PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta có hệ thống sông, kênh rất lớn bao gồm 2.300 con sông, kênh lớn
nhỏ, với chiều dài tổng số khoảng 198.000km (). Mạng
lưới 112 cửa sông, lạch và 12 đầm phá, eo vịnh đã tạo ra hàng vạn hecta mặt
nước ao hồ, đầm, hàng trăm con sông lớn nhỏ, đó là điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển nuôi trồng thủy sản quanh năm. Trong những năm gần đây ngành thủy
sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia. Ngành thủy sản có
tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác. Tỷ trọng GDP của
ngành thủy sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên
3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003, chiếm 21% trong nông – lâm ngư nghiệp và tới nay chiếm hơn 4% GDP trong nền kinh tế quốc dân
(). Tỷ trọng ngành năm 2008 tăng 5,44% so với năm
2007. Theo “Chương trình phát triển xuất khẩu thủy sản tới năm 2010 và tầm
nhìn 2020”, ngành thủy sản phấn đấu năm 2010, sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu
khoảng 4 tỷ USD và đến năm 2020 sẽ đạt từ 4,5 đến 5 tỷ USD. Nuôi trồng thủy
sản ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong vùng
châu thổ sông Hồng, mật độ lưới sông khá cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km², có 3
hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình.
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ
huyện Khê, sông Dân, sông Đông Côi, sông Bùi, sông Đồng Khởi, sông Đại
Quảng Bình... Với hệ thống sông ngòi dày đặc này, Bắc Ninh có lợi thế vô cùng
lớn trong việc nuôi trồng thủy sản. Năm 1995 toàn tỉnh có 2,9 nghìn ha mặt nước
nuôi trồng thủy sản, đến 2005 tăng lên 4,6 nghìn ha và đến năm 2008 là 5,2
1
nghìn ha (). Với tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản
như vậy là cơ hội cho nghề sản xuất cá giống của tỉnh phát triển. Trên địa bàn
sản xuất cá giống nói riêng.
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất cá giống ở xã Mão Điền.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng, những thuận lợi và khó khăn của hộ
nông dân sản xuất cá giống trên địa bàn xã.
- Đề ra các giải pháp nhằm phát triển xuất cá giống một cách bền vững và
hiệu quả trong thời gian tới của các hộ nông dân xã Mão Điền.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu chính là các hộ nông dân sản xuất cá giống trên địa
bàn xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và các đối tượng có liên
quan đến sản xuất và tiêu thụ cá giống.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung:
Đề tài nghiên cứu tình hình sản xuất cá giống của các hộ nông dân, phân
tích các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất cá giống của hộ nông dân, từ đó
đề ra một số giải pháp giúp các hộ nông dân đưa ra những quyết định hợp lý
nhằm phát triển sản xuất cá giống bền vững và hiệu quả trong thời gian tới.
- Không gian:
Đề tài nghiên cứu chủ yếu trong phạm vi xã Mão Điền, huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Thời gian:
Đề tài sử dụng số liệu được thu thập từ năm 2007 đến 2009.
Đề tài được thực hiện từ tháng 1/2010 đến 5/2010.
3
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử
dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất thường nằm trong hệ thống
kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị
trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Nhà khoa học Traianốp cho rằng “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn
định” và ông coi “hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển
nông nghiệp”. Luận điểm của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách
nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển.
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo Lê
Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức
kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt
động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Từ các khái niệm trên về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức cá
nhân, tôi cho rằng:
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính
là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài hoạt
động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như
tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ...) ở các mức độ khác nhau.
5
2.1.1.3 Kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã
hội. Trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất
được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một
nhà và ăn chung. Mọi quyết định trong sản xuât kinh doanh và đời sống là tùy
thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển.
thác cạn kiệt nên phát triển còn đi đôi với khái niệm phát triển bền vững, đã hình
thành hai khái niệm phổ biến về phát triển kinh tế và phát triển bền vững như sau:
- Phát triển kinh tế: Là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt
của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về
quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
- Phát triển bền vững: Tổ chức nông lương thế giới (F.A.O 1991) đưa ra
khi đề cập đến lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp có thể được xem như tổng hợp
các quan niệm phát triển bền vững.
Phát triển bền vững trong nông – lâm nghiệp là những hình thức phát triển
mà đất đai nguồn nước, động thực vật hoang dại được bảo vệ, môi trường không
bị suy thoái, kỹ thuật canh tác phù hợp, kinh tế phát triển đi lên và ngày càng ổn
định.
2.1.3 Nuôi trồng thủy sản
2.1.3.1 Khái niệm về nuôi trồng thủy sản
Thuật ngữ "nuôi trồng thuỷ sản" được sử dụng tương đối rộng rãi để chỉ
tất cả các hình thức nuôi trồng động thực vật thuỷ sinh ở các môi trường nước
ngọt, lợ và mặn.
* Theo định nghĩa của FAO (1992), NTTS là các hoạt động canh tác trên
đối tượng sinh vật thủy sinh như cá, nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thủy sinh…
7
Quá trình này bắt đầu từ thả cá giống, chăm sóc, nuôi lớn cho tới khi thu hoạch
xong. Có thể nuôi theo từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức quảng
canh, bán thâm canh, thâm canh.
* Nuôi trồng thuỷ sản là tác động của con người vào ít nhất một giai đoạn
trong chu kỳ sinh trưởng, phát triển của đối tượng nuôi trồng nhằm tăng tỷ lệ
sống, tốc độ sinh trưởng cho chúng nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất
trong thời gian ngắn nhất. (Võ Quý Hoan, 2000)
của nó. Hoạt động sống của nó nhờ vào các dinh dưỡng lấy từ động thực vật và
các khí CO2, O2 hòa tan trong nước. Các đối tượng này có đặc tính sinh thái khác
nhau, thích hợp với các tầng, mức nước khác nhau.
- Sản phẩm của ngành NTTS có tính khó bảo quản, dễ hư cao do chúng có
hàm lượng nước lớn và hàm lượng dinh dưỡng cao, đó là môi trường thuận lợi
cho các vi khuẩn xâm nhập và phá huỷ sản phẩm. Do đó đi đôi với việc phân bổ
phát triển nuôi trồng thuỷ sản phải giải quyết tốt khâu tiêu thụ, bảo quản và chế
biến sản phẩm thuỷ sản.
2.1.4 Sản xuất cá giống
2.1.4.1 Khái niệm về cá giống
Giống là một sản phẩm được lựa chọn kỹ một cách có định hướng, giống
mang trong nó tiềm năng của cả bố và mẹ. Bộ nhiễm sắc thể của mỗi cá thể là
2n; trong đó cá thể bố đóng góp 1n và nửa kia là của cá thể mẹ. Những đặc tính
tốt, được chọn lọc của cả bố và mẹ được di truyền lại cho thế hệ sau thông qua
các gen của bộ nhiễm sắc thể này.
Giống vật nuôi thủy sản: Không như chim và thú; khi mới nở (hay đẻ) ra
được gọi là giống và được đem canh tác nuôi lấy thương phẩm được ngay. Cá,
tôm, cua, ngao, sò… sau khi nở, phải qua nhiều quá trình biến thái mới được gọi
là “giống”.
9
Đối với cá, trong sản xuất để phân biệt thế nào là cá bột, cá hương, cá
giống (của nhiều loài cá), người ta đã dựa vào: Qui cỡ và thời gian ương nuôi để
gọi tên:
+ Cá bột: Thân dài 0,8 - 1cm. Cá nở sau 3 - 5 ngày tuổi, có thể đem ương
nuôi được.
+ Cá hương: Thân dài 2,5 - 3cm. Thời gian ương nuôi từ 21 - 25 ngày.
+ Cá giống: Thân dài 5 - 6cm. Thời gian ương nuôi từ 55 - 60 ngày (cá
– yolk), giai đoạn cuối phôi của thời kỳ này cá có nhận thêm thức ăn từ môi
trường nhưng vẫn còn dinh dưỡng bằng noãn hoàng.
* Thời kỳ cá hương
Là thời kỳ cá dinh dưỡng hoàn toàn bằng thức ăn bên ngoài, lấy từ môi
trường, cá đạt kích thước 2 – 3cm sau 20 – 30 ngày tuổi (tùy theo loài và điều
kiện dinh dưỡng), cơ thể dần dần hoàn thiện các bộ phận như vây, vẩy…
* Thời kỳ cá giống
Là thời kỳ cá bắt đầu chuyển sang ăn thức ăn như cá trưởng thành (về mặt
khoa học, thời kỳ này kéo dài đến khi cá đẻ lứa đầu): cá mè trắng ăn tảo phù du,
mè hoa ăn động vật phù du, cá chép ăn sinh vật đáy,… Lúc này cơ thể cá hoàn
thiện như cá trưởng thành (trừ tuyến sinh dục chưa phát triển), kích thước cơ thể
từ 3 cm trở lên. Trong thời kỳ cá giống, người ta còn chia thành cá giống cấp 1,
cấp 2, cấp 3… tùy theo độ lớn: 4 – 6cm, 6 – 8cm, 8 – 10cm, 10 – 12cm…, cách
chia này không có quan hệ gì đến đặc điểm sinh lý, sinh thái của cá mà chỉ có ý
nghĩa thương mại.
b. Đặc điểm giai đoạn cá hương
So với cá trưởng thành, ở giai đoạn cá bột lên cá hương cá sự biến đổi rất
lớn, các thay đổi này diễn ra một cách từ từ, không phân biệt được rõ ràng các
giai đoạn khác nhau. Trong một vài trường hợp có sự biến đổi đột ngột.
11
* Về cấu tạo
Ở giai đoạn cá bột: cơ thể có cấu tạo đơn giản, một số cơ quan chưa hoàn
thiện, ruột là một ống thẳng ngắn hơn thân, miệng lúc đầu bất động, sau đó mới
nhô ra và bắt đầu cử động bắt mồi, vây lúc đầu là nếp, sau đó mới hình thành tia
vây và vây, bóng hơi mới là nếp gấp lép, về sau mới nạp khí, cá vận động yếu,
lẩn tránh kẻ thù kém, chưa đủ sức chịu đựng với những biến động của môi
trường. Nếu môi trường không phù hợp, tỷ lệ chết sẽ cao.
6,25
21
3,36 lần
8,64
39,3
4,55 lần
9,61
26,6
2,77 lần
2,8
187
66,78 lần
3,18
521
163,8 lần
4,9
409,6
100 lần
Nguồn: Đỗ Đoàn Hiệp, 2009
2.1.4.2.2 Kỹ thuật ương cá
12
trang (san bằng) đáy ao, phơi đáy ao 7 – 10 ngày. Khi đáy ao có hiện tượng “nẻ
chân chim”, mới tháo nước vào ao.
* Thả cả
Khi ao đã đủ nước mới thả cả xuống ao, cố gắng thả một lần cho đủ số cá
cần ương trong ao để cho cá được lớn đều. Nên thả cá vào buổi sáng hoặc chiều
mát, không được thả cá lúc sắp mưa hoặc đang mưa to. Trước khi thả hết cá ra
ao, nên có động tác “thả cá thử nước” (tức là thả một số cá thể thăm dò xem chất
lượng nước có vấn đề gì không). Cách làm như sau: Lấy xô hoặc chậu, cho vào
5 – 7 lít nước ao, thả vào 10 – 15 con cá, quan sát hoạt động của cá, sau 15 – 20
phút, nếu thấy cá hoạt động bình thường, mới thả hết cá ra ao. Trong trường hợp
cá có những biểu hiện bất thường, phải tìm hiểu, xử lý, “thả cá thử nước lại”, cho
đến khi thấy bình thường. Khi vận chuyển cá đến ao, cần cho cá làm quen với
nước ao và cân bằng nhiệt giữa ao nuôi và túi chở cá bằng cách cho một ít nước
ao vào dụng cụ chứa cá, sau đó tiếp tục cho nước ao từ từ vào đầy dụng cụ chứa
cá và để cá tự bơi ra ao. Tùy theo nguồn thức ăn và trình độ kỹ thuật nuôi cá để
quyết định mật độ cá thả cho phù hợp, theo kinh nghiệm đã được tổng kết: chỉ
nên thả trong khoảng giới hạn như bảng sau:
Bảng 2.2 Tỷ lệ (%) nuôi ghép các loài cá trong ao
Loài cá ghép
Loài cá chính
Trôi Ấn là chính
Rô phi là chính
Trắm cỏ là chính
Mè trắng là chính
Trôi
Mè
10
10
10
5
10
50
30
5
cỏ
5
5
5
7
5
5
10
3
Nguồn: Đỗ Đoàn Hiệp, 2009
* Chăm sóc và quản lý ao ương cá bột thành cá hương
- Chăm sóc:
14
Sau khi thả cá xuống ao phải cho cá ăn ngay. Nếu cá đói, cá bị lớn chậm lại,
+ Hằng ngày phải thăm ao vào sáng sớm để theo dõi dinh dưỡng của ao
thông qua màu nước ao và quan sát hoạt động của cá để xử lý kịp thời khi thời
tiếp thay đổi.
+ Nếu cá nổi đầu nhiều: Khi mặt trời đã lên cao (8 – 9 giờ sáng) cá vẫn
chưa lặn. Màu nước xanh đậm (lá bàng già) là ao đặc quá (nước béo quá, phú
dưỡng), cần phải thêm nước mới, ngừng bón phân, vớt hết lá dầm lên bờ.
+ Cá bơi sục sạo ven bờ, nước nhạt màu chứng tỏ cá đói. Cần tăng thêm
phân bón, thức ăn.
+ Trong 5 ngày đầu cần kiểm tra tích cực; loại trừ trứng ếch, nhái: buổi
sáng đi sát mép nước thấy ổ trứng ếch, nhái nổi hoặc chìm lơ lửng dưới mặt
nước, bám vào cây cỏ, dùng vợt hoặc xô, chậu để vớt bỏ. Đề phòng và diệt trừ
các loại dịch hại như rắn nước, chim,… Nếu trong ao có bọ gạo (notonecta), phải
diệt trừ bằng hỏa hoặc dầu diezen: Buổi tối sử dụng ống nhựa (cứng, mềm), cây
tre, nứa,… khoanh thành khung trong hoặc chữ nhật, diện tích 1 – 2 m 2 nổi trên
mặt nước. Đặt khung xuống ao phía cuối gió. Treo nguồn sáng (đèn dầu hoặc
bóng điện) vào giữa khung. Đổ một lượng dầu nhỏ vào khung, sao cho váng dầu
vừa loang đều toàn bộ diện tích khung. Bọ gạo sẽ tập trung quanh vùng sáng, khi
ngoi lên để thở sẽ dính dầu và chết, mỗi vị trí đánh chừng 10 phút rồi rê khung
đến vị trí khác, chỗ tiếp giáp chờm lên nhau 40 – 50cm. Làm như vậy một vài
đêm có thể diệt hết bọ gạo.
+ Thường xuyên kiểm tra bờ, đăng, cống, nếu hỏng và rò rỉ phải tu bổ
hoặc sửa chữa kịp thời. Thêm nước 15 – 20cm/1 tuần để tăng kích thước nước và
kích thích cá tăng trưởng.
16
+ 7 ngày sau khi thả cá “quấy dẻo” (đùa ao) lần đầu: dùng trâu cho lội qua
ao, người lội xuống, dùng dây thừng, buộc các vật nặng, kéo dọc theo hai bờ ao;
sau đó 4 – 5 ngày quấy dẻo một lần. Quấy dẻo có tác dụng đảo lộn nước, tăng độ
Cá chép
15 – 20
10 – 15
10 – 15
10 – 15
0,1 – 0,2
1-2
1-2
Nguồn: Đỗ Đoàn Hiệp, 2009
Bảng 2.4 Liều lượng thức ăn cho quá trình ương cá bột thành cá hương
Thời gian
Tuần lễ thứ nhất
Tuần lễ thứ hai
Tuần lễ thứ ba
Tuần lễ thứ tư
Tuần lễ thứ năm
Tuần lễ thứ sáu
Tuần lễ thứ bảy
Lượng thức ăn mỗi ngày (kg/1 vạn cá)
Cá mè, trôi Ấn
Cá trắm cỏ
Cá chép
Độ
0,5 – 1,0
1,0 – 2,0
2,0 – 3,0
3,0 – 4,0
4,0 – 5,0
18
hương là tốt nhất. Nếu không có điều kiện, từ ngày thứ 8 trở đi, có thể hòa loãng
thức ăn sống té đều xung quanh ao, càng xa càng tốt,…
+ Phân chuồng đã ủ hoai hòa tan với nước, té đều xung quanh ao.
+ Lá dầm bó thành từng bó 5 – 7kg/bó, dìm ven bờ ao, từ 5 – 7 bày trở bó
1 lần. Khi thân non, lá cây thối rữa hết thì vớt xác bỏ đi.
+ Có thể bón phân vô cơ cho ao ương cá bột lên cá hương: Đạm urê 220g
+ lân (Văn Điển) 330g/1000m2, 3 – 4 ngày/1 lần; bón vào sáng sớm ngày nắng.
Đạm hoặc lân được hòa tan trong nước (trong dụng cụ bằng nhựa, không trộn lẫn
hai thứ với nhau), sau đó té xung quanh ao, càng xa bờ càng tốt.
+ Một số công thức bón phân:
• Phân hữu cơ 100kg (phân bò khô) + 2kg N + 0,1kg P/ha/lần (bón 1 lần/tuần),
Marnop Chaengkij, 1989.
• Theo Michael B. New, 1987: Có 3 công thức
Tỷ lệ 12/24/12 (12%N + 24%P2O5 + 12%K2O);
Tỷ lệ 16/22/0 (16%N + 20%P2O5);
Tỷ lệ 45/0/0 (45%N).
• Theo Đỗ Đoàn Hiệp, 1995: Vôi bột 1,4kg + 0,44kg urê + 0,66kg lân (Văn
Điển)/1000m2/tuần, chia làm 2 lần. Để hàm lượng N/P trong ao ổn định ở
1/0,5ppm; vôi bón 1 lần/tuần, giữ cho pH của nước dao động từ 8,5 – 9,5.
* Phòng, trừ dịch hại và kiểm tra định kỳ cá
Trong thời gian ương cá giống, hàng ngày phải theo dõi hoạt động của cá,
diễn biến của màu nước ao, vớt trứng cóc, ếch, nhái và nòng nọc của chúng. Cứ
15 ngày kiểm tra cá một lần để theo dõi sinh trưởng và tình trạng sức khỏe của
cá: Dùng vó kéo lấy chừng 30 con, quan sát tình trạng bệnh tật, đo chiều dài của
cá. Nên hình thành thói quen ghi chép lại các số liệu này để tiện theo dõi, kịp
thời xử lý khi cần.
20
b. Ương cá hương thành cá giống
* Điều kiện ao ương, chuẩn bị ao ương, chăm sóc, quản lý (tương tự như
khi ương cá bột)
* Mật độ cá thả
Bảng 2.5 Mật độ thả cá hương để ương cá giống
Mật độ (con/m2)
25 – 35
20 – 30
30 – 35
20 – 25
10 - 15
Nguồn: Đỗ Đoàn Hiệp, 2009
Loài cá
Mè trắng
Mè hoa
Trôi Ấn, Mrigan
Trắm cỏ
Chép
* Bón phân
Để tăng thêm nguồn thức ăn tự nhiên trong ao, cần bón phân xuống ao
đúng định kỳ. Lượng phân bón tham khảo ở bảng sau đây.
Bảng 2.6 Lượng phân bón
Loại phân bón
Phân chuồng
Phân xanh
Trên 150g/con
3
Nguồn: Đỗ Đoàn Hiệp, 2009
Ghi chú: Thức ăn có hàm lượng đạm tổng số từ 20 – 30%, tạo thành nắm, cho
vào sàn ăn
Phân chuồng phải dùng phân đã ủ mục, đánh tơi, rải đều quanh ao.
* Phòng, trừ dịch hại và kiểm tra cá
Trong thời gian ương cá giống, hàng ngày phải theo dõi hoạt động của cá,
diễn biến màu nước ao, vớt trứng cóc, ếch, nhái và nòng nọc của chúng. Cứ 15
ngày kiểm tra cá 1 lần để theo dõi sinh trưởng và tình trạng sức khỏe của cá, mỗi
lần dùng vó kéo lấy chừng 30 con, quan sát tình trạng bệnh tật, đo chiều dài cá.
Nên hình thành thói quen ghi lại các số liệu này để tiện theo dõi, kịp thời xử lý
khi cần.
* Thu hoạch
Nên thu hoạch cá giống sau khi ương từ 1 – 2 tháng, khi cá đạt cấp 1: dài từ
4 – 6cm. Trước khi thu cá phải vớt cuộng phân xanh, làm vệ sinh xung quanh ao
và ngừng cho cá ăn từ 2 – 3 ngày, đồng thời phải luyện cá 3 – 4 ngày liền vào các
buổi sáng bằng cách sục bùn làm đục nước ao (quấy dẻo). Nên thu cá vào buổi
sáng hoặc buổi chiều (lúc nhiệt độ chưa cao), không nên thu cá lúc đang mưa hoặc
khi nhiệt độ nước quá 300C. Khi thu cá nên làm cạn bớt nước ao, dùng lưới kéo
hai, ba lần; sau đó làm cạn nước ao thu hết cá trong ao. Cá sau khi thu từ ao phải
được nhốt trong tráng hoặc trong bể có nước chảy liên tục cho đến khi cá thải hết
phân (từ 5 – 6 tiếng đến 1 ngày); sau đó mới có thể vận chuyển đi xa được.
* Ương ghép
Trong ao ương, có thể ương ghép một số loài cá với nhau (như mè + trắm,
chép; trôi Ấn + trắm chép). Chọn các loại cá ương ghép phải theo nguyên tắc:
không cạnh tranh thức ăn. Chỉ nên ương ghép khi mục tiêu ương cá để tự túc cá
23
+ Oxy (O2): Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá, thiếu
oxy cá sẽ bỏ ăn, chậm lớn. Oxy được tạo ra do tảo quang hợp nhờ vào ánh sáng
mặt trời giúp cho cá hô hấp, ban đêm tảo cũng hấp thu oxy để thực hiện quá trình
hô hấp vì vậy mà lượng oxy giảm thấp nhất là vào lúc sáng sớm. Hàm lượng oxy
trong nước thích hợp phải lớn hơn 4mg/l.
+ Tảo: Phát triển vừa phải sẽ duy trì chất lượng nước tốt, cung cấp nhiều oxy cho
ao và hấp thu bớt các khí độc. Nếu tảo phát triển quá mức sẽ làm cho pH tăng
cao vào ban ngày và thiếu oxy vào ban đêm. Vì vậy cần phải giữ cho mật độ tảo
ở mức thích hợp. Nước ao có màu xanh nhạt cho thấy ao có mật độ tảo thích
hợp. Nếu ao có màu xanh đậm nghĩa là do tảo phát triển quá mức vì giàu dinh
dưỡng. Lúc này cần thay nước ao, ngừng bón phân, giảm lượng thức ăn cho cá.
+ Ánh sáng: Giúp tảo quang hợp tạo oxy và hấp thu khí độc cho ao. Vì vậy khi
thiết kế ao nuôi cần chú ý độ che phủ mặt nước không quá 30% tổng diện tích
ao.
+ Màu nước: Màu nước là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng nước. Màu
nước tốt nhất là màu xanh đọt chuối trong đó chứa nhiều oxy, thức ăn tự nhiên
và ít khí độc. Nếu ao có màu xanh đậm do tảo phát triển mạnh sẽ thiếu oxy vào
ban đêm, thấy hiện tượng cá nổi đầu vào sáng sớm. Ao có màu bùn do trong
nước có nhiều hạt phù sa làm cá khó thở, bắt mồi kém. Để giảm lượng phù sa
cần bổ sung thêm vôi và tạo màu nước thích hợp. Nước trong là do nước bị
nhiễm phèn hoặc tảo không phát triển do ao nghèo dinh dưỡng, thiếu thức ăn tự
nhiên. Để cải tạo tình trạng này cần bón vôi và bón phân.
- Các yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội
+ Thị trường:
Thị trường là một yếu tố hết sức quan trọng đối với tất cả các mặt hàng
của tất cả các ngành sản xuất. Đây là một trong 3 vấn đề cơ bản của kinh tế học: