Nghiên cứu mối quan hệ liên kết trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây của các hộ nông dân trên dịa bàn xã việt hùng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh - Pdf 35

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nông nghiệp - nông
dân và nông thôn nước ta đã có bước phát triển khá toàn diện và to lớn. Nông
nghiệp phát triển ổn định và có xu hướng tái sản xuất theo chiều sâu, đời sống
vật chất, tinh thần nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn được thay đổi theo
chiều hướng lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng vào
sự ổn định của đất nước, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững. Nghị quyết TW 7 đã
nêu rõ: “Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp, đội ngũ trí thức với nông
dân trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi; có chính sách khuyến khích mạnh mẽ doanh
nghiệp, trí thức về nông thôn, đóng góp tích cực và có hiệu quả cho quá trình phát
triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo đường lối của Đảng”. Trên tinh thần
đó, để nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho
người dân thì tăng cường các mối quan hệ liên kết giữa các tác nhân trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò hết sức quan trọng.
Mục đích liên kết là để có những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, đủ
sức mạnh cạnh tranh trên thị trường, bảo đảm sức khỏe người tiêu dùng, tạo ra môi
trường kinh doanh lành mạnh, an toàn trong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Các quan hệ liên kết rất đa dạng và phong phú, mỗi một mối liên kết lại có vai trò
khác nhau khi được áp dụng vào quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm.
Tuy nhiên, việc liên kết trong sản xuất và tiêu thụ đặt ra nhiều vấn đề: Mâu
thuẫn giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vẫn thường xuyên xảy ra, phía chịu thiệt
thòi nhất là nông dân. Doanh nghiệp hoạt động thu mua nông sản thì thường thu
mua sản phẩm với giá cả và số lượng không ổn định. Tuy nhiên, lại có những
doanh nghiệp cần thu mua nông sản với số lượng lớn và ổn định thì nông dân lại
không đủ điều kiện cung ứng (do cách sản xuất nhỏ lẻ); việc cung ứng giống cây
trồng – vật nuôi chất lượng tốt chưa đáp ứng yêu cầu. Chính vì vậy, nhiều địa
1


phương đã gặp thất bại khi thực hiện các mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu tổng quát của đề tài:
Phân tích các mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm khoai tây
ở xã Việt Hùng, huyên Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm tăng cường các mối liên kết, thúc đẩy sản xuất khoai tây trên địa bàn xã.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn cơ bản về các mối liên kết
kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm.
+ Phân tích mối quan hệ liên kết trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây ở
xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các mối quan hệ liên kết
trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm khoai tây ở xã Việt Hùng, huyện Quế Võ,
tỉnh Bắc Ninh.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận, thực tiễn về các mối liên kết trong sản xuất và tiêu
thụ khoai tây, với chủ thể là các hộ trồng khoai tây, các đơn vị bảo quản và
chế biến, các đơn vị cung cấp đầu vào và các cá nhân, tổ chức thu gom khoai
tây trên địa bàn xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
 Về nội dung: Nghiên cứu lý luận, thực trạng, yếu tố ảnh hưởng và giải
pháp để phát triển các mối quan hệ liên kết trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây.
 Về không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu tại các hộ trồng khoai tây, cơ
sở thu gom, bảo quản và chế biến khoai tây. Đề tài được thực hiện trên địa
bàn xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
 Về thời gian

[4].
Tác giả Trần Văn Hiếu (2005) cho rằng: “Liên kết kinh tế là quá trình
thâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh
tế dưới hình thức tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng
có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật, thông qua hợp đồng kinh tế khai thác
4


tốt các tiểm năng của các chủ thể tham gia liên kết. Liên kết kinh tế có thể
tiến hành theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc các
ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trong khu vực và quốc tế”
[18].
Trong các văn bản của nước ta thì liên kết kinh tế được hiểu là các hình
thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc
và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh
doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất.
Trong các văn bản của nhà nước ta mà cụ thể là trong quy định ban
hành theo Quyết định số 38-HĐBT ra ngày 10/04/1989 thì liên kết là những
hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau
bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản
xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất.
Sau khi bàn bạc thống nhất, các đơn vị thành viên trong tổ chức liên kết kinh
tế cùng nhau ký hợp đồng về những vấn đề có liên quan đến phần hoạt động
của mình để thực hiện [10].
Theo ThS. Hồ Quế Hậu thì liên kết kinh tế trong kinh tế thị trường và
hội nhập kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên hệ kinh tế
khách quan giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế xã hội, nhằm thực hiện
mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế xã hội
chung [9].
Tổng hợp những khái niệm trên có thể tóm lược: “Liên kết kinh tế là

mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là khách hàng của tác nhân kề trước đó,
đồng thời bán sản phẩm cho các tác nhân kế tiếp của chuỗi hàng. Kết quả của
liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể giảm
đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian[7].
Liên kết theo chiều ngang (Liên kết giữa các tác nhân hoạt động trong
cùng một ngành) là hình thức liên kết giữa các chủ thể nhằm mục đích làm
chủ thị trường sản phẩm. Hình thức này được tổ chức dưới nhiều dạng, có thể
thong qua hội nghề nghiệp hoặc hiệp hội, ví dụ như hiệp hội khoai tây… Các
cơ sở liên kết với nhau là những cơ sở độc lập nhưng có quan hệ với nhau và

6


thong qua một bộ máy kiểm soát chung. Với hình thức liên kết này có thể hạn
chế được sự ép giá của cơ sở chế biến nhờ sự làm chủ thị trường [16].
Như vậy liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh
doanh, thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi
thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý, mỗi loại hình liên
kết có những ưu điểm riêng của nó.
e) Nội dung liên kết kinh tế
Từ những quan điểm về liên kết, các hình thức và mục tiêu của liên kết
kinh tế cho thấy các liên kết trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các tác
nhân rất đa dạng, gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang đan xen lẫn nhau. Cơ
chế liên kết cũng rất đa dạng, thể hiện sự phát triển của cung cách sản xuất từ
sản xuất đơn lẻ, manh mún sang dạng hàng hoá và mức độ phức tạp của việc
cung cấp tiếp cận thị trường, cung cấp nguồn lực và công tác tổ chức quản lý
sản xuất kinh doanh và để đánh giá mức độ liên kết, mức độ quan hệ chặt chẽ
giữa các tác nhân khi tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Sơ đồ 2.1 Các hình thức, các khâu và cơ chế liên kết giữa các tác nhân


Tiêucầu
thụthị trường.
dựa trên quan hệ cung
Các thoả thuận,
camliên
kết kết
phải thể hiện trách nhiệm của mỗi bên khi thực
Cơ chế
Hợp
đồng
kinh
tế nếu một bên không thực hiện đúng, đủ
hiện cam kết và các
hình
thức
phạt
Thoả thuận miệng
theo thoả thuận, cam
mối liên kết này thể hiện thông qua các hình
Muakết.
bánCác
tự do
thức liên kết với các nội dung như sau:
• Mua bán tự do trên thị trường
Mua bán tự do trên thị trường là hình thức giao dịch trực tiếp giữa
người mua và người bán. Người mua thấy được số lượng và chất lượng hàng

7



8


Theo Eaton and Shepherd (2001), hợp đồng là sự thoả thuận giữa nông
dân và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ nông sản về việc tiêu thụ sản phẩm
trong tương lai và thường với mức giá đặt trước. Liên kết theo hợp đồng là
quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa các tác nhân trong việc mua
nguyên liệu hoặc bán sản phẩm.
Theo Michael Boland (2002), liên kết dạng hợp đồng là hình thức một
công ty mua hàng hoá từ một nhà sản xuất với một mức giá được xác định
trước khi mua. Mối quan hệ hợp đồng giữa nhà sản xuất và nhà chế biến chỉ
sự điều chỉnh của những văn bản thoả thuận cá nhân mang tính pháp lý,
những giao dịch này cói thể là giá mua bán, thị trường, chất lượng và số
lượng nguyên vật liệu đầu vào, các dịch vụ kỹ thuật, cung cấp tài chính… được
thoả thuận trước khi bán. Liên kết hợp đồng tạo ra sự linh hoạt trong việc chia
sẻ rủi ro và quyền kiểm soát giữa các chủ thể tham gia hợp đồng [1] [2].
Hợp đồng được ký kết giữa các doanh nghiệp, tổ chức, ngân hàng tín
dụng, trung tâm khoa học kỹ thuật... và hộ theo các hình thức:
- Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và nua lại nông sản
hàng hóa.
- Bán vật tư mua lại sản phẩm.
- Trực tiếp tiêu thụ sản phẩm, thuê mướn tư vấn kỹ thuật, mua vật tư,
thiết bị, nguyên liệu đầu vào, vay vốn...
- Liên kết sản xuất bằng việc góp vốn cổ phần, liên doanh liên kết với các
doanh nghiệp hoặc cho doanh nghiệp thuê đất, diện tích mặt nước, sau đó hộ
được sản xuất trên diện tích đó hoặc cho thuê, bán lại sản phẩm cho doanh
nghiệp tạo sự gắn kết bền vững giữa hộ và doanh nghiệp [17].
f) Hình thức liên kết kinh tế
- Liên kết sản xuất: Là hình thức hợp tác giữa các chủ thể nhưng không
thay đổi tư cách pháp nhân cũng như hình thức tổ chức của từng chủ thể.

(hộ, HTX, doanh nghiệp) đều thực hiện một chuỗi các hoạt động từ cung cấp,
dịch vụ đầu vào và đầu ra; mỗi cung đoạn lại có những đầu vào khác nhau,
quy trình công nghệ khác nhau và mang tính đặc thù, hơn nữa để sản xuất một
loại sản phẩm đầu ra nào đó lại yêu cầu chủng loại vật tư, nguyên liệu đầu vào
khác nhau mà bản thân đơn vị sản xuất (hộ, HTX, doanh nghiệp) không tự sản

10


xuất ra tất cả, mà đó là kết quả của quá trình phân công lao động, liên kết hợp
tác của hai hay nhiều bên nhằm phát huy lợi thế so sánh, giảm chi phí sản
xuất và chủ động, ổn định sản xuất kinh doanh.
Trong một chuỗi các hoạt động sản xuất kinh doanh mỗi hộ, cơ sở đều
có một hoặc một số lĩnh vực hoạt động chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên
biệt. Bên cạnh những hoạt động chính, còn một loạt các hoạt động phụ mà
bản thân cơ sở không thể thực hiện được, nhưng nó lại không thể thiếu đối với
cả chuỗi dây chuyền chính. Ví dụ, trong sản xuất khoai tây người ta sử dụng
các vật tư nông nghiệp chính là giống, phân đạm, thuốc BVTV… Các vật tư
này nằm ở nhiều vùng miền khác nhau do nhiều chủ thể khác nhau đang quản
lý; người ta sẽ vận chuyển các vật tư này đến các nơi trồng khoai tây. Tại đây,
người sản xuất sẽ sử dụng các vật tư nông nghiệp này để sản xuất ra sản
phẩm. Các sản phẩm này là kết quả hoạt động của nhiều lĩnh vực, nhiều chủ
thể khác nhau mà mỗi hộ, doanh nghiệp khó có thể đảm nhận hết, hơn nữa
nếu có làm được thì ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Chính vì vậy, các
liên kết giúp các hộ, doanmh nghiệp khắc phục hạn chế về quy mô và lĩnh
vực hoạt động theo hướng hiệu quả hơn. Hình thức kinh doanh này xuất hiện
từ lâu và hiện đang rất thịnh hành ở nhiều nước trên thế giới.
- Liên kết kinh tế giúp các tác nhân phản ứng nhanh với những thay đổi
của thị trường.
+ Nhu cầu của thị trường luôn thay đổi, điều đó buộc các nhà sản xuất

Đứng trước một cơ hội sản xuất lớn, nhiều khi vượt quá khả năng sản
xuất của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp bỏ sẽ mất cơ hội làm ăn, nhưng nếu
doanh nghiệp đơn độc một mình triển khai thực hiện dự án dẫn đến hiệu quả
thấp, thậm chí thua lỗ. Để tránh được hiện tượng này, nhiều doanh nghiệp đã
biết phân tán rủi ro bằng cách mời gọi các doanh nghiệp khác cùng tham gia
thực hiện dự án, mỗi doanh nghiệp đảm nhận một phần công việc, tuỳ theo
năng lực của từng doanh nghiệp. Như vậy, mỗi doanh nghiệp tham gia dự án
chỉ phải chịu một phần rủi ro nếu có.
Ở một khía cạnh khác, hai doanh nghiệp trước đây là đối thủ cạnh tranh
của nhau, cạnh tranh trên cùng một loại sản phẩm, trong cùng một thị trường,

12


đến nay để giảm thiểu rủi ro cạnh tranh, họ liên kết lại, cùng thoả hiệp để
phân chia thị trường, kể cả việc sáp nhập để tạo nên độc quyền.
Như vậy Nhà nước cần khuyến khích các cơ sở sản xuất đầu tư mở
rộng sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao và phục vụ nhu cầu
đa dạng của xã hội nhưng mặt khác, Nhà nước cũng cần có giải pháp chính
sách quản lý vĩ mô nhằm hạn chế độc quyền dẫn đến lũng đoạn thị trường và
lũng đoạn nền kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của
dân cư.
d) Các nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế
Để các chủ thể tham gia liên kết đạt được mục tiêu phát triển bền vững
các liên kết kinh tế phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:
1. Tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh:. Đây chính là mục tiêu của mọi
hoạt động sản xuất của các cơ sở, việc mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi các
phương thức sản xuất của từng thành viên khi ra nhập tổ chức kinh tế hợp tác
nói riêng hay khi thiết lập các mối quan hệ với các đối tác khác phải đạt mục
tiêu hiệu quả.

không nhìn lâu dài. Họ sợ sự rằng buộc về mặt pháp luật khi kí kết hợp đồng.
Mặt khác, có những hộ sản xuất mặc dù đã kí hợp đồng tiêu thụ với doanh
nghiệp nhưng nơi nào mua với giá cao hơn họ vẫn bán, thậm chí một số hộ nhiều
nông dân trên cùng một diện tích và sản lượng lại kí hợp đồng tiêu thụ dẫn đến
tình trạng phá vỡ hợp đồng, làm các công ty không chủ động được nguyên liệu.
Một yếu tố ảnh hưởng nữa là mặc dù công ty tạo điều kiện cho người
dân sản xuất bằng cách ứng vốn, mua phân bón, chuyển giao khoa học kỹ
thuật, thu mua với giá đảm bảo ổn định, vậy mà vẫn có những trường hợp
nông dân không “chung thuỷ” với công ty sẵn sàng bán cho công ty khác khi
họ trả giá cao hơn.
Một thực tế khó khăn ảnh hưởng đến sự liên kết giữa công ty và hộ sản
xuất đó là hộ sản xuất luôn muốn chất lượng hàng hoá của mình là cao trong
khi đó thực tế lại không đạt như vậy. Vì vậy, dẫn đến tình trạng xảy ra các
mâu thuẫn trong thu mua giữa công ty và hộ sản xuất không bán theo hợp
đồng với công ty mặc dù công ty đã đầu tư ban đầu (hộ sản xuất sẵn sàng đi
đến với các công ty và cơ sở sản xuất khác mà hộ không kí kết).
Sản xuất của hộ vẫn tự phát, không tập trung, quy mô kinh tế của hộ rất
nhỏ, diện tích manh mún, không mang tính tập trung, sản xuất hàng hóa. Đã
14


thế tư tưởng thay đổi phương thức sản xuất của hộ rất ít, hầu như hộ không
giám mạnh dạn đầu tư trong sản xuất của mình, sợ ảnh hưởng mà quyền lợi
mà họ đang có, sợ rủi ro trách nhiệm khi tham gia liên kết.
Như vậy, nhận thức của liên kết sản xuất của hộ rất kém, các lý do
chính trên là làm cho việc liên kết còn hạn chế và để liên kết trong sản xuất
của hộ được hiệu quả hơn cần giải quyết tốt các lý do ảnh hưởng trên.
2.1.2.2 Các yếu tố từ doanh nghiệp

Các cơ sở chế biến thu mua sản phẩm nông sản ổn định nhưng vẫn còn

hạn chế do chính sách và do bản thân chính quyền (nhất là chính quyền cấp
cơ sở) đã không phát huy và làm tròn trách nhiệm là trọng tài để giải quyết
các vấn đề ảnh hưởng đến liên kết. Chính quyền cơ sở gần như thả nổi để tự
cơ sở chế biến và hộ sản xuất thoả thuận với nhau trong hợp đồng liên kết.
Chưa xác định rõ về sự rằng buộc, trách nhiệm, lợi ích giữa các bên
tham gia liên kết nên dẫn đến phá vỡ quá trình này, nhất là khi cơ sở chế biến
vi phạm hợp đồng.
Chính sách chưa thật sự đi sát với người sản xuất nông sản, còn ở dạng
chung chung khiến cho hộ nông dân gặp khó khăn trong khi vận dụng vào liên kết.
Trên đây là những yếu tố ảnh hưởng cơ bản của các bên khi tham gia
liên kết và chính các yếu tố này đã ảnh hưởng đến quá trình liên kết bền vững
trong sản xuất nông sản và muốn có một quá trình liên kết bền vững thì cần
giải quyết tốt những yếu tố ảnh hưởng trên.

2.1.3 Một số vấn đề chú ý về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây
2.1.3.1 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây.

a) Đặc điểm kỹ thuật
Cây khoai tây vốn là một cây ưa lạnh có nguồn gốc ở vùng cao nhiệt
đới (từ 1000 m trở lên). Trải qua quá trình chọn lọc và thuần hoá, nó có thể
được trồng ở các vùng khí hậu khác nhau bao gồm các vùng ôn đới, á nhiệt đới
và nhiệt đới với các điều kiện sinh thái nông nghiệp khác nhau từ vùng đồng
bằng đến vùng núi cao (Struik and Wiersema, 1999). Cây khoai tây là một loại
cây lương thực chủ yếu của nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta, khoai tây là
cây vụ đông quan trọng trong công thức luân canh Lúa Xuân - Lúa mùa sớm Khoai tây.
16


+ Củ khoai tây có dạng tròn, vỏ củ màu vàng, ruột củ vàng, mắt củ có
khả năng chống lại sự va chạm từ bên ngoài.

các ngành công nghiệp, dịch vụ nên việc sản xuất nông nghiệp thường không
đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, làm cho cán cân cung - cầu luôn mất thăng
bằng, điều đó có lợi cho người sản xuất.. Nông dân trồng khoai tây có thu
nhập cao hơn 30,8% so với những hộ không trồng khoai tây. Cây Khoai tây
còn có tác dụng cộng hưởng làm lợi cho các hoạt động nông nghiệp khác như
như chăn nuôi lợn và trồng lúa cũng có hiệu quả hơn. Do luân canh lúa với
khoai tây đã làm: năng suất lúa tăng thêm 15%, giảm 100% phân bón vụ xuân
và 30% phân bón vụ mùa, giảm 14-24% chi phí lao động và giảm 24-46% chi
phí làm đất (do dất tơi xốp và màu mỡ hơn) (Đỗ Kim Chung, 2003). Kết quả
là, hộ trồng khoai tây có thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi cao hơn so với
những hộ không trồng khoai tây (Đỗ Kim Chung, năm 2003) . Năng suất bình
quân của khoai tây hiện nay khoảng 15 tấn/ha, mỗi ha trồng khoai tây cho thu
nhập 50-55 triệu đồng (Nguồn: Báo Bắc Ninh, 25/01/2010). Đặc biệt đối
tượng tiêu dùng của thị trường khoai tây rất rộng lớn, Điều đó cũng thúc đẩy
các hộ nông dân phát triển sản xuất khoai tây cung cấp cho thị trường, tạo
công ăn việc làm tăng thu nhập cho người dân.
2.1.3.2 Một số chú ý về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ khoai tây
Trong thực tế để duy trì và phát triển các mối quan hệ liên kết luôn là một
vấn đề khó và chịu nhiều yếu tố tác động bởi nhiều những mâu thuẫn, bất cập
trong qua trình triển khai thực hiện giữa tác nhân cung cấp với tác nhân thu mua.
Mục tiêu lựa chọn đối tác mua là phải thuận tiện, giá cả phải cao, ổn định song
thực tế trong liên kết kinh tế muốn ràng buộc trách nhiệm hai bên thì các tác nhân
phải có hợp đồng ký kết, số lượng thường cố định, giá cả thường không được như
mong đợi.
Mục tiêu lựa chọn đối tác cung cấp đầu vào là sản phẩm phải có chất
lượng tốt, giá cả phải chăng, ổn định về số lượng. Trong thực tế, mặt hàng

18




19


thức ký hợp đồng, khế ước,cổ phần... rồi liên hệ với nhân dân và vùng sản
xuất nguyên liệu. Trong đó doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ, thu mua nông
sản định hướng sản xuất cho nông dân. Nông dân đảm bảo nguyên liệu ổn
định cho doanh nghiệp sản xuất. Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp và
nông dân vay vốn, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và nông dân trước các
thay đổi của thị trường nhằm cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư, người dân
yên tâm sản xuất.
Thứ hai, hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể: Các tổ chức hợp tác
nông dân đứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biến, các đơn vị kinh
doanh nông sản, mặt khác tiến hành tổ chức nông dân sản xuất họ đóng vai trò như
chiếc cầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ với nông dân.
Thứ ba, hình thức hiệp hội nông dân chuyên nghiệp: Đây là hình thức
chia sẻ thông tin, hỗ trợ nhau về tiền vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ... Giữa
các hộ gia đình trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.
Thứ tư, hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: Ở hình thức này hạt
nhân trung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản. Tức là các
chợ công ty này tác động hướng dân nông dân sản xuất các mặt hàng riêng biệt, từ
đó hình thành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào cho kinh doanh của mình.
2.2.1.2 Ở Kenya
Kenya là nước sản xuất chè đứng thứ tư trên thế giới vào năm 2006. Ở
đây, chè là nguồn đổi ngoại tề mà Kenya kiếm được. Vào năm 2002, chè
chiếm khoảng 20% GDP nông nghiệp của Kenya. Sản xuất chè của Kenya
được mở rộng với tốc độ nhanh. Năm 1963, Kenya đã sản xuất được 18 tấn và
đến năm 2000 đã sản xuất được 260.000 tấn và đạt được 350.000 tấn vào nằm
2005. Có được năng suất và sản lượng cao như vậy là do nhà nước Kenya tạo
mặt bằng cho các doanh nghiêp sản xuất và đóng gói sản phẩm, tăng diện tích

và Phát triển nông thôn về mẫu hợp đồng tiêu thụ nông sản.
- Thông tư số 04/2003/TT-BTC: Hướng dẫn một số vấn đề về tài chính
thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng
Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua

21


hợp đồng: Hỗ trợ về đầu tư và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, về tín dụng đầu
tư phát triển nhà nước, hỗ trợ tài chính vùng khó khăn, hỗ trợ chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, về chính sách thuế, hỗ trợ xuất khẩu và xúc
tiến thương mại
- Nghị Quyết của Hội đồng Bộ trưởng số 38/HĐBT ngày 10 tháng 4
năm 1989 “liên kết kinh tế trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ” Quy định về
liên kết kinh tế giữa các đơn vị và tổ chức kinh tế kinh doanh sản xuất, lưu
thông dịch vụ thuộc tất cả các thành phần kinh tế.
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 02/2001/QĐ-TTg ngày 02
tháng 01 năm 2001” về chính sách hỗ trợ đầu tư từ quỹ hỗ trợ phát triển đối
với các dự án phát triển sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và các dự án phát
triển nông nghiệp”.
2.2.2.2 Thực trạng về quan hệ liên kết trong sản xuất tiêu thụ nông sản phẩm
ở Việt Nam
a) Đối với khoai tây
Từ chỗ phải nhập khẩu khoai tây, bây giờ khoai tây trở thành cây trồng
trong các tháng vụ đông ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và trồng quanh năm
ở nhiều nơi của tỉnh Lâm Đồng. Trong tương lai không xa, Việt Nam có thể
xuất khẩu khoai tây.
Qua một dự án phát triển khoai tây của Đức năm 2000 cho thấy các
tháng mùa đông lạnh ở Đồng bằng Sông Hồng có thể trồng khoai tây, Chính
phủ Cộng hoà Dân chủ Đức trước đây đã cung cấp giống giúp nông dân phía

bằng 75% giá khoai tây giống nhập từ châu Âu. Mục tiêu của dự án là có 3.000
héc ta khoai tây thương phẩm, xấp xỉ 10% diện tích khoai tây của miền Bắc
được trồng theo kỹ thuật và giống do dự án cung cấp vào năm nay.
Tuy nhiên, dự án đã thúc đẩy diện tích khoai tây ở miền Bắc tăng lên
mạnh mẽ, từ 20.000 héc ta lên hơn 35.000 héc ta hiện nay, tập trung nhiều ở
Nam Định, Thái Bình, Hải Dương. Năng suất khoai tây cũng được cải thiện
rõ rệt, bình quân tăng từ 11 tấn lên 13 tấn/héc ta, nhiều nơi có năng suất 18-20

23


tấn/héc ta. Nhưng quan trọng nhất, dự án đã góp phần thay đổi tập quán sử
dụng giống, kỹ thuật trồng khoai tây của nông dân.
Ở nhiều vùng nông thôn, nông dân đã lập ra tổ liên kết sản xuất và tiêu
thụ khoai tây. Chẳng hạn, mô hình tổ liên kết với 11 nông dân ở thôn Nghiêm
Xá, xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh chỉ trong năm 2004 đã đưa ra
thị trường 5.000 tấn khoai tây, chiếm 60% sản lượng khoai tây của huyện Quế
Võ.
Giờ đây, khoai tây Việt Nam không chỉ bán cho tiêu dùng trong nước
mà thương nhân còn mang khoai tây của các tỉnh phía Bắc sang bán ở Lào,
Campuchia, xuất khẩu chính ngạch sang Singapore nhưng sản lượng chưa
đáng kể.
b) Đối với nông sản phẩm khác ngoài khoai tây
Nhằm phát triển các vùng nguyên liệu bền vững tại nhiều địa phương
thì nhiều mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm của các
hộ nông dân đã xuất hiện. Với mục đích là để có được những sản phẩm nông
nghiệp chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, tạo ra môi trường
kinh doanh lành mạnh, an toàn trong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc tế
thì việc liên kết bốn nhà là vô cùng quan trọng. Điển hình một số nơi đã thực
hiện thành công mô hình này như: Bắc Ninh, Quảng Trị,...

nghiệp với nông nghiệp, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm của
các hộ nông dân.
Tuy nhiên, mối quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến
với nông dân, hộ nông thôn vẫn luôn là vấn đề thời sự trong đời sống kinh tế
- xã hội của các địa phương trên địa bàn tỉnh. Tình trạng doanh nghiệp chế
biến thiếu nguyên liệu cho sản xuất, nông dân tự ý phá vỡ hợp đồng cung ứng
nguyên liệu… hoặc ngược lại, tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất
mùa” luôn là nỗi lo của nông dân, tình trạng nông sản hàng hoá do nông dân
sản xuất ra khó tiêu thụ, trong khi các nhà chế biến không thể cung ứng đủ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status