điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang - Pdf 28

Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
**********
ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG TÊN ĐỀ TÀI :

ĐIỀU TRA NHU CẦU NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ
TRONG NÔNG NGHIỆP Ở AN GIANG
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề việc làm, vấn đề quản lý doanh nghiệp nhà nước trong
nông nghiệp và hợp tác xã, một số cơ chế quản lý chưa đủ khuyến khích như nguồn nhân lực
chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả.
An giang là tỉnh phát triển mạnh về nông nghiệp; đặc biệt là cây lúa nước. Nông
nghiệp là ngành có vị trí - vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân; đảm bảo lương
thực , thực phẩm góp phần quan trọng để ổn định kinh tế - xã hội và cung cấp nguyên liệu
cho ngành công nghiệp chế biến nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm,
thuỷ sản tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn
trước mắt là lâu dài. Đề tài: “Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An
giang” rất phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cụ thể thực hiện chỉ thị
số 33/1998/CT.UB ngày 20/10/1998 của UBND tỉnh An giang về công tác quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An giang thời kỳ đến năm 2010.

Hiện nay nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp của tỉnh rất cần, nhất là
người có trình độ cao để thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Vì
vậy, không thể không đào tạo mới mà còn đào tạo lại các thành phần lao động trong các đơn
vị thuộc ngành nông nghiệp và kể cả lao động trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp,….

Đề tài: “Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An giang” được
tiến hành nghiên cứu với trình độ có hạn và thời gian có hạn. Trong quá trình thực hiện đề tài
có sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể cán bộ Khoa kinh tế - QTKD, trường Đại học An giang;
Sở Nông nghiệp & PTNT và Liên minh HTX tỉnh An giang. Đề tài chỉ giải quyết những vấn
đề hết sức cơ bản. Hy vọng mức độ nào đó góp phần vào phát triển nông nghiệp và nông thôn
của tỉnh.

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền


NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở AN GIANG 7
3.1- ĐẶC ĐIỂM 7
3.2- TIỀM NĂNG THIÊN NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CHO
SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TRONG NÔNG NGHIỆP. 8
3.2.1- Tiềm năng thiên nhiên. 8
3.2.1.1- Vị trí địa lý. 8
3.2.1.2 - Khí hậu thuỷ văn. 9
3.2.1.3 - Dân số và Lao động. 10
3.2.2- Kinh tế - Xã hội. 11
3.2.2.1- Kinh tế: 11
3.2.2.2- Xã hội. 12
3.3-THỰC TRẠNG NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG
NGHIỆP Ở AN GIANG 14
3.3.1- Sơ lược về nguồn nhân lực của tình An giang 14
3.3.2-Khảo sát thực tế nhân lực ở các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp
An giang vào tháng 8 năm 2003. 15
3.3.2.1- Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn (Loại Quản lý nhà nước) 15
3.3.2.2- Chi cục Thú y: 16
3.3.2.3- Chi cục Bảo vệ thực vật: 16
3.3.2.4- Trung tâm Khuyến nông: 17
Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
43.3.2.5- Trung tâm nước sinh hoạt nông thôn: 17
3.3.2.6- Trung tâm nghiên cứu sản xuất giống thuỷ sản: 17
3.3.2.7- Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản: 17

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 39

Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
5CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong nền kinh tế hiện đại, nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao vừa là động lực tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của
sản phẩm, dịch vụ, của doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, là yếu tố quyết định
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Bởi vì chỉ có nguồn nhân lực mới có khả năng
tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, công nghệ cao, sử dụng
hiệu quả các nguồn lực vật chất khác trong sản xuất xã hội, trở thành lực lượng xung
kích, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập.

An giang là tỉnh có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, thời gian qua, giá trị sản
phẩm nông nghiệp là nhân tố quyết định trong tổng thể nền kinh tế của tỉnh. Kinh tế
nông nghiệp tỉnh An giang đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của
toàn tỉnh, bảo đảm an toàn lương thực, bảo đảm nhu cầu tiêu dùng cho nhân dân và
tăng dần sản lượng lương thực xuất khẩu hàng năm. Để đảm bảo ngày càng tốt hơn về
phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh thì nhu cầu nhận lực ngành nghề trong nông
nghiệp ngày càng cao. Đây là lý do để tác giả chọn đề tài: “ Điều tra nhu cầu nhân lực
ngành nghề trong nông nghiệp ở An giang ”. Hơn nữa đề tài nầy rất thực tế:


- Khảo sát - thu thập thực tế khoảng 50 HTXNN ở các Huyện - Thị - TP trong
tỉnh.
- Cùng làm việc với các đơn vị của ngành nông nghiệp ở cấp tỉnh và cấp Huyện -
Thị - TP của tỉnh về nhu cầu nguồn nhân lực của toàn ngành đến năm 2010.
Chủ yếu dùng phương pháp thống kê – phân tích số liệu đã thu thập.
- Nghiên cứu các Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh An giang
1996 – 2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh An giang. Năm 1996.
- Nghiên cứu Quy hoạch phát triển ngành Nông nghiệp 2001- 2010 của sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn An giang. Tháng 3 năm 1999.

1.4- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Do trình độ khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn; nên đề tài chỉ giới hạn tập
trung nghiên một số nội dung cơ bản như sau:
- Nghiên cứu hiện trạng và nhu cầu nhân lực ở các đơn vị thuộc ngành nông
nghiệp của tỉnh và một số HTXNN, hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, hộ xã
viên HTXNN trong tỉnh An giang
- Nghiên cứu xác định những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển
nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp của tỉnh.
- Nghiên cứu đề xuất về nhu cầu nhân lực và những giải pháp phát triển nhân lực
trong ngành nghề nông nghiệp của tỉnh đến năm 2010.
Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
7

CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN V Ề NGUỒN NHÂN LỰC
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
8đơn vị. Từ đó, muốn nâng cao năng suất và hiệu quả trong công tác tổ chức, quản lý,
hoạt động trong tình hình mới của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và thông tin
phát triển thì công tác đào tạo bồi dưỡng nhân lực càng phát triển và chất lượng cao
phù hợp với thời đại khoa học tiên tiến. Bởi vì, khi chúng ta nhập những công nghệ
khoa học mới, những trang thiết bị, máy móc hiện đại,… mà khả năng sử dụng, trình
độ hiểu biết thấp kém về chúng thì sẽ ảnh hưởng xấu rất lớn cho sự phát triển nền kinh
tế quốc gia.

2.2-Vị TRÍ – VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC
DÂN VÀ TỈNH AN GIANG:
2.2.1- Vị trí và vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân:
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành đầu tiên của xã hội loài
người. Nông nghiệp luôn là một ngành kinh tế lớn có một vị trí và vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân.
Việt nam là một nước nông nghiệp; lao động nông nghiệp chiếm khoảng 80%
lao động cả nước. Vì vậy nông nghiệp Việt nam luôn giữ vị trí hàng đầu trong nền
kinh tế.
Vai trò của nông nghiệp đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc dân
trên 4 khía cạnh:
- Đóng góp trên phương diện sản phẩm: cung ứng lương thực - thực phẩm,
nguyên liệu. Nông nghiệp là nguồn cung ứng lương thực - thực phẩm,
nguyên liệu mà hầu như không ngành nào thay thế được.

- Đóng góp trên phương diện cung ứng các yếu tố sản xuất cho phi nông

lương thực cả nước và xuất khẩu.

- Tạo ra những vùng chuyên canh nông sản, cây công nghiệp, phát triển mạnh
chăn nuôi và thuỷ sản tạo nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến.

- Thúc đẩy công nghiệp hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, giải quyết việc
làm và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn.

- Từng bước vươn lên một nền nông nghiệp sạch.

Để có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đi vào thế
kỷ 21, chúng ta cần phải hướng tới nguồn nhân lực con người, bao gồm những con
người như là một thực tế độc lập - tế bào của nguồn lực này, theo định hướng giá trị
sau đây:

Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
10- Con người có bản lỉnh, lý tưởng, niềm tin và quyết tâm thực hiện sứ mệnh vẻ
vang là công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.

- Con người có sức khỏe cường tráng.

- Con người có nhân cách đậm đà bản sắc dân tộc, kết hợp tiếp thu tinh hoa văn
minh nhân loại, mang bản chất nhân văn, nhân đạo, nhân ái trong quan hệ con


- Bảo đảm môi trường dân chủ thuận lợi cho tiến hành giao lưu đồng thuận.
- Có chính sách phát huy tiềm năng của người lao động, bảo đảm hiệu quả của
công việc.
- Phát triển nguồn nhân lực bám sát yêu cầu của thị trường lao động.

Tổ chức quản lý vĩ mô nguồn nhân lực là một vấn đề cấp bách hiện nay.
Chính phủ đã thành lập viện nghiên cứu con người và nguồn nhân lực Hiện nay
nhà nước có Hội đồng quốc gia giáo dục do Thủ tướng trực tiếp điều hành,
nhằm phối hợp các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội phát triển giáo dục và
điều khiển việc thực hiện chiến lược giáo dục.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt nam, Đảng ta luôn luôn chú trọng
yếu tố con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội. Hiện nay, đất nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ phát
huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, …Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng nhấn mạnh: “Đáp ứng yêu cầu về con người và
nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá”. CHƯƠNG 3 – ĐẶC ĐIỂM – TIỀM NĂNG – THỰC TRẠNG
NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở AN GIANG

3.1- ĐẶC ĐIỂM
Trong những năm qua, An giang là một trong những tỉnh năng động,
sớm vận dụng đổi mới cơ chế chính sách phù hợp với quy luật từ những
năm đầu 80; sau Đại hội VI tập trung khắc phục những lệch lạc trong cải tạo
nông nghiệp và công thương nghiệp, tháo gỡ giải phóng sức sản xuất, tạo ra


- Toạ độ địa lý: 10
0
12’ – 10
0
57’ vĩ độ bắc; 104
0
46’ – 105
0
35’ kinh độ đông.
- Diện tích tự nhiên: 3.406,23 km
2
. Mật độ dân số 623 người/km
2

- Đơn vị hành chính: 01 Thành phố, 01 thị xã, và 09 Huyện; 150 phường - xã -
thị trấn ( 122 Xã, 13 phường, 15 thị trấn ). Thành phố Long xuyên là trung tâm
của tỉnh.
- Địa bàn tỉnh có đồng bằng cao trình thay đổi từ 1 đến 5m và đồi núi thấp và
được chia thành 02 vùng kinh tế:

+ Vùng cù lao: diện tích 1.032 km
2
chiếm 30% diện tích toàn tỉnh. Gồm 4 huyện:
Chợ mới, Phú tân, Tân châu và An phú. Đây là vùng có tiềm năng phát triển nông
nghiệp với năng suất cây trồng cao nhất tỉnh.
Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang

4.793
260.446
251.277
234.785
9.169

II- Diện tích mặt nước nuôi
trồng thuỷ sản
1.252 1.461
III- Đất lâm nghiệp 14.362 15.969
IV- Đất chuyên dùng 25.778 26.546
V- Đất ở 19.899 17.815
VI- Đất chưa sử dung 24.025 18.386

Tóm lại vị trí địa lý, địa hình của An giang rất thuận lợi cho tỉnh phát triển một
nền kinh tế thị trường đa dạng, mở rộng giao lưu kinh tế với bên ngoài. Tuy nhiên, lũ
lụt vừa mang lại những lợi ích to lớn về phù sa cho đồng ruộng, về thuỷ sản,… cũng
vừa gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với đời sống và sản xuất.

3.2.1.4 Khí hậu thuỷ văn.
Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
14An giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa
rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 với gió Tây Nam.

Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
15chiếm 8%). Trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 82 %.( 1.222.575
người).

* Bảng 3.2- Dân số và nguồn lao động.( Người )

ĐVT 1998 1999 2000 2001 2002
Dân số trung bình người 2.032.763 2.054.494 2.076717 2.099.241 2.122.539
Lao động trong độ tuổi người 1.133.342 1.177.744 1.194.189 1.225.375 1.256.562
Công nhân viên chức NN người 37.426 39.474 41.359 42.114 43.145

Mặc dù số lượng lao động lớn nhưng chất lượng nguồn lao động nhìn chung
còn thấp. Số đông lao động trong tỉnh là trẻ tuổi, cần cù siêng năng, nhạy bén trong
tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật, dễ thích nghi cách làm ăn với nền kinh tế
thị trường, nhưng trên 90% là lao động thủ công. Tỷ trọng lao động kỹ thuật còn
thấp, chiếm khoảng 4% lực lượng lao động.

- Thành phần dân tộc: người Việt chiếm 97% còn lại là các dân tộc: Hoa, Chăm,
Khơme.

3.2.2-Kinh tế - Xã hội.
3.2.2.1- Kinh tế:
- Ngành cơ khí, đến năm 1994 điện khí hóa toàn tỉnh An giang. Có 100%
phường – xã - Thị trấn đều có hệ thống điện nhà nước được sử dụng rộng rãi trong


- Tổng Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn An giang năm 2002: 1.756.903 triệu
đồng, tăng 12,6% so với năm 2001 (Năm 2001 Thu NSNN: 1.560.765 triệu
đồng ).

- Tổng Chi ngân sách địa phương năm 2002: 1.463.469 triệu đồng. Tăng 9,7 %
so với năm 2001. (Tổng chi NS địa phương năm 2001: 1.333.665 triệu đồng)

3.2.2.2- Xã hội.
Nhờ phong trào tăng vụ khai hoang phục hoá và đổi mới chính sách trong nông
nghiệp, phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và chương trình giúp
vốn giải quyết việc làm ,… đã thu hút, giải quyết trên 300 ngàn người có công ăn
việc làm ( năm 2002 ). Mức sống nhân dân được cải thiện nâng cao một bước, số
hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm xuống. Những kết quả về xây dựng giao thông
nông thôn, phủ lưới điện,… đã làm cho bộ mặt nông thôn An giang đang khởi sắc
đổi mới, kể cả vùng sâu, vùng nuí, và vùng biên giới.

- Y tế:
Điều tra nhu cầu nhân lực ngành nghề trong nông nghiệp ở An Giang Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
17 Đã có 100% xã - phường đều có trạm y tế. Địa phương đã tổ chức phối hợp với
các ngành các cấp đẩy mạnh công tác truyền thông dân số, tổ chức cung ứng dịch
vụ, hướng dẫn nhân dân về biện pháp kế họach hoá gia đình, phòng trừ các bệnh
thông thường để người dân tự bảo vệ sức khỏe và từng bước phát huy rộng rãi .

Chủ nhiệm đề tài: Tô Thiện Hiền Trang
18
Cơ sở dạy nghề của tỉnh: có 11 trung tâm giáo dục dạy nghề của 11 huyện - thị
- TP.

-Văn hoá:
Có 1 trung tâm văn hoá tỉnh và 11 trung tâm văn hoá Huyện - Thị - Tp tổng số
buổi biểu diễn trong năm 2002 là 1.284 buổi, tăng 6% so với năm 2001 ( năm
2001: 1.212 buổi )

Có 01 thư viện tỉnh và 11 thư viện Huyện - Thị - Tp. Tổng số sách trong hệ
thống thư viện năm 2002 là 395.278 bản, tăng 8% so với năm 2001 (năm 2001:
366.083 bản ). Tổng lượt người đọc trong năm 2002 là 722.010 người, tăng 27% so
với năm 2001 ( năm 2001: 570.690 người )

3.3-THỰC TRẠNG NHÂN LỰC NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG NGHIỆP
Ở AN GIANG

3.3.1- Sơ lược về nguồn nhân lực của tình An giang
Các điều kiện tự nhiên của An giang rất phù hợp cho phát triển nền nông nghiệp
hàng hoá tương đối toàn diện, đặc biệt là cây lúa nước và nuôi trồng thuỷ sản. Đi
đôi với xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, ổn định và lâu dài, cần được đầu tư
chiều sâu trực tiếp cho các ngành nông nghiệp, thực hiện đầy đủ trách nhiệm trước
đất nước. Cần phát triển mạnh các ngành cơ khí, dịch vụ phục vụ nông, ngư
nghiệp, các ngành công nghiệp chế biến, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến

thấp, mới chiếm khoảng 4% lực lượng lao động.

3.3.2-Khảo sát thực tế nhân lực ở các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp
An giang vào tháng 8 năm 2003.

**- ( Kèm phụ lục 1)

*Giải thích phụ lục 1:
3.3.2.1- Loại quản lý nhà nước (sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn)
- Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn là đơn vị quản lý nhà nước thực hiện
chức năng quản lý ngành nông nghiệp địa phương bằng những chủ trương,
chính sách của đảng và nhà nước tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp An
giang phát triển bền vững đáp ứng nhu cầu phát triển chung của đất nước; đồng
thời là đơn vị tham mưu cho UBND tỉnh và Bộ nông nghiệp & phát triển nông
thôn có những chủ trương chính sách phù hợp cho sự phát triển của ngành và
các ngành khác góp phần phát triển địa phương và đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status