Tiểu luận Bình luận và phân tích các điều kiện hành nghề luật sư theo qui định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 - Pdf 28

Lời Mở Đầu
Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay, luật sư là một trong những chế định pháp lý quan trọng
cần phải được hoàn thiện. Nâng cao dân chủ, mở rộng nhân quyền luôn
đòi hỏi vai trò của luật sư phải được đánh giá đúng mức, đối trọng nhưng
không đối lập với các cơ quan tư pháp khác (đặc biệt là Viện Kiểm Sát
Nhân Dân), cùng hướng đến mục tiêu chung là công lý và công bằng xã
hội. Nhận thức chung của xã hội cũng như của chính bản thân những
người làm công tác pháp luật về vai trò, tính chất của nghề luật sư hiện
nay phần nào vẫn chưa được thoả đáng. Một trong những nguyên nhân
của tình trạng này la, một bộ phận luật sư chưa thực sự đáp ứng được
những yêu cầu cả về mặt chuyên môn lẫn tư cách đạo đức - vốn là những
điều kiện cần thiết và bắt buộc của nghề luật sư. Pháp lệnh luật sư năm
2001 là một bước tiến dài trên con đường thực hiện pháp chế xã hội chủ
nghĩa, nâng cao chất lượng và số lượng cũng như nâng đội ngũ luật sư
Việt Nam lên ngang tầm với luật sư các nước trong khu vực và trên thế
giới. Những qui định về điều kiện hành nghề luật sư trong Pháp lệnh luật
sư năm 2001 mang tính chất chuyên nghiệp hơn, và phù hợp với những yêu
cầu do tình hình phát triển kinh tế xã hội đất nước đặt ra.
Với mong muốn được góp một phần vào việc tìm hiểu và làm sáng tỏ
những qui định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, tác giả chọn đề tài “Bình
luận và phân tích các điều kiện hành nghề luật sư theo qui định của
Pháp lệnh luật sư năm 2001” làm đề tài tiểu luận của mình.

Trang 1
I. KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT SƯ
VÀ NGHỀ LUẬT SƯ
Là một nghề xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử với ý nghĩa cao quí
như là một hiệp sĩ bảo vệc công lí, nghề luật sư phát triển qua các giai
đoạn, từ thời kì phong kiến cho đến nay, và vai trò của luật sư trong xã hội
ngày nay là không thể thiếu được. Dù dưới hình thức nào, luật sư tư vấn

luật sư. Một trong số những ràng buộc đó là qui định về trách nhiệm nghề
nghiệp của luật sư và qui định về điều kiện hành nghề luật sư nhằm đảm
bảo những luật sư đang hành nghề phải là những người có khả năng bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
- Nghề luật sư đòi hỏi phải có kiến thức sâu sắc, đó không chỉ là kiến
thức về mặt pháp luật (điều kiện đương nhiên) mà kể cả những kiến thức
trong các lĩnh vực xã hội khác, về kỹ năng và thái độ khi hành nghề luật sư.
II. CÁC ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ THEO
PHÁP LỆNH LUẬT SƯ NĂM 2001
Luật sư là một nghề nghiệp cao quí và luôn gắn liền với số phận pháp
lí của con người. Do vậy, năng lực chuyên môn và đạo đức của một người
luật sư không chỉ đơn giản là để đảm bảo điều kiện hành nghề cho chính
Trang 3
bản thân người luật sư đó mà còn đảm bảo cho lợi ích hợp pháp những
người được luật sư cung cấp dịch vụ pháp lí. Vì vậy, điều kiện hành nghề
luật sư luôn là một trong những chế định quan trọng nhất trong các văn bản
pháp luật qui định về luật sư, đặc biệt là Pháp lệnh luật sư. Pháp lệnh luật
sư năm 2001 đã thay đổi những nhận thức về tính chất nghề nghiệp của
nghề luật sư và do đó cũng đặt ra những qui định về điều kiện hành nghề
luật sư mang tính chuyên môn và thể hiện được tính chất của một nghề
cung cấp dịch vụ pháp lí.
Ngay tại Điều 7 của Pháp lệnh luật sư qui định về điều kiện hành
nghề luật sư đã khẳng định: “Người muốn được hành nghề luật sư phải gia
nhập một Đoàn luật sư và có chứng chỉ hành nghề luật sư.”
Điều này có nghĩa là, một người muốn trở thành luật sư trước hết cần
đáp ứng đủ hai điều kiện: gia nhập Đoàn luật sư địa phương nơi mình cư
trú và phải có được Chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp cấp. Cụ
thể hơn, tại Điều 8 khoản 1 của Pháp lệnh luật sư qui định rõ về điều kiện
gia nhập Đoàn luật sư như sau:
“1. Người có đủ điều kiện sau đây thì được gia nhập Đoàn luật sư:

Trang 5
lệnh luật sư năm 2001 đã thống nhất qui định điều kiện cơ bản về mặt
chuyên môn là phải có trình độ đại học luật. Đây là một qui định có tính
chất bước ngoặc trong việc chuyên môn hoá, chuyên nghiệp hoá đội ngũ
luật sư so với trước đây. Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 còn cho phép
nhũng người không tốt nghiệp đại học luật nhưng có trình độ pháp lí tương
đương, tức là có thời gian công tác pháp luật phù hợp, cũng được gia nhập
vào Đoàn luật sư và được hành nghề luật sư. Sự khác biệt và thay đổi trong
qui định về điều kiện này trong hai Pháp lệnh năm 1987 và Pháp lệnh năm
2001 là xuất phát từ đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn là
rất khác nhau. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta đang có những thành tựu đáng kể cũng như đang
trên đà phát triển vượt bậc, những yêu cầu của tình hình mới đặt ra đối với
đội ngũ thực thi và bảo vệ pháp luật nói chung và nghề luật sư nói riêng
cũng ngày một cao hơn. Hơn nữa, chính tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,
thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế, văn
hoá, xã hội cũng đòi hỏi luật sư phải ngày một chuyên nghiệp, trước hết là
ở trình độ chuyên môn. Vì vậy mà trong suốt quá trình lập dự thảo, soạn
thảo cũng như thông qua Pháp lệnh luật sư năm 2001, đa số các ý kiến đều
đồng ý với việc qui định luật sư trước hết phải là người tốt nghiệp đại học
luật. Ngoài ra, phù hợp với nhu cầu thực thực tế cũng như để khuyến khích
những người có điều kiện đi học chuyên ngành luật ở cấp bậc đại học và
sau đại học tại những nước có nền giáo dục đại học phát triển (đặc biệt là
chuyên ngành luật), pháp luật Việt Nam cũng công nhận cả những người đã
được đào tạo đại học luật ở nước ngoài. Đây là một sự phát triển đáng kể
cũng như tạo ra sự đồng bộ với những qui định khác trong hệ thống pháp
Trang 6
luật về việc công nhận những văn bằng của nước ngoài và quan hệ hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực giáo dục. Riêng về vấn đề những loại văn bằng do
cơ sở đào tạo nước ngoài nào được công nhận và thủ tục công nhận như thế

Giáo sư chuyên ngành luật, Tiến sĩ luật, người đã làm Thẩm phán, Kiểm
sát viên từ 5 năm trở lên, người đã làm Điều tra viên cao cấp, chuyên viên
pháp lí cao cấp, nghiên cứu viên pháp lí cao cấp được miễn đào tạo nghề
luật sư là qui định rất phù hợp và cần thiết, đối với điều kiện thực tiễn Việt
Nam cũng như thông lệ quốc tế. Riêng những trường hợp được cấp Giấy
chứng nhận tốt nghiệp khoá đào tạo nghề luật sư do cơ sở đào tạo luật nước
ngoài cấp sẽ được Bộ Tư pháp xem xét công nhận nếu thời gian đào tạo
nghề luật sư ở nước ngoài ít nhất là 6 tháng và phải có nội dung chương
trình đào tạo cơ bản phù hợp với chương trình đào tạo nghề luật sư ở Việt
Nam về một số môn học, tiết học v.v… Việc công nhận chương trình đào
tạo của nghề luật sư của những cơ sở đào tạo nước ngoài cũng là một trong
những bước của quá trình hội nhập quốc tế, tuy nhiên, việc công nhận này
cũng phải trên cơ sở có sự tương đồng nhất định với việc đào tạo tại Việt
Nam. Đây cũng là một bước tiến quan trọng để trong thời gian sớm nhất có
thể, luật sư Việt Nam cũng được công nhận và được phép hành nghề ở
nước ngoài.
Trang 8
 Về điều kiện phải c ó phẩm chất đạo đức tốt:
Do tính chất đặc biệt của nghề luật sư là gắn liền với với số phận pháp
lí của con người nên đòi hỏi luật sư cũng phải là người có phẩm chất đạo
đức tốt. Phẩm chất đạo đức ở đây không chỉ là những điều kiện chung
chung và mơ hồ mà được cụ thể hoá qua những qui định về trách nhiệm
nghề nghiệp luật sư cũng như qui tắc đạo đức nghề luật sư. Tuy là một
nghề dịch vụ và được nhận thù lao từ khách hàng nhưng nghề luật sư
không thuần tuý mang tính chất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, đó là
một nghề cao quí, vì công lí và công bằng xã hội. Điều này đòi hỏi luật sư
trước hết phải tuân thủ pháp luật, có lối sống lành mạnh, có lòng say mê
nghề nghiệp, đặc biệt là luôn giữ danh dự, uy tín nghề nhiệp – vốn là yếu tố
“sống còn” trong nghề nghiệp của mình. Luật sư luôn phải giữ đạo đức và
thái độ lịch sự, không chỉ trong mối quan hệ với khách hàng, với đồng

mắt và dẫn đến những khó khăn nhất thời cho những người phải đứng
trước sự lựa chọn giữa nghề luật sư và công việc của một cán bộ, công
chức nhưng việc Pháp lệnh luật sư năm 2001 đặt ra qui định này là rất cần
thiết và tất yếu. Trước mắt, cần tăng cường đào tạo, nâng cao cả về số
lượng và chất lượng của đội ngũ luật sư để đáp ứng yêu cầu của đất nước
trong thời kì mới. Những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp
Trang 10
luật không còn được sử dụng việc hành nghề luật sư để tích luỹ kinh
nghiệm thực tế mà cần tìm một cách thức khác phù hợp hơn.
 Những trường hợp không được hành nghề luật sư:
Ngoài ra, trong Pháp lệnh luật sư năm 2001 cũng qui định cả những
trường hợp không được hành nghề luật sư theo khoản 2 Điều 8 như sau:
“2. Những người sau đây không được gia nhập Đoàn luật sư:
a) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà
chưa được xoá án tích;
b) Đang bị quản chế hành chính;
c) Bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;
d) Là cán bộ, công chức bị buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn 3
năm, kể từ ngày quyết định thôi việc có hiệu lực.”
Điều này cũng một lần nữa khẳng định rằng những điều kiện hành
nghề luật sư là tương đối nghiêm ngặt và đặt ra những khuôn phép nhất
định về mặt đạo đức nghề nghiệp và cả đạo đức xã hội.
Vè mặt thủ tục, người muốn gia nhập Đoàn luật sư phải làm đơn gửi
Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư của địa phương nơi mình cư trú, cùng với
những loại giấy tờ như: sơ yếu lý lịch; bản sao Bằng cử nhân luật hoặc bản
sao Bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật; bản sao giấy chứng nhận tốt nghiệp khoá đào
tạo nghề luật sư hoặc giấy tờ chứng nhận là đối tượng thuộc các trường hợp
miễn đào tạo nghề luật sư; phiếu lý lịch tư pháp và giấy xác nhận nơi cư trú
Trang 11
(theo Điều 10 Pháp lệnh luật sư năm 2001). Nơi cư trú của một người được

đánh giá khả năng hành nghề luật sư và chỉ những người đạt yêu cầu kì
kiểm tra thì mới được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Người không đạt
yêu cầu kiểm tra thì được gia hạn tập sự tối đa là 2 lần, mỗi lần gia hạn từ 6
tháng đến 12 tháng. Hết thời hạn này, luật sư tập sự phải tham gia kì thi
kiểm tra hết tập sự. Nếu đến lần kiểm tra tập sự lần thứ 3 mà luật sư tập sự
vẫn không đạt yêu cầu thì bị xoá tên khỏi danh sách luật sư tập sự của
Đoàn luật sư. Sau thời hạn 3 năm kể từ ngày bị xoá tên khỏi danh sách luật
sư tập sự của Đoàn luật sư, người bị xoá tên khỏi Đoàn luật sư có thể xin
gia nhập lại Đoàn luật sư để tập sự hành nghề luật sư.
Người đạt yêu cầu kì kiểm tra hết tập sự và người được miễn thời gian
tập sự hành nghề luật sư thì được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư đề nghị Bộ
Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Bộ tư pháp cấp Chứng chỉ hành
nghề luật sư trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị
cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Trong trường hợp từ chối thì phải thông
báo lí do bằng văn bản đến người làm đơn và Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư.
Người bị từ chối có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tư pháp, nếu không
đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thì
Trang 13
người đó có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo qui định
pháp luật.
Chứng chỉ hành nghề luật sư được cấp không thời hạn và chỉ bị thu
hồi trong một số trường hợp, cụ thể là: người bị xử lí vi phạm hành chính
bằng hình thức thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, người bị kết án tù
hoặc bị Toà án cấm hành nghề luật sư, người bị Đoàn luật sư xử lí kỉ luật
bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn.
Sau khi được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì luật sư được hành
nghề với đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một luật sư.
KẾT LUẬN
Những điều kiện hành nghề luật sư theo Pháp lệnh luật sư năm 2001
đã, đang và sẽ tiếp tục tạo ra những cơ sở nền tảng cho sự ra đời và hoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status