LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết
quả trong bài này hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, Ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Đặng Thị Yến
1
1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và tiến hành nghiên cứu đề tài này, tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ của các cá nhân tập thể. Tôi xin có lời cảm ơn chân
thành nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành
đề tài nghiên cứu này.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn Th.S Ngô Minh
Hải, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành thực
hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông Nghiệp Việt
Nam, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, các thầy giáo, cô giáo
đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ UBND xã, Chủ nhiệm HTX
Nông Nghiệp xã Mỹ Hương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh và những hộ nông
dân trên địa bàn xã Mỹ Hương đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực
tập.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập và thực tập tốt
nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan, khóa
luận không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự
bình (2-3 sào), 10 hộ quy mô nhỏ (< 2 sào). Phương pháp được sử dụng trong đề
tài: thu thập nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp tổng hợp và xử lý thông
tin, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp thống kê so sánh. Đồng thời
chúng tôi sử dụng các chỉ tiêu phản ánh nguồn lực sản xuất, chỉ tiêu phản ánh kết
3
3
quả, chỉ tiêu phản ánh hiệu quả, chỉ tiêu phản ánh tiêu thụ tại địa bàn xã Mỹ
Hương.
Qua điều tra thấy rằng tuổi trung bình của chủ hộ là 46,27 tuổi, trình độ
văn hóa của chủ hộ trung bình là có trình độ cấp 2, không có chủ nào là không biết
chữ. Trong ba năm qua (2012-2014), tổng diện tích trồng khoai tây trên địa bàn xã
có xu hướng tăng năm 2012 tổng diện tích trồng khoai tây là 19,5 ha tăng lên 22,45
ha năm 2014 tốc độ phát triển bình quân đạt 107,34%. Tuy nhiên không chỉ có diện
tích mà cả sản lượng và năng suất đều tăng, sản lượng năm 2012 đạt 3505,5 tấn
tăng lên 364,62 tấn vào năm 2014. Tình hình tiêu thụ khoai tây trên địa bàn xã vẫn
còn nhiều hạn chế: giá thành nông sản chưa ổn định, chưa liên hệ được với nhiều
doanh nghiệp.
Kết quả sản xuất khoai tây tại các hộ là khá cao: đối với quy mô lớn bình
quân 1 ha sản xuất đem lại giá trị sản xuất là 5600 nghìn đồng, chi phí trung
gian bình quân là 1296,4 nghìn đồng, giá trị tăng thêm là 4303,6 nghìn đồng, thu
nhập hỗn hợp bình quân là 4153,6 nghìn đồng. Đối với quy mô trung bình bình
quân 1 sào sản xuất đem lại giá trị sản xuất là 5480 nghìn đồng, chi phí trung
gian bình quân là 1220,4 nghìn đồng, giá trị tăng thêm là 4259,6 nghìn đồng, thu
nhập hỗn hợp bình quân là 4109,6 nghìn đồng. Đối với quy mô nhỏ bình quân 1
sào sản xuất đem lại giá trị sản xuất là 5424 nghìn đồng, chi phí trung gian bình
quân là 1165,3 nghìn đồng, giá trị tăng thêm là 4258,7 nghìn đồng thu nhập hỗn
hợp bình quân là 4258,7 nghìn đồng.
Các giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả sản xuất cây khoai
tây tại xã Mỹ Hương.
• Giải pháp về khoa học kỹ thuật
5. CNH-HĐH : Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
6. LĐ : Lao động
7. TB : Trung bình
8. HTX : Hợp tác xã
9. CN : Công nghiệp
10. TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
11. XD : Xây dựng
12. UBND : Ủy ban nhân dân
13. QML : Quy mô lớn
14. QMTB : Quy mô trung bình
15. QMN : Quy mô nhỏ
7
7
8
8
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia thành
bốn mùa rõ rệt rất thích hợp cho cây lương thực. Lương thực giữ một vai trò rất
quan trọng trong đời sống của con người. Trên 75% năng lượng hàng ngày của
cơ thể là do lương thực cung cấp. Khoai tây chính là một trong những loại lương
thực quan trọng và là loại cây trồng phổ biến thứ tư về mặt sản lượng tươi - xếp
sau lúa, lúa mì và ngô. Loại cây này được người Pháp mang đến Việt Nam hơn
100 năm trước đây (1890). ( />Cây khoai tây là một trong những loại cây trồng quen thuộc với diện tích
22,45 ha tương đương với sản lượng là 364,62 tấn năm 2014 của xã Mỹ Hương,
có vai trò kinh tế quan trọng trong sản xuất của người dân, sản xuất cây khoai
cây trong vụ đông có vai trò quan trọng trong luân canh cây trồng, qua đó người
nông dân còn tận dụng được nguồn đất đai, phân bón từ hoạt động chăn nuôi và
xã và để trả lời cho câu hỏi thực trạng sản xuất khoai tây diễn ra như thế nào?
Giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất khoai tây trong giai đoạn hiện
nay? Tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “Phát triển sản xuất khoai tây ở các
hộ nông dân tại địa bàn xã Mỹ Hương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao thu nhập và phát triển sản xuất khoai tây của các hộ nông dân tại xã
Mỹ Hương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất nông nghiệp.
10
10
- Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất khoai tây ở các hộ nông dân tại xã
Mỹ Hương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất khoai tây ở các hộ
nông dân tại xã Mỹ Hương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuât khoai tây tại xã Mỹ Hương,
huyện Lương Tài. tỉnh Bắc Ninh.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình sản xuất khoai tây nói chung. Nghiên cứu tình hình sản xuất,
tiêu thụ và hiệu quả kinh tế của khoai tây tại xã Mỹ Hương, huyện Lương
Tài, tỉnh Bắc Ninh.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung
• Tập trung nghiên cứu các vấn đề thực tiễn về hiệu quả kinh tế - kỹ thuật.
• Tổ chức quản lý trong sản xuất khoai tây với chủ thể là các hộ sản xuất khoai
tây.
• Những đối tượng tham gia bảo quản, tiêu thụ khoai tây trên địa bàn xã.
cho dù sản xuất theo mục đích nào thì người sản xuất cũng phải trả lời được ba
câu hỏi cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?
Tóm lại sản xuất là quá trình tác động của con người vào các đối tượng
sản xuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
12
12
phục vụ đời sống con người.( PGS, TS. Nguyễn Văn Thông (Tổng chủ biên).
2010).
2.1.1.2. Phát triển sản xuất
Phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con người
vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy mô về số
lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời
sống ngày càng cao của con người.
Phát triển sản xuất chính là một quá trình tăng tiến về quy mô (sản lượng)
và hoàn thiện về cơ cấu. Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái
sản xuất mở rộng, trong đó quy mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước
trên cơ sở thị trường chấp nhận. Phát triển sản xuất có thể diễn ra theo hai xu
hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu.
PTSX theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện
tích tăng trồng với cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho PTSX không đổi, sử dụng
kỹ thuật giản đơn. Kết quả PTSX đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng
diện tích và độ phì của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên. PTSX theo
chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trong cả vùng, có thể bao gồm tăng số hộ
dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân hoặc cả hai.
PTSX theo chiều sâu là giá trị, vốn đầu vào không đổi, áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều
kiện sản xuất thực tế. Như vậy PTSX theo chiều sâu là làm tăng khối lượng, chất
lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích trên một mùa vụ
hay một thời gian nhất định bằng cách đầu tư thêm giống, vốn, kỹ thuật và lao
động.
tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản, tài nguyên rừng, biển và tài
nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng trong quá trình phát triển
sản xuất.
14
14
+ Khoa học và công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm. Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong
sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và
tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã hội
và đó là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình phát triển sản xuất.
+ Ngoài ra còn một số yếu tố khác: Các hình thức tổ chức sản xuất, mối
quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, giữa các thành phần
kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm, các
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến phát triển sản
xuất… cũng có quyết định đến quá trình phát triển sản xuất.
2.1.2. Giới thiệu về cây khoai tây
Khoai tây (Solanum tuberosum) của họ Solanaceae (họ cà dược) là một
trong những loại rau củ được sử dụng rộng rãi nhất ở vùng khí hậu ôn đới
phương Tây. Cây khoai tây xuất hiện trên trái đất trong khoảng 500 năm trước
công nguyên. Các nhà thám hiểm Tây Ban Nha là những người mang khoai tây
từ Peru vào Tây Ban Nha từ thế kỷ 16. Từ đó nó được phổ biến rộng khắp châu
Âu. Nó được cư dân châu Âu mang đến Bắc Mỹ vào những năm 1600. Tức là,
cũng giống như cà chua, khoai tây là loại thức ăn được tái “định cư” vào châu
Mỹ. Thời kỳ đầu, khoai tây được thu hoạch với khối lượng lớn ở quần đảo Anh.
Nó trở thành thức ăn chính ở Ireland trong thế kỷ 18 và do đó được gọi là khoai
tây Ireland để phân biệt với khoai lang. Ireland cũng phụ thuộc vào khoai tây
nhiều đến nỗi vụ thất thu (do bệnh tàn rụi của cây cối) vào những năm 1845-
1846 dẫn đến bệnh dịch, tử vong và di cư lan rộng. Khoai tây cũng đóng vai trò
quan trọng trong lịch sử thế kỷ 20 ở châu Âu, đặc biệt là ở Đức. Nó đã giúp cho
nước Đức sống sót trong suốt hai cuộc thế chiến.Với hàm lượng carbohydrate
- Đặc điểm: Cây khoai tây là cây lưu niên thân thảo phát triển khoảng
60 cm chiều cao, cây chết sau khi ra hoa. Khoai tây là cây nông nghiệp ngắn
ngày, trồng lấy củ chứa tinh bột, là loại cây trồng lấy củ rộng rãi nhất thế giới và
16
16
là loại cây phổ biến thứ tư về mặt sản lượng tươi (sau lúa, lúa mì và ngô). Đời
sống của cây khoai tây có thể chia thành 4 thời kì: ngủ, nẩy mầm, hình thành
thân của và thân củ phát triển. Rễ khoai tây phân bố chủ yếu ở tầng đất sâu
30cm.Thân cây khoai tây là loại thân bò, có giống có thân đứng. Thân dài 50-60
cm. Trên thân có thể mọc các nhánh. Lá kép gồm 1 số đôi lá chét, thường là 3-4
đôi. Hoa màu trắng, phớt tím, có 5-7 cánh hoa lưỡng tính, tự thụ phấn. Củ khoai
tây tròn hoặc hơi dẹt, nhỏ, màu xanh nhạt hay tím. Cây con sau khi mọc khỏi
mặt đất 7-10 ngày thì trên các đốt đoạn thân, nằm trong đất xuất hiện những
nhánh con. Đó là những đoạn thân địa sinh. Các thân địa sinh này phát triển
được dồn về tập trung ở đầu mút, ở đây thân phình to dần lên và phát triển thành
củ, trên thân củ có nhiều mắt.
- Phân loại: Có khoảng 5.000 giống khoai tây trên toàn Thế giới. Trong
đó ba ngàn giống khoai tây được tìm thấy chỉ ở riêng Andes, chủ yếu ở Peru,
Bolivia, Ecuador, Chile và Colombia. Ngoài 5.000 giống trồng, còn có khoảng
200 giống hoang dã, trong đó có thể có giống đã qua nhân giống với các giống
được trồng. Việc này diễn ra liên tục giúp chuyển gen kháng sâu bệnh giữa
khoai tây hoang dã với khoai tây trồng.
Các loài chính phát triển trên Thế giới là Solanum tuberosum (thể tứ bội với
48 nhiễm sắc thể), các giống hiện đại của loài này được trồng rộng rãi nhất.
Ngoài ra còn có bốn loài lưỡng bội (24 nhiễm sắc thể) là S.stenotomum, S.phureja,
S.goniocalyx và S.ajanhuiri. Có hai loài tam bội (36 nhiễm sắc thể) là S.chaucha
và S.juzwpczukii.
Trung tâm khoai tây quốc tế, có trụ sở ở Lima, Peru, nắm giữ một bộ sưu
tập tiêu chuẩn ISO giống khoai tây.
- Giá trị dinh dưỡng: Khoai tây có chứa các vitamin, khoáng chất và
Kcal/100g Năng suất
(Kcal*ngày/ha)
Tỷ lệ Protein
(%)
Năng suất
Protein
(kg/ngày/ha)
Khoai tây 90,82 48,64 2,0 1,1
Sắn 185,87 45,12 0,7 0,2
Khoai lang 138,30 48,93 1,5 0,5
Đậu tương 400,24 11,72 22,0 0,6
Lúa 420,90 35,10 7,0 0,6
Ngô 138,91 38,97 9.5 0,8
Nguồn: P. Vander Zaag, 1976
- Sâu bệnh:
Để hạn chế thiệt hại do sâu bệnh ở mức thấp nhất việc cung ứng khoai tây
sạch bệnh phải được coi trọng hàng đầu. Ở châu Âu, Pháp, Hà Lan đang áp dụng
phương pháp chọn lọc dòng và xây dựng hệ thống sản xuất giống từ in-vitro.
Cuba áp dụng phương pháp chọn lọc quần thể, Hàn Quốc, áp dụng phương pháp
in-vitro và công nghệ thuỷ canh. Ở Việt Nam Viện Công nghệ sinh học nông
nghiệp, trường Đại học Nông Nghiệp I mới xây dựng hệ thống sản xuất giống
khoai tây sạch bệnh từ sản xuất cây in-vitro đến sản xuất giống xác nhận. Một
trong những điều kiện quan trọng để sản xuất ra củ giống sạch bệnh là phải tìm
ra vùng cách ly với nguồn bệnh cũng như môi giới truyền bệnh. Nhân các giống
mới trong điều kiện không có vùng cách ly đã làm lô giống bị nhiễm bệnh và
thoái hóa nhanh chóng. Để tạo ra vùng cách ly, nhiều nước đã thành lập các
Trung tâm nhân giống tại các vùng cách xa khu vực trồng khoai hàng chục km.
Đối với hệ thống nhân giống đơn giản một số tác giả cho rằng vùng cách ly ít
nhất là 100m và tốt nhất là 2000m. Ở Việt Nam, giai đoạn 1985 – 1989 sản xuất
khoai tây giống sạch bệnh bằng phương pháp chọn lọc vệ sinh trên vùng cách ly
Kenthan hoặc Danitol. Đối với bọ trĩ sử dụng Bassa, Trebon phun từ 1 – 2 lần,
mỗi lần cách nhau 5 ngày, phun đồng loạt cả cây trồng khác.
20
20
Bệnh Phytophthora infestans (bệnh giá sương mai) vẫn tàn phá nặng ngành
công nghiệp khoai tây ở châu Âu và Hoa Kỳ. Một số bệnh khoai tây khác như
Rhizoctonia, Sclerotinia, chân đen, nấm mốc bột, vảy bột, virus leafroll và đầu
màu tím.
Côn trùng thường là nguyên nhân truyền bệnh khoai tây và trực tiếp phá hoại
thân cây như bọ khoai tây Colorado, sâu bướm khoai tây, đào rệp xanh, rệp
khoai tây, bọ trĩ, bọ ve. Tuyến rễ khoai tây có một loài vi trùng phát triển mạnh
làm héo cây, loài này có thể tồn tại trong đất nhiều năm, nên việc trồng luân
canh được khuyến khích.
2.1.4. Vai trò của sản xuất khoai tây trong nền kinh tế
Khoai tây là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế khá cao
thích ứng với nhiều vùng sinh thái nên được trồng ở rất nhiều quốc gia trên thế
giới. Những công trình nghiên cứu trên chỉ rõ rằng khoai tây có tiềm năng năng
suất cao tuy nhiên sự chênh lệch giữa năng suất tiềm năng với năng suất thực tế
cũng như chênh lệch về năng suất giữa các vùng, giữa các vụ…là khá lớn vì nó
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, điều kiện khí hậu, đất đai, dinh dưỡng,
biện pháp kỹ thuật…Để trồng khoai tây đạt hiệu quả kinh tế cao thì mỗi vùng
sinh thái cần nghiên cứu để tìm ra bộ giống tốt và biện pháp canh tác phù hợp. Ở
Việt Nam, khoai tây đã được trồng từ lâu, hiện nay khoai tây đã trở thành cây vụ
Đông chủ lực ở nhiều vùng. Do điều kiện thời tiết khí hậu ít thuận lợi nên năng
suất khoai tây ở nước ta còn thấp hơn rất nhiều so năng suất bình quân của thế
giới, đặc biệt là các nước châu Âu, vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu
nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất khoai tây. Tuy nhiên các công
trình nghiên cứu về khoai tây ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng
Khoai tây đã và đang khẳng định được vai trò của nó trong việc nâng cao đời
sống của nhân dân, nhưng tốc độ mở rộng diện tích còn chậm do nhiều nguyên
thuật cần phải hoàn chỉnh.(Nguyễn Thị Thương, 2013).
- Bao bì tự hủy từ khoai tây:
22
22
Một loại bao bì mới với chất liệu từ bột khoai tây đang được một nhà máy
nhỏ tại Ambrumesnil (Pháp) sản xuất. Loại bao bì này có thể tự hủy trong vòng
từ 5-6 tháng sau khi sử dụng xong. Để sản xuất ra loại bao bì đặc biệt này công
nhân cho các hạt khoai tây thay vì hạt nhựa vào máy ép. Sau đó chế phẩm được
đi qua nhiều công đoạn xử lý trước khi thành những bao bì đựng rác hay đông
lạnh trông giống hệt các loại bao bì nhựa nhưng với chất liệu mịn hơn. Theo anh
Renault - Giám đốc Công ty Plastiqueset Tissages de Luneray, sản xuất ra lạibao
bì đặc biệt này - thì bao bì “sinh học” hầu như chỉ có thuận lợi. “Chúng giúp tiết
kiệm về năng lượng vì chỉ được đun nóng đến 140 độ C thay vì 180 độ C, ít tốn
nguyên liệu, bền hơn nhờ độ đặc của bột khoai tây. Chúng tạo thị trường tiêu thụ
mới cho người nông dân và tự hủy trong vòng 5 hay 6 tháng thay vì 400 năm
như ở các loại bao bì nhựa”. Tuy nhiên, có một tiêu chuẩn mà bao bì làm từ
khoai tây hiện nay không thể cạnh tranh với bao bì nhựa là giá cả mắc gấp đôi.
Tuy nhiên theo anh Renault, khuyết điểm này sẽ được giải quyết nhanh. “Giá
của bao bì nhựa sẽ tăng theo giá dầu, trong khi bao bì làm từ khoai tây sẽ hạ giá
khi sản lượng tăng”. (Nguyễn Thị Thương, 2013).
* Tác dụng về dược phẩm
- Chữa đau và viêm dạ dày: Củ khoai tây mới thu hoạch rửa sạch, gọt vỏ, lấy 100
g, ép kiệt lấy nước uống trước bữa ăn nửa giờ. Ngày 2-3 lần.
- Thuốc nhuận tràng: Khoai tây luộc chín, ăn 100g hoặc hơn. Có thể phối hợp với
bài thuốc chữa đau viêm dạ dày ở trên.
- Chữa đau bụng: Vỏ củ khoai tây sống rửa sạch (10-20g) sắc nước uống.
- Chữa say nắng, nhức đầu, sốt: Củ khoai tây gọt vỏ, giã nát hoặc thái lát mỏng,
đặt lên trán hoặc thái dương.+ Chữa bỏng nhẹ, vết thương, eczema: Củ khoai tây
rửa sạch, để cả vỏ hoặc gọt vỏ, thái lát mỏng, dán lên vết th ương hoặc giã nát
đắp bỏng. Nếu bỏng nhẹ, có thể bóc lấy vỏ từ củ khoai tây đã luộc, giã nát rồi
- Dung dịch thay xà phòng để rửa mặt: Đối với loại da mặt rất nhạy cảm không
chịu được tác dụng của xà phòng, có thể dùng nước rửa mặt bằng dung dịch bao
24
24
gồm tinh bột khoai tây hòa lẫn với nước sạch theo tỷ lệ một thìa cà phê tinh bột
khoai tây hòa với một thìa canh nước sạch. Sau đó bỏ thêm một ít nước sôi và
khuấy đều thật nhanh. Khối lượng dung dịch đó pha loãng với một lít nước ấm.
- Gạc thẩm mỹ Thụy Điển: Củ khoai tây luộc chín, bóc vỏ, nghiền nát, cho thêm
1- 2 thìa con sữa nóng và một lòng đỏ trứng gà trộn đều. Dùng hỗn hợp đóxoa
lên mặt một lớp mỏng và phủ kín bằng khăn mặt ấm. Sau 20 phút rửa sạch làm
cho da mịn, tươi mát, và có độ căng đàn hồi như lúc trẻ trung.
- Gạc thẩm mỹ Ấn Độ: Dùng mật ong, sữa, tinh bột khoai tây, muối, mỗi thứ một
thìa cà phê trộn đều với nhau thành một dung dịch nhuyễn. Lấy gạc mỏng tẩm
dung dịch và đắp lên mặt theo lớp cho tới khi hết cả lượng dung dịch đó.
(Nguyễn Thị Thương, 2013).
2.1.5. Nội dung của phát triển sản xuất khoai tây
Phát triển sản xuất (PTSX) khoai tây có thể diễn ra theo hai xu hướng là
phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu.
PTSX khoai tây theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng khoai bằng cách
mở rộng diện tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ PTSX không
đổi, sử dụng kỹ thuật giản đơn, kết quả PTSX khoai tây theo chiều rộng chủ yếu
nhờ tăng diện tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện tự
nhiên.
PTSX khoai tây theo chiều rộng bao gồm việc mở rộng diện tích khoai tây
trong cả vùng, có thể bao gồm việc tăng số hộ trồng khoai hoặc tăng quy mô
diện tích trồng khoai tây của mỗi hộ nông dân, hoặc cả hai.
PTSX khoai tây theo chiều sâu bao gồm đầu tư nhằm nâng cao năng suất
lao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất, ứng dụng khoa học
kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng PTSX khoai tây phù hợp với
điều kiện sản xuất thực tế. Như vậy PTSX khoai tây theo chiều sâu là làm tăng