn
rất thấp. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên và các nhà lãnh đạo
đưa ra biện pháp và chính sách gì để khắc phục tình trạng trên? Chính vì vậy
giải quyết vấn đề thu nhập cho các hộ gia đình xã Hải Ninh là yêu cầu cần
thiết và cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành, các đoàn thể.
iv
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Giải
pháp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia,
3.2.1.3 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật 56
Hệ thống cấp nớc sạch và vệ sinh môi trờng 58
3.3 Phng phỏp nghiờn cu 60
3.3.1 Phng phỏp chn im nghiờn cu 60
TI LIU THAM KHO 105
vi
DANH MC BNG
Phỏt trin kinh t h gia ỡnh Vit Nam 10
Bng 2.1: Thu nhp bỡnh quõn u ngi mt thỏng theo giỏ hin hnh phõn
theo thnh th, nụng thụn v phõn theo vựng 31
3.1.2.3 Đánh giá về đời sống dân sinh 42
3.1.4 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp 43
3.1.4.1 Đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung 43
3.1.4.2 Thực trạng sản xuất ngành trồng trọt 44
3.1.4.3 Ngành chăn nuôi 46
3.1.4.4 Thực trạng phát triển ngành thuỷ sản 50
3.1.5.1 Kết quả công tác đổi điền dồn thửa 51
3.2.1.2 Cơ sở vật chất văn hóa 53
3.2.1.3 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật 56
Hệ thống cấp nớc sạch và vệ sinh môi trờng 58
3.3 Phng phỏp nghiờn cu 60
3.3.1 Phng phỏp chn im nghiờn cu 60
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND
BQ
Uỷ ban nhân dân
Bình quân
BQC Bình quân chung
BVTV Bảo vệ thực vật
mỗi khu vực địa lý cũng như khía cạnh nào đó là nguyên nhân của nhiều vấn
đề xã hội khác.
Thu nhập cao hay thấp là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất
đánh giá sự giàu nghèo. Khái niệm về tình trạng giàu nghèo dựa trên thu
nhập, mức sống đang ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong
quá trình nghiên cứu.
Hộ gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời cũng là một thiết chế xã hội.
Hộ gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các
thành viên của mình. Vì vậy, sự phát triển của gia đình có vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển của xã hội. Một mặt, gia đình duy trì, tạo ra sự ổn
định về đời sống vật chất, nguồn lao động cho xã hội. Mặt khác, gia đình là
môi trường giáo dục đầu tiên nhằm xây dựng hoàn thiện và củng cố nhân cách
con người. Sỡ dĩ vậy là do gia đình đã đảm nhận những chức năng không thể
thiếu như: chức năng sinh sản, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế
Việt Nam là một nước nông nghiệp đang phát triển, hơn 70% dân số
nước ta ở nông thôn đây là nguồn lao động dồi dào nhưng chưa được sử dụng
hợp lý, đây vẫn còn là một thách thức lớn về vấn đề giải quyết việc làm nâng
cao thu nhập cho người lao động. Ngày nay, người nông dân đã chủ động
trong mọi hoạt động sản xuất của mình, với điều kiện có sẵn như đất đai, lao
1
động, vốn… họ tiến hành sản xuất nhằm xóa đói, giảm nghèo , làm giàu chính
đáng, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội.
Hiện nay ruộng đất có hạn mà dân số ngày càng tăng lên. Do vậy việc
duy trì thu nhập đã khó, nâng cao thu nhập cho hộ gia đình lại càng khó hơn bởi
nông thôn thì sản suất nông nghiệp vẫn còn là chủ yếu. Do đó quan điểm
về CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn đang được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Là một nước nông nghiệp đang phát triển,thu nhập giữa các hộ gia
đình nông thôn và thành thị có sự chênh lệch, thậm chí ngay trong số các hộ
gia đình nông thôn với nhau có khoảng cách thu nhập chênh lệch đáng kể.
Mô tả và nghiên cứu về mức thu nhập ở Việt Nam đã và đang được
dài gây mất mùa, khí hậu thay đổi nhiều nên cây trồng, vật nuôi không kịp
thích hợp ngay với điều kiện sống nên sinh ra nhiều dịch bệnh như: cúm ở gia
cầm, lỡ mồm long móng ở trâu bò, cây trồng bị sâu bệnh hại chỉ đạt năng suất
thấp… Những điều ấy không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn
làm cho thu nhập của nông dân vốn dĩ đã thấp bây giờ lại thấp hơn.
Hiện nay mức thu nhập bình quân của người dân nước ta còn thấp so
với một số nước trên thế giới. Về nông nghiệp nước ta có nhiều tiềm năng và
điều kiện thuận lợi để phát triển cây lúa nước, cây cà phê, hải sản như tôm,
cá… Nhưng về sản lượng và chất lượng sản phẩm không bằng so với một số
nước trong khu vực. Kéo theo đó mức thu nhập và chất lượng cuộc sống của
người dân chưa cao đặc biệt các khu vực diện bãi ngang, đây là những khu
vực đặc biệt khó khăn luôn phải gánh chịu những ảnh hưởng nặng nề do thiên
tai mang tới, nên đời sống của người dân đặc biệt khó khăn.
Từ thực tế trên, tôi chọn xã Hải Ninh huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
là một xã nông thôn thuộc diện bãi ngang có tình hình kinh tế đặc biệt khó
khăn, là một xã mang đầy đủ những nét đặc trưng của nông thôn Việt Nam
3
nói chung và nông thôn tỉnh thanh hóa nói riêng. Giống như những miền quê
khác, người dân Hải Ninh sống với nhau trong tình làng nghĩa xóm gắn với
điều kiện tự nhiên. Với nền kinh tế tổng hợp bao gồm nhiều ngành nghề: sản
xuất nông – ngư nghiệp, khai thác nuôi trông thủy hải sản, thương mại – dịch
vụ, nhưng sản xuất chủ yếu vẫn còn nhỏ lẻ. Phải nói trên địa bàn cũng có điều
kiện khá thuận lợi để phát triển kinh tế, vậy mà mức thu nhập và đời sống của
người dân vẫn còn rất thấp. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên
và các nhà lãnh đạo đưa ra biện pháp và chính sách gì để khắc phục tình trạng
trên? Chính vì vậy giải quyết vấn đề thu nhập cho các hộ gia đình xã Hải
Ninh là yêu cầu cần thiết và cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp, các
ngành, các đoàn thể.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Giải
pháp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia,
Phạm vi về thời gian:
Thời gian thực tập: từ 01/2014 đến 04/2014.
Số liệu thứ cấp: Được thu thập trong 3 năm từ 2010 đến 2013
Số liệu sơ cấp: Tổng hợp qua phiếu điều tra năm 2014
Đề xuất các giải pháp thực hiện tronggiai đoạn 2015 - 2020.
1.4 Giả thiết nghiên cứu
Có sự khác biệt về mức thu nhập giữa các hộ gia đình, mức thu nhập
của các hộ gia đình ở đây chịu sự ảnh hưởng bởi một số nhân tố sau:
- Ngh nghip và vic làm: nhng h gia ình có nhiu ngh ph, nhiu
ngun thu nhp có thu nhp cao hn nhng h gia ình có ngun thu nhp t
làm rung và chn nuôi hay ánh bt cá trên bin.
- Gii tính: mc thu nhp ây c tính chung cho h gia ình. Do ó
vic phân bit nam – n rt khó nh v, tuy nhiên thc t n gii ch có ngun
thu nhp t làm rung và chn nuôi. Bi vy có óng góp thu nhp gia ình
so vi nam gii. Nhim v ca h là m bo l ng thc n.
5
– Hc vn: do mt bng dân trí ây nhìn chung là thp và ngang
nhau, do ó mc chênh lch không cao, nhng mt quy lut chung là nhng
ng i có trình hc vn cao thì mc thu nhp cng cao hn nhng ng i
trình hc vn thp, và nhn thc kém hn.
- Tui tác: tui tác cng óng vai trò quan trng trong vic to thu
nhp. Thanh niên tui t 18 n 25 có óng góp nhiu. Tuy nhiên h không
phi là hng ng i giàu có. Ng c li nhng ng i tui ≥50 lại có mức
thu nhập cao nhất.
- Ngoài ra một số nhân tố khác như ruộng đất, vốn kỹ thuật cũng
góp phần là những nguyên nhân ảnh hưởng đến mức thu nhập của hộ gia
đình xã Hải Ninh mà trong khuôn khổ hạn hẹp báo cáo chỉ đề cập đến một
cách sơ lược.
6
PHẦN II
“Ăn chung” được hiểu theo nghĩa là các thành viên trong hộ được phân
phối bởi nguồn thu nhập chung, cái mà họ đã cùng sáng tạo ra trong một
khoảng thời gian nhất định.
Theo GS. Đào Thế Tuấn (1996): “Hộ là một nhóm người cùng chung
huyết tộc sống chung hay không sống chung với những người khác huyết tộc
trong cùng một mái nhà. Ăn chung và có chung ngân quỹ, có phân phối chung
nguồn thu nhập mà các thành viên của họ sáng tạo ra”.
2.1.1.2 Khái niệm hộ gia đình
Gia đình và hộ là hai khái niệm khác biệt. Một hộ có thể chỉ bao gồm một
cá nhân hay nhiều thành viên có hoặc không có quan hệ huyết thống với nhau.
Hộ có thể là một gia đình hạt nhân, một gia đình mở rộng hay một đại gia đình.
Tóm lại, một hộ có thể có nhiều gia đình hoặc không có một gia đình
nào cả, ngược lại, một gia đình có thể trải rộng thành nhiều hộ. Thông
thường, gia đình và hộ trùng lên nhau, tạo thành tên gọi "Hộ gia đình". Mỗi
hộ gia đình ở Việt Nam hiện nay đều có sổ đăng ký hộ khẩu, trong đó ghi rõ
số nhân khẩu, chủ hộ và quan hệ giữa các thành viên với chủ hộ.
Kinh tế hộ gia đình
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 của Việt Nam xác định
kinh tế hộ gia đình là một đơn vị sản xuất cơ sở, cần thiết cho quyền chuyển
dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Kinh tế gia đình nói chung, hay kinh tế hộ gia đình nông nghiệp ở nông
thôn được thực hiện quyền tự chủ và được quan tâm, khuyến khích phát triển
dưới hình thức hợp tác xã và các hình thức liên kết khác. Ngoài các chính
sách bảo hộ quyền và nghĩa vụ, Nhà nước còn có các chính sách khác hướng
8
tới việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ
kỹ thuật; phổ biến, ứng dụng công nghệ mới cho sản xuất chế biến; cung cấp
dịch vụ vật tư; hỗ trợ tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho
kinh tế hộ gia đình và trang trại.
can thiệp của các qui luật cạnh tranh, qui luật giá trị và giá cả thị trường.
Phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam
Việt Nam thực hiện bước chuyển đổi từ nền kinh tế tự cung tự cấp hàng thế kỷ nay, nhưng tiến trình
diễn ra rất chậm chạp và sự chuyển tiếp là việc thực hiện nền kinh tế kế hoạch tập trung theo cơ chế bao cấp
kéo dài suốt mấy chục năm qua. Cách mạng giải phóng dân tộc với hai cuộc kháng chiến trường kỳ tiến tới
thống nhất tổ quốc cũng là một nguyên nhân góp phần làm giảm phát triển kinh tế đất nước. Chỉ tới thập niên
cuối thế kỷ XX, khi bắt tay vào thực hiện công cuộc Đổi mới, chúng ta mới thực sự tiến hành từng bước
chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Do những đặc điểm địa lý tự nhiên và thiếu trình độ, kiến thức, kinh
nghiệm quản lý nền kinh tế thị trường nên mặc dù trong những năm qua kinh
tế đất nước tuy có tăng trưởng, nhưng phát triển không đồng đều giữa các
vùng. Bên cạnh sự phát triển kinh tế sản xuất hàng hoá đang diễn ra ở các đô
thị và các tỉnh đồng bằng, vẫn tồn tại các hình thức sản xuất còn biểu hiện của
nền kinh tế tự cung tự cấp (kinh tế tự nhiên) ở các vùng núi cao, vùng sâu,
vùng xa.
Thực chất sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường không chỉ là sự
thay đổi hình thức kinh tế vĩ mô mà còn thay đổi cả hệ thống kinh tế vi mô.
Đó là sự thay đổi phương thức hoạt động, thay đổi hình thức tổ chức của các
đơn vị kinh tế, trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất của xã hội.
Trước đây, các tổ chức kinh tế mang các tên gọi khác nhau: nhà máy, xí
nghiệp, công ty, cửa hàng, hợp tác xã, cá thể, tư nhân, v.v… Ngày nay trong
cơ chế thị trường, các đơn vị tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đều
được thống nhất chung với tên gọi là Việt Nam. Hiện nay ở nước ta có các
10
loại hình doanh nghiệp với các thành phần chủ sở hữu như sau: cá nhân,
nhóm kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty (công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phẩn), hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ gia đình.
Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được
phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc
nền kinh tế phát triển, tích lũy tư bản, phúc lợi xã hội và thu nhập cá nhân cho
phép đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội phát triển cao.
Do kết quả của sự chi phối, giao lưu kinh tế quốc tế trong việc thực
hiện chính sách mở cửa, những năm qua nền kinh tế thị trường đa thành phần
ở nước ta có những bước tăng trưởng đáng kể, nhưng đồng thời cũng kéo theo
sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng cả về vật chất lẫn tinh thần. Sự gia tăng về nhu
cầu tiêu dùng là quy luật tự nhiên và đáng khuyến khích. Tuy nhiên, trong
trường hợp kinh tế kém phát triển như ở nước ta, chưa thể có mức tiêu dùng
bình quân cao được.
Hiện nay, có hiện tượng một bộ phận hộ gia đình thu nhập cao, tập
trung ở thành thị, mức sống và nhu cầu tiêu dùng chênh lệch cao gấp nhiều
lần so với những hộ dân sống ở nông thôn. Đây là vấn đề cần được quan tâm
giải quyết để thực hiện tính công bằng trong phát triển kinh tế - xã hội theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Xóa đói giảm nghèo, tình trạng thất nghiệp,
phân công lao động và giải quyết việc làm, thực tế hộ gia đình cũng là những
vấn đề cần được đề cập trong nghiên cứu về các chính sách liên quan tới lĩnh
vực Gia đình.
2.1.1.3 Thu Nhập
Khái niệm thu nhập được từ điển tiếng việt định nghĩa như sau:
Thu nhập là việc nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động
12
nào đó, hay là các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định
thường tính theo tháng, năm… (trang 925 – từ điển Tiếng Việt).
Từ định nghĩa trên cho ta thấy khi nói đến thu nhập thường người ta
nói đến hai khía cạnh:
+ Phương thức thu nhập: thu nhập bằng gì, tiền hay sản phẩm…
+ Mức thu nhập: cao hay thấp, so sánh chung trong xã hội hoặc cụ thể
trên mỗi địa bàn.
Mỗi người lao động đều mong ước có được thu nhập cao, để đáp ứng
cho các khoản chi phí trong cuộc sống, đáp ứng cho nhu cầu cá nhân của con
Trong cơ cấu thu nhập của lao động nông thôn, phần thu nhập từ hoạt
động sản xuất kinh doanh, làm thuê chiếm tỷ lệ tuyệt đối lớn và có vai trò
quyết định đến sự phát triển của kinh tế nông thôn. Phần được hỗ trợ chiếm tỷ
lệ nhỏ bé và không thường xuyên, nó chỉ có vai trò giúp cho lao động nông
thôn giảm phần nào gánh nặng của cuộc sống trong thời kỳ khó khăn.
Trong thời kỳ hiện nay, thu nhập của lao động nông thôn nước ta có
hai biểu hiện rất rõ nét:
- Thứ nhất : thu nhập của lao động nông thôn là rất thấp và có khoảng
cách khá xa so với thành thị. Sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành
thị là do cơ hội việc làm ở thành thị lớn hơn, năng suất lao động hay hiệu quả
công việc ở thành thị cao hơn. Đây là lý do hình thành luồng di dân từ nông
thôn ra thành thị với mức độ ngày càng tăng. Điều đó tạo ra yêu cầu khách
quan là phải có giải pháp hợp lý nhằm tạo việc làm cho lao động nông thôn
và nâng cao hiệu quả của lao động nông thôn, hạn chế sự chênh lệch quá lớn
về thu nhập giữa nông thôn và thành thị từ đó khắc phục những ảnh hưởng
tiêu cực do sự chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị gây ra.
14
- Thu nhập của lao động nông thôn không ổn định. Nông nghiệp nước
ta cơ bản vẫn là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, trình độ canh tác cũng như cơ
sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu do đó chứa đựng những rủi ro lớn.
Những năm qua, các hiện tượng thiên tai như lũ lụt, hạn hán, sâu
bệnh… làm cuộc sống của cư dân một số vùng nông thôn thêm khó khăn. Một
số năm gần đây, dịch bệnh như cúm gia cầm, bệnh lở mồm long móng xuất
hiện nhiều hơn làm nhiều nông dân mất đi tài sản có giá trị lớn, nhiều người
trở thành mắc nợ. Ngoài sự rủi ro vì những yếu tố bất thường của tự nhiên,
người nông dân cũng phải đối mặt với những rủi ro về thị trường do giá cả
nông sản không ổn định.
Trong nông thôn, thị trường lao động cũng thiếu tính ổn định do tính
thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Trong kỳ thời vụ, nhu cầu thuê lao động
tăng nhưng thuê nhân công vừa khó vừa phải trả tiền công cao. Ngược lại,
khả năng lao động. ở nước ta theo quy định của Bộ Luật lao động người trong
độ tuổi lao động là: nam từ 15 - 60 tuổi; nữ từ 15 - 55 tuổi.
Chất lượng lao động: thể hiện qua trình độ lành nghề, hiểu biết, vận
dụng khoa học - kỹ thuật, sức khoẻ
+ Năng suất lao động:
Năng suất lao động là "Sức sản xuất của lao động cụ thể có ích", nói
lên kết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một đơn vị
thời gian nhất định. Năng suất lao động đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất
ra trong một đơn vị thời gian, hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất
ra một đơn vị sản phẩm.
Theo C. Mác "Năng suất lao động thường được dùng đồng nghĩa với
hiệu quả của sức lao động" và "Khả năng của sức lao động". Từ định nghĩa
16
năng suất lao động của C. Mác, mức năng suất lao động được xác định bằng
số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian lao động.
+ Việc làm: mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị
pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm. Nếu không có việc làm sẽ sinh
ra rất nhiều vấn đề ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
+ Nghề nghiệp
Trong đời sống sản xuất của xã hội cũng như trong đào tạo cán bộ kỹ
thuật, đào tạo công nhân chúng ta thường nói đến một khái niệm nghề.
Nghề là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết
tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định.
Trình độ lành nghề của lao động thể hiện chất lượng của lao động. Nó
thể hiện ở sự hiểu biết về lý thuyết, về kỹ thuật sản xuất và kỹ năng lao động
để hoàn thành những công việc có trình độ phức tạp nhất định thuộc một
nghề, một chuyên môn nào đó.
Trình độ lành nghề liên quan chặt chẽ tới lao động phức tạp. Lao động
có trình độ lành nghề là lao động có chất lượng cao hơn, là lao động phức tạp
hơn. Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động lành nghề thường tạo ra một