MỤC LỤC
ảnh minh họa
Trang
MỞ ĐẦU
……………………………………………………………………. 2
NỘI DUNG
………………………………………………………………… 3
I. Khái niệm
……………………………………………………………….3
II. Ý nghĩa các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật đối với việc
truy
cứu trách nhiệm pháp lí
……………………………………………….3
1. Mặt khách quan
…………………………………………… 4
2. Mặt chủ quan
……………………………………………… 6
3. Mặt chủ thể
………………………………………………….7
4. Mặt khách thể
……………………………………………….7
KẾT LUẬN
………………………………………………………………… 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
…………………………………….9
MỞ ĐẦU
Vi phạm pháp luật là một hiện tượng nguy hiểm, tác động xấu
đến nhiều mặt của đời sống xã hội, làm mất ổn định trật tự an toàn
xã hội. Hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện bởi các chủ thể có
năng lực trách nhiệm pháp lí xâm hại tới các lợi ích hợp pháp, chính
đáng của cá nhân, tổ chức, nhà nước, cũng như của toàn xã hội, mà
trong trường hợp chủ thể vi pham pháp luật. Như vậy, trách nhiệm
pháp lí chính là hoạt động áp dụng bộ phận chế tài của quy phạm
pháp luật, là việc xử lí đối với chủ thể vi phạm pháp luật.
Mục đích của truy cứu trách nhiệm pháp lí là nhằm: giữ gìn ổn
định, trật tự xã hội, đảm bảo cho trật tự xã hội được ổn định, an toàn
và phát triển đúng hướng; trừng trị các chủ thể vi phạm pháp luật
đồng thời phòng ngừa, cải tạo và giáo dục họ; răn đe, phòng ngừa
đối với những người xung quanh; tạo cho mọi người có niềm tin vào
pháp luật và công lí từ đó thực hiện nghiêm minh các quy định của
pháp luật và quy tắc công cộng; góp phần khôi phục trạng thái ban
đầu của các quan hệ xã hội trước khi nó bị xâm phạm …
II. Ý nghĩa các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật đối với việc
truy cứu trách nhiệm pháp lí.
Để có thể tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí đối với chủ thể
vi phạm pháp luật thì các chủ thể có thẩm quyền phải nghiên cứu,
tìm hiểu, phân tích những nguyên nhân, những điều kiện dẫn đến
hành vi vi phạm pháp luật, hay nói cách khác là phải phân tích rõ
4
các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật. Cấu thành vi phạm
pháp luật là toàn bộ những yếu tố, những bộ phận hợp thành một vi
phạm pháp luật cụ thể, bao gồm mặt khách quan, chủ quan, chủ thể
và khách thể.
1. Mặt khách quan của vi phạm pháp luật.
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện ra
bên ngoài của vi phạm pháp luật. Nó bao gồm các yếu tố: hành vi
trái pháp luật, hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra, mối quan hệ
giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả nó gây ra cho xã hội, thời
gian, địa điểm, phương tiện, cách thức và phương tiện,…
Có thể nói để truy cứu trách nhiệm pháp lí thì điều đầu tiên là
phải xác định được trong thực tế đã xảy ra hành vi trái pháp luật
chính. Nhưng trên thực tế Luyện đã phạm tội giết nhiều người được
quy định tại điều 93 – Bộ luật hình sự năm 1999 với mức án được
quy định là phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung
thân hoặc tử hình.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại
cho xã hội là căn cứ quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lí. Sự
thiệt hại của xã hội là do chính hành vi trái pháp luật đó trực tiếp
gây ra nghĩa là, sự thiệt hại của xã hội xảy ra là hậu quả tất yếu của
6
hành vi trái pháp luật. Cho nên cần phải xác định chắc chắn rằng sự
thiệt hại của xã hội là do chính hành vi trái pháp luật đó gây ra.
Tuyệt đối không được suy diễn về hậu quả, bởi không thể bắt chủ
thể chịu trách nhiệm pháp lí về thiệt hại mà hành vi trái pháp luật
của họ trực tiếp gây ra. Ví dụ: anh A đi xe máy không đúng làn
đường quy định nên đã đâm vào anh B, hậu quả là làm cho anh B bị
thương nặng phải vào bệnh viện. Sau khi làm anh B bị thương thì
anh A đã đưa anh B vào bệnh viện chữa trị. Do thương tích của anh
B quá nặng cần phải mổ để chữa trị vết thương, nhưng vết thương
đó có thể lành và hoàn toàn không gây nguy hiểm đến tính mạng
của anh B. Nhưng trước khi mổ thì bác sĩ đã không xét nghiệm máu
của anh B, kết quả là anh B đã tử vong trong khi mổ do mất nhiều
máu vì máu của anh B khó đông mà bác sĩ lại không kiểm tra từ
trước. Như vậy, trong trường hợp này bác sĩ là người phải chịu trách
nhiệm pháp lí, vì tuy anh A gây ra vết thương cho anh B nhưng đây
không phải là nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh B mà nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của anh B là do sự bất cẩn của bác
sĩ. Để việc truy cứu trách nhiệm pháp lí được đúng, chính xác và
thuyết phục thì phải căn cứ vào các yếu tố như: thời gian, địa điểm,
phương tiện,…
2. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật.
Chủ thể vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc tổ chức có
năng lực trách nhiệm pháp lí, nghĩa là theo quy định của pháp luật
thì họ phải chịu trách nhiệm pháp lí đối với hành vi trái pháp luật
của mình trong trường hợp đó. Nếu chủ thể là cá nhân thì khi truy
cứu trách nhiệm pháp lí thì phải xác định người đó đã đạt độ tuổi
phải chịu trách nhiệm pháp lí theo quy định của pháp luật hay chưa
và trạng thái tâm lí (thần kinh) của họ như thế nào ở thời điểm họ
thực hiện hành vi trái pháp luật đó. Những người chưa đủ độ tuổi
hoặc không có khả năng nhận thức, điều khiển được hoạt động của
bản thân thì không được tiến hành hoặc phải tạm dừng, hủy bỏ việc
truy cứu trách nhiệm pháp lí. Trong ví dụ của Lê Văn Luyện thì chủ
thể ở đây là Lê Văn Luyện đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và
hoàn toàn có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của
mình.
Nếu chủ thể là tổ chức thì phải chú ý đến tư cách pháp nhân
hoặc địa vị pháp lí của tổ chức đó. Ví dụ: Công ty Vedan xả nước
thải không qua xử lí ra sông Thị Vải làm ô nhiễm nặng môi trường
sinh thái. Theo quy định của pháp luật thì việc gây ô nhiễm môi
trường với hậu quả nghiêm trọng thì sẽ bị xử phạt hình sự. Nhưng
công ty Vedan chỉ bị xử phạt hành chính bởi pháp luật nước ta chưa
quy định chế tài hình sự đối với pháp nhân.
4.Về mặt khách thể của vi phạm pháp luật.
Khách thể vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được
pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại. Tính
chất và tầm quan trọng của các quan hệ xã hội là hai căn cứ để đánh
9
giá mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật, căn cứ để
quyết định có hay không tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí.
Những điều mà pháp luật không xác lập, bảo vệ thì cho dù làm trái
hay vi phạm cũng không bị truy cứu trách nhiệm pháp lí như các
tham gia tích cực hợp tác điều tra với các cơ quan chức năng; nâng
cao ý thức của điều tra viên và có các biện pháp xử lí nghiêm khắc
đối với các trường hợp lợi dụng chức quyền mà làm trái quy định
của pháp luật; đồng thời đẩy mạnh các biện pháp phòng và chống vi
phạm pháp luật trong xã hội.
DANH MỤC TÀI LIÊU THAM KHẢO
1. Bộ luật hình sự năm 1999, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000.
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lí luận nhà nước và
pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011.
3. Tập thể tác giả. Đồng chủ biên: TS Nguyễn Thị Hồi - TS Lê
Vương Long. Nội dung cơ bản của môn học lí luận nhà nước
và pháp luật. Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội, 2008.
11
4. Lê Vương Long (chủ biên), Trách nhiệm pháp lí - Một số vấn
đề lí luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân,
Hà Nội, 2008.
5. Bùi Xuân Phái, Vi phạm pháp luật - Một số vấn đề lí luận và
thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001.
6. http:www.cand.com.vn/vi-VN/cstc/2001/10/157807.cand
7. http://tks.edu.vn/portal/detail/5025_66__Mot-so-giai-phap-
thao-g%E1%BB%A1-vuong-mac,-bat-cap-trong-giai-quyet-
va-kiem-sat-viec-giai-quyet-to-giac,-tin-bao-ve-toi-pham-giet-
nguoi.html
8. http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Phap-nhan-thoat-an-hinh-
su-bat-cap-hay-lo-hong-co-che/2131539668/218/
12