CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM - Pdf 28

ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA LUẬT
-----    -----
VÕ THỊ HOÀNG MAI
NIÊN LUẬN
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN
THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Niên luận: Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân. Thực tiễn ở Việt Nam.
HUẾ, 09/2010.
SVTH: Võ Thị Hoàng Mai.
2
Niên luận: Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân. Thực tiễn ở Việt Nam.
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường
hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và thế giới thì có nhiều vấn đề nảy
sinh trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội. Để có sự phát triển không
ngừng như hiện nay thì nền kinh tế - xã hội ở nước ta phải được xây dựng trên
một nền tảng cơ sở vật chất nhất định. Trong đó, con người đóng vai trò trung
tâm của sự phát triển xã hội. Để có thể tồn tại thì con người cần thiết lập những
yếu tố có lợi nhằm phục vụ cuộc sống của mình. Hay nói cách khác là ngay từ
khi xuất hiện con người đã học được cách chiếm hữu nhằm thỏa mãn những yêu
cầu nhất định. Chính điều đó đã làm xuất hiện Sở hữu.
Sở hữu được xem là: “ vật liệu xây dựng” của con người, là xuất phát điểm
cho mọi quá trình kinh tế. Vấn đề sở hữu là vấn đề quan trọng có tính chất sống
còn của mọi giai cấp, mọi tổ chức và cá nhân trong quá trình phát triển của xã
hội. Bởi sở hữu được xem là: Là cơ sở kinh tế đầu tiên quyết định địa vị thống
trị của giai cấp cầm quyền; Là cơ sở pháp lý để các chủ thể thực hiện các quyền
và nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
Sau hơn hai mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới ở nước ta, với
những thành công và hạn chế đã có trên con đường công nghiệp hóa, hiện

góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật về vấn đề sở hữu tư nhân trong
lĩnh vực Dân sự và vướng mắc trong quá trình thực hiện ở nước ta . Qua đó
nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự về sở hữu tư nhân nói riêng và hệ thống pháp
SVTH: Võ Thị Hoàng Mai.
4
Niên luận: Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân. Thực tiễn ở Việt Nam.
luật về sở hữu nói chung. Ngoài ra còn nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện tại và trong tương lai.
2. Mục đích nghiên cứu
Chọn hình thức sở hữu tư nhân làm đối tượng nghiên cứu chúng ta có thể đi
sâu phân tích lý luận chung và các quy định cơ bản về vấn đề này. Vấn đề sở
hữu tư nhân đã và đang được nhiều ngành, nhiều cấp quan tâm. Đồng thời,
được xem xét dưới nhiều góc độ: Chính trị, kinh tế - xã hội, pháp luật...Nhất là
cụ thể trong các quy định của pháp luật dân sự về chế độ sở hữu tư nhân. Điều
đó càng khẳng định tầm quan trọng của sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư
nhân trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội Việt Nam hiện
nay.
Trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật Dân
sự về hình thức sở hữu tư nhân ở Việt Nam. Rút ra những ưu, hạn chế của pháp
luật dân sự về sở hữu tư nhân và những vướng mắc trong quá trình thực thi ở
Việt Nam. Từ đó đề ra những giải pháp góp phần phát triển và hoàn thiện pháp
luật về sở hữu tư nhân, đồng thời tìm ra phương hướng khắc phục những khó
khăn trong quá trình tổ chức quản lý, thực thi pháp luật về sở hữu tư nhân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau đây:
- Những vấn đề lý luận chung nhất về hình thức sở hữu tư nhân như khái
niệm sở hữu tư nhân; nội dung của quyền sở hữu tư nhân; các căn cứ xác lập,
chấm dứt quyền sở hữu tư nhân; sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự hiện hành
về sở hữu tư nhân.
- Thực tế áp dụng pháp luật về sở hữu tư nhân ở Việt Nam trong giai đoạn

SVTH: Võ Thị Hoàng Mai.
6
Niên luận: Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân. Thực tiễn ở Việt Nam.
tình hình áp dụng pháp luật về hình thức sở hữu tư nhân và vai trò của thành
phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Đặc biệt, đối với sinh viên, kết quả của niên luận là nguồn tài liệu có giá trị
tham khảo khi học tập, nghiên cứu, nhất là khi hoàn thành các báo cáo khoa học
cấp khoa, cấp trường…
Ngoài ra, niên luận còn có ý nghĩa thiết thực đối với một số đối tượng quan
tâm đến hình thức sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân. Điều này phù
hợp với sự phát triển tất yếu của các quan hệ xã hội phát sinh trong quan hệ về
sở hữu nhất là đối với vấn đề sở hữu tư nhân.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài có 2 chương:
- Chương 1: Khái quát về sở hữu tư nhân và sự điều chỉnh của pháp luật
Dân sự về hình thức sở hữu tư nhân.
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật Dân sự về sở hữu tư nhân ở
Việt Nam và một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật Dân sự về sở hữu
tư nhân. ( Giai đoạn 1996 đến nay).
SVTH: Võ Thị Hoàng Mai.
7
Niên luận: Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân. Thực tiễn ở Việt Nam.
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH
CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC SỞ HỮU TƯ NHÂN
1.1. Khái quát về hình thức sở hữu tư nhân
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật Dân sự về chế độ sở
tư nhân
1.1.1.1. Sự xuất hiện và tồn tại của chế độ sở hữu tư nhân trong lịch sử

kiến bảo vệ và duy trì chế độ sở hữu của địa chủ, lãnh chúa phong kiến đối với
ruộng đất. Giai cấp địa chủ phong kiến nắm quyền sở hữu phần lớn ruộng đất
(gồm cả sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước) và tiến hành bóc lột địa tô (dưới
nhiều hình thức: tô lao dịch, tô sản phẩm, tô tiền...hay những hình thức kết hợp)
đối với nông dân không có hay có ít ruộng đất (dưới những hình thức và mức
độ lệ thuộc khác nhau).
Chế độ Tư bản chủ nghĩa: Là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư ( do công nhân làm thuê
sáng tạo bị giai cấp tư sản và bị chiếm hữu). Đặc điểm đặc trưng nhất của chủ
nghĩa tư bản đó là: Nhìn nhận quyền sở hữu tư nhân, tự do sản xuất, kinh doanh
được xã hội bảo vệ về mặt luật pháp. Và được coi như một quyền thiêng liêng
bất khả xâm phạm của con người. Với những hình thức bóc lột tinh vi bằng
những phương pháp, thủ đoạn bóc lột ở trình độ cao thì các tư liệu sản xuất tập
trung chủ yếu trong tay giai cấp tư sản, tập đoàn tư bản và các nhà tư sản.
Trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội: Theo các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác - Lênin thì có hai phương thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đối
SVTH: Võ Thị Hoàng Mai.
9
Niên luận: Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân. Thực tiễn ở Việt Nam.
với Việt Nam do xuất phát điểm của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu
cho nên việc có một thời kỳ lịch sử với sự tồn tại của đa thành phần kinh tế, đa
hình thức sở hữu là điều cần thiết. Trong đó, sở hữu tư nhân cùng với các hình
thức sở hữu khác tận dụng một cách triệt để sức mạnh và ưu thế của các thành
phần kinh tế. Tất cả nhằm tạo ra một tiền đề xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cần thiết cho Chủ nghĩa xã hội.
Tuy vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra ở
nước ta hiện nay với mục tiêu là phát triển một lực lượng sản xuất tiên tiến thì
sở hữu nhà nước - kinh tế nhà nước được xem là nền tảng của nền kinh tế. Đồng
thời, sở hữu nhà nước - kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo để định hướng
cho sở hữu tư nhân - kinh tế tư nhân đi theo đúng quỹ đạo dưới sự quản lý chặt

hình thức sở hữu trong nền kinh tế - xã hội nước ta.
Với nhiệm vụ của thời kỳ này là: Xác lập và hoàn thiện chế độ sở hữu xã
hội chủ nghĩa ở Miền Bắc. Từ đó, tạo nền tảng cho con đường đi lên xã hội chủ
nghĩa ở nước ta sau khi giải phóng đất nước. Điều 12, Hiến pháp 1959 khẳng
định: “ Kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân giữ vai trò lãnh đạo nền kinh
tế quốc dân và được Nhà nước đảm bảo ưu tiên phát triển...”. Bên cạnh hình
thức sở hữu nhà nước còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác như: Sở hữu của
các nhà tư sản dân tộc, của những người tiểu thương, thợ thủ công... Vì vậy,
điều 11, Hiến pháp 1959 đã xác nhận và bảo hộ những hình thức sở hữu chủ
yếu đó là quy định rằng : " Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ
quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức
sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là
hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao
động riêng lẽ, và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc". Pháp luật về sở hữu
SVTH: Võ Thị Hoàng Mai.
11
Niên luận: Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân. Thực tiễn ở Việt Nam.
trong giai đoạn này chưa xác nhận việc công hữu hóa hoàn toàn đất đai ( theo
Hiến pháp 1959) nên quyền tư hữu của các hộ nông dân cá thể vẫn được Nhà
nước bảo hộ cùng với các quyền tài sản khác. Đây là kết quả của quá trình đấu
tranh của nhân dân ta qua những chặng đường dài của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh đó, chúng ta đã thực hiện các Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ
III, IV đó là: Vừa xây dựng vừa cải tạo, trong cải tạo có xây dựng...Các văn bản
pháp luật về sở hữu thời kỳ này đã tạo ra một tiền đề quan trọng có ý nghĩa to
lớn trong thời kỳ tiếp theo ở nước ta.
c. Giai đoạn 1980 – 1992.
Hiến pháp 1980 ra đời thay thế cho bản hiến pháp 1959 đã ghi nhận
phạm vi và bản chất của sở hữu nhà nước mà các bản Hiến pháp 1946, 1959
chưa quy định. Theo Hiến pháp 1980, tại các điều 18, 19, 23, 24 và 27 đã quy
định một cách chi tiết về các hình thức sở hữu. Điều 18, Hiến pháp 1980 đã ghi

cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhà nước thực hiện nhất ....quán chính sách phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các
hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn
dân, tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền
tảng”. Cùng với xu thế phát triển một nền kinh tế đa dạng, Hiến pháp 1992 đã
xác nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân, nhiều thành phần kinh tế.
Điều 21, Hiến pháp 1992 ( đã sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “ Kinh tế
cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất,
kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt
động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế, dân sinh. Kinh tế gia đình
SVTH: Võ Thị Hoàng Mai.
13
Niên luận: Chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân. Thực tiễn ở Việt Nam.
được khuyến khích phát triển”. Bên cạnh đó, về vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất
quan trọng là đất đai, Hiến pháp 1992 đã khẳng định: Nhà nước thống nhất
quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục
đích và có hiệu quả ( điều 18). Đồng thời, có sự thay đổi trong chính sách sử
dụng đất cho phù hợp với thực tiễn trong giai đoạn mới.
Thành tựu lập pháp cao nhất trong lĩnh vực sở hữu nói chung và sở hữu
tư nhân nói riêng đó là quy định về tài sản và quyền sở hữu trong Phần hai Bộ
Luật Dân Sự. Với các quy định tương đối hoàn thiện và đầy đủ về sở hữu chắc
chắn tạo ra những nền tảng thuận lợi cho việc ổng định và phát triển các quan
hệ hàng hóa tiền tệ trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên tinh thần của Hiến pháp
1992 và \được sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì Bộ Luật Dân sự 1995( có hiệu lực
ngày 01/7/1996) và sau này là Bộ Luật Dân sự 2005( có hiệu lực vào ngày
01/01/2006) tại điều 172 quy định một cách cụ thể như sau : “...sở hữu bao gồm
sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status