Hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn của hộ nông dân trên địa bàn xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn - Pdf 28

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Khoa kinh tÕ Vµ PH¸T TRIÓN N¤NG TH¤N
= = = =  = = = =
HOÀNG KIM CÚC

HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT RAU AN
TOÀN CỦA HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ MAI
PHA, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hµ Néi 2015–
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Khoa kinh tÕ Vµ PH¸T TRIÓN N¤NG TH¤N
= = = =  = = = =
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT RAU AN
TOÀN CỦA HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ MAI
PHA, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Ơ
Tên sinh viên : HOÀNG KIM CÚC
Chuyên ngành : KINH TẾ
Lớp : K56-KTB
Niên khóa : 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS NGÔ THỊ THUẬN

Hµ Néi 2015–
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là đề tài nghiên cứu khoa học của tôi, nội dung, số liệu và
kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa hề được sử dụng.
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đã
được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

nay diện tích trồng rau an toàn trên cả nước đang tăng nhanh chóng, rất nhiều
các mô hình trồng RAT được các xã áp dụng đem lại nhiều lợi ích cho người
nông dân.
Mai Pha là một xã thuộc địa bàn thành phố Lạng Sơn có truyền thống sản
xuất rau màu từ nhiều năm nay. Tính từ năm 2005, Sở khoa học và Công Nghệ,
các trạm khuyến nông, tổ chức VECO đã xây dựng được trên 10 mô hình theo
tiêu chuẩn an toàn ở thành phố, và năm 2007 mô hình rau an toàn đã được xây
dựng tại xã Mai Pha. Mô hình được triển khai nhằm thay đổi nhận thức của
người sản xuất và người tiêu dùng; định hướng cho người nông dân sản xuất rau
an toàn trên diện rộng và tìm thị trường cho sản phẩm. Các mô hình được triển
khai với các loại rau như su hào, bắp cải, cải làn, súp lơ, cà chua… Sau khi được
học tập và áp dụng sản xuất theo đúng quy trình kỹ thuật hướng dẫn, dưới sự
theo dõi kiểm tra thường xuyên của cán bộ chuyên môn, đến nay việc sản xuât
rau an toàn đã đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với sản xuất theo tập quán
của bà con nông dân. Với 1 sào su hào trồng theo kỹ thuật rau an toàn sau khi
trừ chi phí thu lãi 2,937 triệu đồng, cao hơn so với tập quán cũ là 1,670 triệu
đồng; 1 sào cải bắp thu lãi 4,036 triệu đồng cao hơn sản xuất cũ 2,391 triệu
đồng; 1 sào cải làn thu lãi 8,355 triệu đồng cao hơn cách sản xuất cũ 1,723 triệu
đồng.
Do đó đề tài chúng tôi hướng tới việc đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản
xuất rau an toàn của hộ nông dân trên địa bàn xã Mai Pha, để thấy được sản
xuất rau an toàn mang lại hiệu quả hơn so với sản xuất rau theo kiểu thông
thường, góp phần tăng thu nhập và nâng cao đời sống của các hộ nông dân tại
địa phương.
6
6
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài cần đạt được những mục tiêu
cụ thể sau:
(1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế
trong sản xuất rau an toàn.

trên mức chi phí đầu tư thì hiệu quả đạt được cũng cao hơn so với hộ sản xuất
rau thường. Do đó có thể kết luận hộ sản xuất RAT đạt hiệu quả kinh tế cao hơn
hộ sản xuất rau thông thường.
(3) Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định sản xuất RAT của người
nông dân bao gồm: Điều kiện tự nhiên; năng lực hộ nông dân; kỹ thuật, công
nghệ; cơ sở hạ tầng; thị trường; cơ chế, chính sách.
(4) Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và mở rộng diện tích
trồng RAT: Thực hiện tốt dồn điền đổi thửa, tuyên truyền phổ biến cho nông
dân về lợi ích lâu dài cũng như xu hướng phát triển và nhu cầu ngày càng
tăng của RAT. Giảm chi phí sản xuất bằng cách thực hiện phòng trừ dịch hại
tổng hợp IPM, tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón, sử dụng
hiệu quả các vật tư kỹ thuật, tăng cường liên kết. Tăng năng suất, sản lượng
lượng bằng cách áp dụng đúng kỹ thuật, hạn chế ảnh hưởng của tự nhiên sâu
bệnh, trồng các giống mới ngắn ngày giống trái vụ, xen canh hợp lý. Đặc biệt
là các chính sách xây dựng, quảng bá thương hiệu của địa phương, đồng thời
quan tâm đến giai đoạn bảo quản, chế biến sau thu hoạch nhằm tăng chất
lượng và giá trị sản phẩm.
8
8
MỤC LỤC
9
9
DANH MỤC BẢNG
10
10
DANH MỤC HÌNH, HỘP
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BQ : Bình quân
BVTV : Bảo vệ thực vật
CC : Cơ cấu

Rau xanh là thức ăn không thể thiếu cho bữa cơm hằng ngày, là nơi cung
cấp những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người. Để sức khỏe được
đảm bảo thì rau phải an toàn, nhưng hiện nay cùng với sự phát triển của ngành
công nghiệp nhiều nhà máy được xây dựng, vấn đề về ô nhiễm môi trường cũng
tăng theo, môi trường đất, môi trường nước bị ô nhiễm ở nhũng vùng trồng rau
làm ảnh hưởng tới chất lượng các loại rau và sức khỏe của người tiêu dùng rau
xanh. Kinh tế đất nước phát triển, thị trường cũng phát triển theo với nhu cầu về
nông sản tăng lên về cả chủng loại, số lượng và chất lượng nông sản đáp ứng
cho đời sống người dân ngày càng cao. Trong tiến trình phát triển này, sản xuất
rau an toàn đang được chú trọng phát triển mạnh mẽ và đang dần khẳng định vị
trí quan trọng trong chiến lược xây dựng một nền nông nghiệp phát triển bền
vững. Từ đây dặt ra cho ngành hàng rau an toàn một nhiệm vụ quan trọng đòi
hỏi phải được quan tâm giải quyết một cách có thỏa đáng trong cả lĩnh vực sản
xuất và tiêu thụ. Rất nhiều nơi đã có những mô hình rau an toàn nhằm cung cấp
rau an toàn cho người dân địa phương và các vùng lân cận khác.
Tại thành phố Lạng Sơn cũng đã có những chuyển biến về chuyển dịch cơ
cấu cây trồng. Thành phố Lạng Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn nằm trong vùng khí
hậu cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình hàng năm 21ºC, độ ẩm trung bình
80%, lượng mưa trung bình trong năm là 1439mm.Tại đây có nhũng cây rau đặc
sản mang tính riêng biệt, ít nơi nào có được gồm các loại rau xanh như: cải làn,
tàu soi, cải xanh, cải ngồng được người tiêu dùng ưa thích. Những năm gần
đây, nhiều hộ nông dân tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn đã mở rộng diện
tích gieo trồng các loại cây này theo hướng VietGap, đem lại hiệu quả kinh tế
cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.
13
13
Xã Mai Pha là xã ven đô, là cửa ngõ phía Nam của thành phố Lạng Sơn.
Diện tích đất tự nhiên 1354 ha, dân số 6450 người; diện tích đất nông nghiệp
991,44 ha chiếm 73,22% tổng diện tích đất tự nhiên. Với diện tích đất nông nghiệp
lớn ngành nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của xã. Điều kiện

(1) Hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn được xác định như thế nào?
(2) Thực trạng hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn tại xã Mai Pha
những năm qua ra sao?
(3) Những hạn chế còn tồn tại là gì? Yếu tố nào ảnh hưởng tới sản xuất và
tiêu thụ rau an toàn tại đây?
(4) Làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động sản xuất, tiêu thụ, kết quả và hiệu quả kinh tế trong sản
xuất rau an toàn của các hộ nông dân, cụ thể:
- Hộ nông dân sản xuất rau an toàn.
- Quy trình sản xuất rau an toàn.
- Một số chủng loại rau an toàn.
- Các tổ chức kinh tế - xã hội có liên quan (khuyến nông, hội nông dân, hội phụ
nữ…).
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu, phân tích thực trạng sản xuất,
tiêu thụ xác định hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của các hộ
nông dân, các yếu tố ảnh hưởng, các mối quan hệ tác động đến kết quả và đề
xuất giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn của
hộ nông dân.
Phạm vi không gian: xã Mai Pha, TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Các nhóm
hộ sản xuất rau an toàn.
Phạm vi thời gian:
15
15
- Dữ liệu thứ cấp sử dụng nghiên cứu khóa luận được thu thập từ năm 2011 đến
2014
- Dữ liệu sơ cấp được thu thập năm 2015.
- Các giải pháp đề xuất cho 2016 - 2020.

17
+ Mức độ ô nhiễm các loại vi sinh vât gây bệnh (E.coli, Samollela, trứng
giun, sán…).
Như vậy, theo quan điểm của các nhà khoa học cho rằng:
Rau an toàn là rau không dập nát, úa, hư hỏng, không có đất, bụi bao quanh,
không chứa các sản phẩm hóa học độc hại; hàm lượng NO
3
, kim loại nặng, dư
thước bảo vệ thực vật cũng như các vi sinh vật gây hại phải được hạn chế theo các
tiêu chuẩn an toàn và được trồng trên các vùng đất không nhiễm kim loại nặng,
canh tác theo quy trình, kỹ thuật được gọi là quy trình tổng hợp, hạn chế được sử
đụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật ở mức tối thiểu cho phép.
 Sản xuất
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt
động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình là ra sản phẩm để sử dụng hay
để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính
sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất
và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết
để tạo ra sản phẩm?.
Sản xuất rau an toàn là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào bao gồm lao
động, đất đai, giống, phân bón… để tạo ra các sản phẩm đầu ra là rau an toàn đạt
tiêu chuẩn quy định nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người.
Sản xuất nói chung và sản xuất rau an toàn nói riêng tuân theo quy luật
năng suất cận biên giảm dần.
Hàm sản xuất được mô tả như một quan hệ kỹ thuật nhằm chuyển đổi cái
yếu tố đầu vào như nguyên liệu đầu vào để sản xuất thành một sản phẩm cụ thể
nào đó. Hay nói cách khác, hàm sản xuất được định nghĩa thông qua việc tối đa
mức đầu ra có thể sản xuất bằng các kết hợp các yếu tố đầu vào nhất định.
Y = f(x
1

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế tổng hợp nhằm đánh giá trình độ
phát triển sản xuất, trình độ khai khác và sử dụng các yếu tố đầu vào, trình độ
quản lý nhằm đạt được mục tiêu sản xuất trong điều kiện thời gian và địa điểm
cụ thể.
Như vậy, Hiệu quả kinh tế là khái niệm phản ánh chất lượng hoạt động
kinh tế. Bao gồm hiệu quả kinh tế như hiệu quả đầu tư, hiệu quả từng mặt : hiệu
quả sử dụng đất đai, hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng vốn. Nhưng
cái chung nhất của vấn đề hiệu quả kinh tế là muốn sản xuất ra sản phẩm dịch vụ
người ta phải bỏ ra các chi phí nhất định. Do vậy, biểu hiện chung nhất của hiệu
quả kinh tế là tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, có thể biểu thị
bằng công thức tổng quát :
Hiệu quả =
Kết quả càng cao so với chi phí thì hiệu quả càng cao.
Kết quả thu được cũng có nhiều phương diện: phương diện về tài chính,
phương diện về xã hội. Về chi phí cũng có nhiều phương diện như nhân lực,
19
19
vật lực, tài lực và đất đai. Do tính đa dạng đặc biệt như vậy, người ta chia
hiệu quả kinh tế thành ba dạng : hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, và hiệu quả
kinh tế xã hội.
Hiệu quả kinh tế là tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả kinh
tế đơn thuần như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp, lãi…
Hiệu quả xã hội là tương quan so sánh giữa các chi phí đã bỏ ra với kết
quả về mặt xã hội như giải quyết công ăn việc làm, thay đổi điều kiện làm việc,
bảo vệ tốt hơn các môi trường sinh thái, làm dịu bớt các mâu thuẫn trong xã
hội : giảm bớt chênh lệch giàu nghèo và chênh lệch giữa các vùng. Đối với nước
ta cũng như các nước đang phát triển, đôi khi các giải pháp được các công nghệ
thu hút nhiều lao động lại có ý nghĩa rất thiết thực. Do đó, trước đây không thấy
được tầm quan trọng của hiệu quả kinh tế xã hội mà thế giới đã để lại hậu quả
rất lớn về ô nhiễm môi trường như hiện nay.

với nhau chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất.
(2) Hiệu quả kinh tế gắn liền với kết quả sản xuất của từng ngành, từng
lĩnh vực.
(3) Hiệu quả kinh tế khi xác định cần lượng hóa kết quả và lượng hóa chi
phí.
2.1.2.1 Bản chất hiệu quả kinh tế
Bản chất của hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là sự thực hiện yêu cầu
của quy luật tiết kiệm thời gian biểu hiện trình độ sử dụng các nguồn lực của xã
hội, Mác cho rằng: Quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng
đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Mọi hoạt động của con người
21
21
đều phải tuân thủ theo quy luật đó, nó quyết định động lực phát triển của lực
lượng sản xuất, tạo điều kiện cho phát triển văn minh của xã hội và nâng cao đời
sống của nhân dân. Với mục đích nhất định, con người phải thực hiện trong một
thời gian lao động ít nhất hay nói một cách khác trong một số lượng thời gian
nhất định, kết quả đặt được phải cao nhất. Như vậy hiệu quả là một phạm trù
phản ánh yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian (Mác – Ăng ghen, 1994).
Từ những vấn đề trình bày trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm
trù hiệu quả kinh tế là việc sản xuất ra một lượng của cải lớn nhất với một
lượng chi phí lao động xã hội nhỏ nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
của xã hội.
2.1.3 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn
của hộ nông dân
2.1.3.1 Công thức tính hiệu quả kinh tế
 Công thức tổng quát tính theo nguyên lý toàn phần
( )
1
C
Q

22
Trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ sử dụng công thức (1) để tính hiệu quả
kinh tế trong sản xuất rau an toàn của hộ nông dân.
2.1.3.2 Xác định kết quả và chi phí trong sản xuất rau an toàn của hộ nông dân
a) Xác định kết quả sản xuất
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông
hoạch toàn, không có ghi chép ban đầu. Dựa trên các dữ liệu sơ cấp thu thập
được, kết quả trong sản xuất rau an toàn của hộ nông dân được xác định qua các
tiêu chí sau:
(1) Sản lượng rau an toàn: là toàn bộ khối lượng rau mà hộ sản xuất ra một vụ, một
năm.
(2) Giá trị sản xuất rau an toàn: là toàn bộ giá trị vật chất và dịch vụ mà hộ nông dân
thu được trong một năm, một đơn vị sản xuất trong sản xuất rau an toàn. Được
tính bằng giá trị các sản lượng, sản phẩm rau cộng với các dịch vụ bằng tiền
trong một năm.
(3) Giá trị gia tăng (VA): là giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ đi chi phí trung gian,
là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất. Nó là hiệu số
giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian.
(4) Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần còn lại của giá trị tăng thêm sau khi trừ đi chi
phí khấu hao tài sản cố định và thuế (nếu có).
b) Xác định chi phí
Chi phí trong sản xuất rau an toàn của hộ nông dân được thể hiện qua các
chỉ tiêu sau:
(1) Chi phí trung gian (IC): Toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ mà hộ nông dân bỏ
ra trong sản xuất rau an toàn của một vụ, của cả năm.
Được xác định = giá trị các chi phí vật chất + chi phí dịch vụ
Chi phí vật chất: gồm chi phí giống, phân các loại, thuốc bảo vệ thực vật,
công cụ sản xuất nhỏ, vật chất khác.
Chi phí dịch vụ: gồm dịch vụ làm đất, tưới nước, khuyến nông…
(2) Tổng chi phí thực tế: Toàn bộ chi phí hộ nông dân chi ra cho sản xuất rau an

= MI/V
2.1.4. Vai trò và đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất rau an toàn
2.1.4.1 Vai trò của sản xuất rau an toàn
Rau tươi là nguồn vitamin và muối khoáng quan trọng. Nhu cầu về
vitamin và muối khoáng của con người được cung cấp qua bữa ăn hàng ngày
qua rau tươi. Hầu hết các loại rau tươi thường dùng của nhân dân ta đều giàu
vitamin nhất là vitamin A và C là những vitamin hầu như không có hoặc có chỉ
có rất ít trong thức ăn động vật. Các chất khoáng trong rau tươi cũng rất quan
trọng. Trong rau có nhiều chất khoáng có tính kiềm như kali, canxi, magiê.
Chúng giữ vai trò quan trọng trong cơ thể và cần thiết. Trong cơ thể những chất
này cho những gốc tự do cần thiết để trung hoà các sản phẩm axít do thức ăn
hoặc do quá trình chuyển hoá tạo thành. Đặc biệt rau có nhiều kali ở dưới dạng
kali cacbonat, muối kali của các axít hữu cơ và nhiều chất khác dễ tan trong
nước và dịch tiêu hoá. Các muối kali làm giảm khả năng tích chứa nước của
24
24
protid ở tổ chức, do đó có tác dụng lợi tiểu. Lượng magiê trong rau tươi cũng rất
đáng chú ý, dao động từ 5-75mg%. Đặc biệt là các loại rau thơm, rau giền, rau
đậu có nhiều magiê.
Rau còn là nguồn chất sắt quan trọng. Sắt trong rau được cơ thể hấp thu
tốt hơn sắt ở các hợp chất vô cơ. Các loại rau đậu, sà lách là nguồn mangan tốt.
Tóm lại rau tươi có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng; bữa ăn hàng
ngày của chúng ta không thể thiếu rau. Điều quan trọng là phải đảm bảo rau an
toàn, không có vi khuẩn gây bệnh và các hoá chất độc nguy hiểm. (Nguyễn Lân
Hùng, 1997).
Việt Nam là một nước nhiệt dới có thể tiến hành trồng rau quanh năm,
ngành rau nước ta đã phát triển từ khá lâu và đóng góp khoảng 3% trong số tổng
giá trị gành nông nghiệp. Phát triển rau có ý nghĩa lớn về kinh tế xã hội : tạo
việc làm, tận dụng lao động, đất và nguồn tài nguyên cho hộ gia đình. Rau là cây
ngắn ngày có những loại cải canh, cải củ từ 30-40 ngày đã cho thu hoạch, rau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status