TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012- 2015)
TÊN ĐỀ TÀI
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO CÁC
YẾU TỐ CẤU THÀNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Đinh Thanh Phương
Bộ môn: Luật Hành chính
Sinh viên thực hiện:
Hà Thị Mỹ Xuân
MSSV: S120107
Lớp: Luật VB2 Đồng Tháp
Cần Thơ, tháng 11 năm 2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................................1
1. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………….2
2. Phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………………...2
3. Kết cấu của đề tài ………………………………………………………………...2
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ CÁC YẾU
TỐ CẤU THÀNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA …………...3
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ PHÁP QUYỀN XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA …………………………………………………………………...3
1.1.1 Lý luận chung về nhà nước pháp quyền ………………………………….3
1.1.1.1 Khái niệm về nhà nước và nhà nước pháp quyền ……………………….3
2.2.1.2 Thực hiện quyền hành pháp ……………………………………………29
2.2.1.3 Thực hiện quyền tư pháp……………………………………………….30
2.2.2 Cơ chế phối hợp trong tổ chức quyền lực nhà nước …………………...30
2.2.2.1 Thực hiện quyền lập Hiến, lập pháp …………………………………...30
2.2.2.2 Thực hiện quyền hành pháp ……………………………………………32
2.2.2.3 Thực hiện quyền tư pháp ……………………………………………….34
2.2.3 Cơ chế kiểm soát trong tổ chức quyền lực nhà nước ………………….35
2.2.3.1 Thực hiện quyền lập Hiến, lập pháp …………………………………...35
2.2.3.2 Thực hiện quyền hành pháp…………………………………………….36
2.2.3.3 Thực hiện quyền tư pháp ……………………………………………….39
2.3 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO YẾU TỐ
THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT …………………………………………………….40
2.3.1 Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp
luật………………………………………………………………………………..40
2.3.2 Mọi chủ thể, mọi hoạt động phải tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp
luật và bình đẳng trước pháp luật ……………………………………………..41
2.4 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO YẾU QUYỀN
CON NGƯỜI ĐƯỢC TÔN TRỌNG ……………………………………………...43
2.5 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO YẾU TỐ ĐẢM
BẢO SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM …………………..47
2.6 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO YẾU TỐ CÁC
CAM KẾT QUỐC TẾ ĐƯỢC NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO THỰC HIỆN ………..48
CHƯƠNG 3. HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HỆ
THỐNG PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ……………………………………………....50
3.1 HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO YẾU TỐ TẤT CẢ CÁC QUYỀN LỰC NHÀ
NƯỚC THUỘC VỀ NHÂN DÂN ………………………………………………...50
3.3.1 Hạn chế ………………………………………………………………..….63
3.3.1.1 Những hạn chế trong hệ thống pháp luật nước ta ………………...…...63
3.3.1.2 Những hạn chế trong công tác tổ chức thực hiện và giáo dục pháp
luật……………………………………………………………………………………….65
3.3.2 Kiến nghị ………………………………………………………………......66
3.3.2.1 Nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật …………………………...…66
3.3.2.2 Hoàn thiện các quy định về công tác thực thi, phổ biến và giáo dục
pháp luật …………………………………………………………………..…..67
3.4 HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO YẾU TỐ QUYỀN CON NGƯỜI ĐƯỢC TÔN
TRỌNG…………………………………………………………………...…………67
3.4.1 Hạn chế ………………………………………………………………...….67
3.4.2 Kiến nghị …………………………………………………………………..68
3.5 HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO YẾU TỐ ĐẢM BẢO SỰ LÃNH ĐẠO CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ………………………………………………..…69
3.5.1 Hạn chế ………………………………………………………………...….69
3.5.2 Kiến nghị ……………………………………………………………….....69
3.6 HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO YẾU TỐ CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ ĐƯỢC
ĐẢM BẢO THỰC HIỆN ………………………………………………………....70
3.6.1 Hạn chế ……………………………………………………………..…….70
3.6.2 Kiến nghị ………………………………………………………………....70
KẾT LUẬN …………………………………………………………………..………...72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
LỜI NÓI ĐẦU
của Đảng, tổ chức bộ máy nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cơ chế thực hiện
quyền lực nhà nước, phát huy quyền con người…
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
Trang 1
SVTH: Hà Thị Mỹ Xuân
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
Từ những nhận định trên cho thấy, hiện nay chính là thời điểm tốt nhất để hoàn thiện
hệ thống pháp luật đảm bảo các yếu tố xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Vì lý do trên sinh viên thực hiện luận văn chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống pháp luật
nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu luận văn cử nhân luật.
5. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu khi thực hiện luận văn này là góp phần làm rõ các vấn đề lý
luận về nhà nước pháp quyền nói chung, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng.
Nêu ra các quy định pháp luật hiện hành đảm bảo các yếu tố cấu thành nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Từ đó phân tích, nhận xét, nêu lên những hạn chế trong các quy
định pháp luật, sau đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống các quy định pháp
luật để đảm bảo các yếu tố cấu thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
6. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian thực hiện luận văn và khả năng của người viết có hạn nên người viết chỉ
phân tích một số quy định pháp luật có liên quan trong Hiến pháp 2013, các luật về tổ chức
bộ máy nhà nước, Luật giám sát của Quốc hội, Bộ luật hình sự, Luật xử lý vi phạm hành
chính, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và một số văn bản hiện
hành có liên quan đến các yếu tố cấu thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
7. Kết cấu của đề tài
1.1.1.1 Khái niệm về nhà nước và nhà nước pháp quyền
Khái niệm nhà nước
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, việc hình thành Nhà nước là một bước
tiến vượt bậc. Nhà nước được xem là một sản phẩm của quá trình phát triển xã hội. “Nhà
nước là một hiện tượng phức tạp nên có nhiều quan niệm khác nhau về nhà nước, và do vậy
cũng có nhiều cách xác định nhà nước từ những phương diện khác nhau. Tồn tại một số
quan niệm cơ bản sau về nhà nước như: Nhà nước là Chúa trời; Vua chính là nhà nước (nhà
nước là Trẫm); Nhà nước là tòa tháp (trên đỉnh tháp là Vua, tiếp đến là các quan đại thần…
dưới chân tháp là dân); Nhà nước là gia đình mở rộng (cả xã hội là một gia đình và Vua là
“Cha” của cả xã hội; Nhà nước là trọng tài công minh đứng trên xã hội để bảo vệ lợi ích của
tất cả mọi người trong xã hội; Nhà nước là đội quân vũ trang được tách khỏi xã hội để làm
nghề cai trị (quản lý); Nhà nước là bộ máy cưỡng chế của giai cấp này đối với giai cấp khác;
Nhà nước là tổ chức (bộ máy) có trách nhiệm duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với
giai cấp khác; Nhà nước là cơ quan quyền lực chính trị; Nhà nước là sản phẩm của sự phát
triển xã hội, “là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa
được”; v.v..”1 “Các quan điểm hiện đại đều cho rằng, nhà nước là một hình thức tổ chức của
con người khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định”.2 Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã
hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp, có lợi ích đối lập nhau, nó buộc phải tổ chức thành nhà
nước. Như vậy, nhà nước là một tổ chức của xã hội. Để quản lý xã hội, đòi hỏi nhà nước
1
2
Nguyễn Minh Đoan, Giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.23-24.
Nguyễn Minh Đoan, Giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.24.
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
Trang 3
quyền là một hình thức nhà nước vì nó có cách tổ chức, hoạt động đối nghịch với nhà nước
độc tài, chuyên chế; đối nghịch với hình thức nhà nước được tổ chức theo phương pháp nhân
trị và cũng đối nghịch với hình thức nhà nước được tổ chức theo pháp trị. Ngoài ra còn nhiều
ý kiến của các nhà khoa học khác bàn về nhà nước pháp quyền.4
Từ những ý kiến trên về nhà nước pháp quyền cho thấy đây không phải là một kiểu nhà
nước, đó chỉ là những đòi hỏi, những giá trị phổ biến, là biểu hiện rõ rệt của một trình độ
3
Nguyễn Minh Đoan, Giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 24.
Nguyễn Duy Quý, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân- lý luận và thực tiễn, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 149-152.
4
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
Trang 4
SVTH: Hà Thị Mỹ Xuân
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
phát triển dân chủ, một cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Bên
cạnh những nội dung có tính chất nguyên tắc được áp dụng chung cho các nước thì nhà nước
pháp quyền ở các nước khác nhau được xác lập không hoàn toàn giống nhau. Song giữa các
nước ấy đều có mục đích chung đó là sự vươn tới tự do của loài người, phục vụ con người,
là sự cố gắng một cách có ý thức ngăn chặn một nhà nước bạo lực và buộc nhà nước phải
tôn trọng luật pháp và các quyền của con người, phấn đấu vì hạnh phúc của con người.5
Từ những phân tích trên cho thấy, nói đến nhà nước pháp quyền là nói đến đòi hỏi của
một nhà nước. Đó là “một tổ chức công quyền được thành lập và hoạt động trên cơ sở pháp
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
Trang 5
SVTH: Hà Thị Mỹ Xuân
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
toàn xã hội tham gia và hiến pháp phải được toàn xã hội thừa nhận. Một mặt quyền lực đó
còn được thể hiện bằng cách, thông qua hiến pháp người dân trao quyền của mình cho các
cơ quan nhà nước để quản lý xã hội, đồng thời thông qua hiến pháp người dân giới hạn
quyền của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, các cá nhân và kiểm soát hoạt động của các
cơ quan, tổ chức, cá nhân nêu trên.
Tuy nhiên hiến pháp chỉ là một văn bản luật quy định những vấn đề cơ bản, chung
chung điều chỉnh toàn xã hội. Vì thế, hiến pháp phải được cụ thể hóa thành các văn bản luật
và dưới luật với điều kiện các văn bản này phải hướng về hiến pháp, tuân thủ tuyệt đối hiến
pháp cả về nội dung lẫn hình thức. Từ đó có thể nói ý chí và nguyện vọng của nhân dân sẽ
được thể hiện thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói chung, hiến pháp, luật và
các văn bản dưới luật nói riêng.
Thứ ba, nhà nước pháp quyền phải luôn tăng cường pháp chế. Pháp luật và pháp chế
là hai khái niệm khác nhau hoàn toàn, nhưng giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ gắn bó
không thể tách rời nhau. Có pháp luật chưa hẳn đã có pháp chế, nhưng pháp chế không thể
tồn tại nếu thiếu pháp luật nói chung, hay nói một cách cụ thể thì hệ thống pháp luật hoàn
chỉnh là điều kiện cần để có một nền pháp chế. Ta có thể hiểu “Pháp chế là sự đòi hỏi các
chủ thể pháp luật phải tôn trọng và triệt để thực hiện nghiêm các quy phạm pháp luật”.7
Điều kiện cơ bản để xây dựng nhà nước pháp quyền là phải xây dựng được một nền
pháp chế thực thụ. Nghĩa là trong nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động của nhà nước, cơ
quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang và mọi công dân đều
phải dựa trên cơ sở pháp luật, luôn phù hợp với Hiến pháp và pháp luật.8 Nhà nước là cơ
vừa khoa học, hiệu quả vừa hợp pháp. Quyền lực nhà nước phải được tổ chức một cách hợp
lý có sự phân công và phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Việc tổ chức
quyền lực nhà nước phải thực hiện trên cơ sở pháp luật, đảm bảo tính minh bạch rõ ràng,
hợp lý và thực sự hiệu quả. Có đảm bảo các yếu tố đó trong việc tổ chức quyền lực nhà nước
thì quyền lực nhà nước (cũng chình là lợi ích và quyền lực của nhân dân, của toàn xã hội)
mới được đảm bảo và dân chủ mới được phát huy triệt để).
Vì vậy, tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực trong nhà nước rất đa
dạng, (tùy thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội ở các nước khác nhau), nhưng có
điểm chung là quyền lực nhà nước không tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà
phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải
được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy
nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước.
Thứ năm, trong nhà nước pháp quyền, con người là giá trị cao quý nhất, do đó sự phát
triển của cá nhân con người là mục tiêu cao quý nhất. Giá trị con người luôn được pháp luật
thừa nhận và tôn trọng trong nhà nước pháp quyền. Vì dù tồn tại trong kiểu nhà nước nào,
chức năng và bản chất thực sự của nhà nước pháp quyền là đem lại tự do và hạnh phúc cho
con người. Trong nhà nước pháp quyền, con người được đặt vào vị trí trung tâm của mọi
chính sách xã hội do nhà nước đề ra. Vì con người là mục tiêu mà nhà nước pháp quyền
hướng tới để phục vụ.
Thứ sáu, nhà nước pháp quyền phải dân chủ hóa mọi mặt của đời sống nhà nước và xã
hội. Phát huy được tính dân chủ là mục tiêu chính yếu của việc xây dựng nhà nước pháp
quyền của tất cả các quốc gia. Mọi mặt của đời sống nhà nước và xã hội phải được dân chủ
hóa. Điều này chính là tiền đề để phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, vừa đảm
bảo được yếu tố tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân vừa đảm bảo được yếu tố con
người là giá trị cao quý nhất.
Thứ bảy, nhà nước pháp quyền phải nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết quốc tế mà
nhà nước đã ký kết hoặc tham gia. Đồng thời phải đặt hệ thống pháp luật của nước mình
trong mối quan hệ phù hợp với pháp luật quốc tế. Thượng tôn pháp luật cũng như pháp chế
là những đặc điểm không thể thiếu khi xây dựng nhà nước pháp quyền, để đảm bảo hiện
niệm đầu tiên chính là quan niệm ngây thơ của người xưa cho rằng lẽ phải, công bằng, pháp
luật do Thượng đế sinh ra, là những gì hợp với lẽ thường của Trời- Đất, chứ không phải sự
áp đặt của quyền lực.10 Qua quá trình phát triển của lịch sử xã hội, những ý niệm ban đầu
trên đây đã được nhiều người quan tâm và nghiên cứu. Các nhà tư tưởng đã đưa ra nhiều học
thuyết về nhà nước và pháp luật để quản lý, phục vụ lợi ích của xã hội, nhằm mang lại tự do,
dân chủ cho người dân.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ đã hình
thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng phương Tây cổ đại
như: Xôlông (638- 559 tr. CN) xác định sẽ “giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của
pháp luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật”. Theo ông “chỉ pháp luật mới thiết lập
được trật tự và tạo nên sự thống nhất”; Pitago (580 – 500 tr. CN) đòi phải thực hiện mệnh
9
Nguyễn Minh Đoan, Giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 269.
Trần Hậu Thành, Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr. 18.
10
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
Trang 8
SVTH: Hà Thị Mỹ Xuân
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
lệnh của nhà nước, tức là phải tuân thủ pháp luật. Pháp luật phải được đặt cao hơn các phong
tục, tập quán không thành văn; Hêracơlit (530-470 tr. CN) quan niệm rằng, pháp luật là
phương thức thực hiện cái phổ biến. Do đó, “nhân dân phải đấu tranh bảo vệ pháp luật như
Nguyễn Duy Quý, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân- Lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 12- 16.
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
Trang 9
SVTH: Hà Thị Mỹ Xuân
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
xác lập trường phái pháp gia ở Trung Quốc cổ đại, ông đặc biệt coi trọng pháp luật. Hàn Phi
cho rằng trong việc trị nước thì pháp luật là cái quan trọng nhất “không có nước nào luôn
luôn mạnh, cũng không có nước nào luôn luôn yếu. Hễ những người thi hành pháp luật
mạnh thì nước mạnh, còn hễ có người thi hành pháp luật yếu thì nước yếu”. Mọi việc làm
của vua đều phải dựa vào pháp luật. Một khi pháp luật đã được ban hành thì việc thi hành
pháp luật phải như nhau đối với mọi người, có nghĩa là mọi người kể cả vua cũng bình đẳng
trước pháp luật. Hàn Phi là người phát triển tư tưởng pháp trị lên đỉnh cao. Có thể thấy học
thuyết pháp trị cổ đại Trung Hoa thể hiện rõ những tư tưởng chủ yếu sau: pháp luật là công
cụ của quyền lực chính trị; Pháp luật phải phù hợp với đời sống xã hội theo nguyên tắc thời
biến thì pháp phải biến; Pháp luật phải thi hành triệt để, nghiêm minh không có chổ cho
riêng tư cá nhân, pháp luật phải được thi hành một cách công bằng.12 Quan niệm của các nhà
tư tưởng Trung Hoa cổ đại có ảnh hưởng đến tư tưởng về nhà nước và pháp luật ở Việt Nam
thời phong kiến.
Ở phương Tây, đêm dài trung cổ kéo dài hàng nghìn năm dưới ách thống trị của chế độ
chuyên chế vương quyền, thần quyền. Nhà nước không hoặc ít biết đến pháp quyền. Tuy
nhiên thời kỳ này có không ít nhà tư tưởng tiến bộ đã đấu tranh để bảo vệ và phát triển thêm
những ý tưởng về nhà nước pháp quyền thời cổ đại. Đó là các nhà thần học như: G
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
Đức như G. K Hécbơ, P. Laban, H. Êlinê và Lerinh v.v.. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ
hai (1945) cho đến những thập kỷ gần đây, vấn đề nhà nước pháp quyền lại được nghiên cứu
ở nhiều nước phương Tây.15
Riêng với lịch sử tư tưởng ở Việt Nam, “Tư tưởng về nhà nước pháp luật thời đại
Hùng Vương, An Dương Vương tuy còn phôi thai nhưng đã hình thành đường nét và đặt nền
móng những tư tưởng chính trị, pháp luật tiếp tục hình thành và phát triển trong suốt quá
trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta”.16 Trong thời kỳ phong kiến ở nước ta, giai
đoạn thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII, đây là giai đoạn mà pháp luật được chú trọng và đề cao.
Sau này, thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, nước ta xuất hiện những nhà tư tưởng theo chủ nghĩa
canh tân ủng hộ quan điểm pháp trị và cũng phải nói đến sự xuất hiện của tư tưởng lập hiến
tiến bộ của các nhà tư tưởng Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Chu
Trinh, Phan Bội Châu. Tuy thuộc những trường phái khác nhau nhưng những nhà tư tưởng
trên cũng đã đặt nền móng cho tư tưởng pháp quyền hình thành và phát triển ở Việt Nam sau
này.
1.1.2 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.1.2.1 Khái niệm
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một hiện tượng chính trị pháp lý phức tạp,
hay nói cách khác nó không phải là một kiểu nhà nước mà là cách thức tổ chức nhà nước và
phương thức quản lý xã hội của nhà nước đó.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền được hình thành và vận động qua một tiến trình lịch
sử lâu dài. Học thuyết nhà nước pháp quyền không chỉ là sản phẩm của riêng xã hội tư sản
mà nó là giá trị thực thụ của nền văn minh nhân loại. Học thuyết này cũng được các nước xã
hội chủ nghĩa nghiên cứu và vận dụng vào từng hoàn cảnh vụ thể. Tùy vào điều kiện lịch sử
xã hội, kinh tế chính trị khác nhau mà học thuyết về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
được phát triển theo hướng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Vì thế không thể đưa ra một khái
niệm cụ thể về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo những quan niện khác nhau thì có thể đưa
ra những khái niệm khác nhau, hiện nay ở nước ta chưa có một khái niệm chính thức về vấn
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với bản chất và điều kiện kinh tế, chính trị,
xã hội của từng thời kỳ. Như vậy chức năng suy cho cùng là công cụ để thực hiện nhiệm vụ,
còn nhiệm vụ là cái đích đến của nhà nước khi thực hiện chức năng.“Để thực hiện được
nhiệm vụ tổ chức và quản lý rộng lớn, toàn diện đó, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
phải thực hiện nhiều chức năng trong đối nội cũng như đối ngoại”.18 Các chức năng dù xuất
phát từ tính xã hội hay tính giai cấp thì chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đều
hướng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chung của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là đem lại nền tự do dân chủ cho nhân dân. Các chức năng chính yếu của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Thứ nhất, chức năng bảo vệ chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Đây là
một chức năng chủ yếu của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, có thực hiện tốt chức năng này thì
nhà nước mới có thể thực hiện được các chức năng mang tính chất đối nội khác.
Thứ hai, chức năng tổ chức quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Chức năng này nằm trong hệ thống chức năng của nhà nước, nó là một chức năng thể
hiện rõ vai trò của nhà nước đối với đời sống kinh tế xã hội nói chung. Nền kinh tế Việt
Nam chính là nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên
có nhiều điểm đặc trưng khác biệt với các nền kinh tế thị trường thuần túy khác. Vì thế để
thực hiện chức năng tổ chức quản lý nền kinh tế của Việt Nam thì nhà nước ta phải có những
phương cách đặc biệt so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, chức năng tổ chức quản lý nền
kinh tế của Việt Nam không tách rời nội hàm chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước nói
chung.
17
Nguyễn Minh Đoan, Giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 45.
Nguyễn Duy Quý, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân- Lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 178- 179.
18
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
quả cách mạng và đảm bảo điều kiện để công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực đời
sống xã hội, trong đó có công cuộc đổi mới kinh tế giành được thắng lợi.
“Việc thực hiện chức năng bảo vệ trật tự an toàn xã hội được thể hiện qua các mặt như
xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ trật tự an toàn xã hội, tổ chức thực
19
Nguyễn Duy Quý, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân- Lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 185- 190.
20
Nguyễn Duy Quý, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân- Lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 198.
21
Nguyễn Duy Quý, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân- Lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 207.
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
Trang 13
SVTH: Hà Thị Mỹ Xuân
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
hiện tốt những quy định nói trên, đồng thời xử lý kịp thời và nghiêm minh hành vi phạm
pháp”.22
Thứ năm, chức năng mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
hợp tác và hữu nghị với các dân tộc vì hòa bình, ổn định và phát triển. Đây là một chức
năng không thể thiếu của mỗi nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế dang diễn ra sâu
23
Nguyễn Văn Mạnh, Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam- Lý luận và thực tiễn, Nxb chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 137-139.
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
Trang 14
SVTH: Hà Thị Mỹ Xuân
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
1.2 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
1.2.1 Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Đây là một yếu tố cơ bản vì nó mang bản chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo yếu tố trên. Xét
cho cùng cái đích mà nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hướng tới là xây dựng một nền
dân chủ thực thụ.
Cái gốc của nhà nước pháp quyền là xác lập dân chủ, tức là thừa nhận và đảm bảo
quyền lực nhà nước của nhân dân, thể hiện quyền lực nhà nước một cách chính đáng nhất.
Trong nhà nước đề cao dân chủ như nhà nước pháp quyền, thì đòi hỏi đầu tiên là phải tôn
trọng quyết định chính trị và sự lựa chọn chính trị của nhân dân. Việc sử dụng và thực thi
quyền lực nhà nước phải phản ánh cho được sự tôn trọng đó. Quyền lực nhà nước là sản
phẩm của ý chí nhân dân. Vì vậy, yếu tố tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là dấu
hiệu đặc trưng đầu tiên của nhà nước pháp quyền.24
“Theo tiếng Hy Lạp “Democratos” có nghĩa là quyền lực nhân dân (Demo- nhân dân;
Cratos- sức mạnh, quyền lực), là khái niệm xuất hiện ngay từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại”.25
Khái niệm dân chủ xuất hiện từ thời kỳ cổ đại trong lịch sử xã hội loài người. Khi bàn về
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo các yếu tố cấu thành Nhà nước pháp quyền XHCN VN
góc độ, khía cạnh khác nhau. Dân chủ là: phương thức của phong trào chính trị xã hội của
quần chúng; là hình thức nhà nước, hình thức tổ chức nhà nước hình thức tổ chức và thực
hiện quyền lực xã hội; là một hệ thống quyền hành, tự do và trách nhiệm của công dân được
quy định bởi Hiến pháp và pháp luật là nguyên tắc tổ chức toàn thể xã hội với tư cách là chế
độ chính trị.27
Dù nghiên cứu vấn đề ở khía cạnh nào thì, theo người viết nhìn chung dân chủ là quyền
lực thuộc về nhân dân. “Dân chủ là dân làm chủ và dân là chủ” (theo chủ tịch Hồ Chí
Minh).
Khi nói đến chủ nghĩa xã hội, thì không thể không nhắc đến một nền dân chủ, trong đó
dân chủ không chỉ là công cụ, phương tiện để phát huy tính sáng tạo của quần chúng nhân
dân mà còn là bản chất của chủ nghĩa xã hội. Xây dựng xã hội dân chủ- công bằng, bình
đẳng, văn minh vừa là mục tiêu vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội. Điều đó thể hiện khát
khao về một chế độ xã hội dân chủ được phát huy, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
“Muốn có nhà nước pháp quyền với đầy đủ ý nghĩa của nó thì phải xây dựng được nhà
nước thật sự dân chủ”.28 Trong nhà nước dân chủ- nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
tất cả quyền lực nhà nước không đơn thuần là được ghi nhận đều thuộc về nhân dân mà điều
đó còn được đảm bảo thực hiện.
1.2.2 Quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất trên cơ sở có sự
phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Theo quan điểm của các học giả, của các nhà chính trị tư sản và của Hiến pháp đa số
các nước tư sản, nhà nước pháp quyền là nhà nước được xây dựng trên nguyên tắc phân chia
quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sự phân chia quyền lực là
phương tiện hữu hiệu để khắc phục sự chuyên quyền, độc đoán của chế độ phong kiến
chuyên chính đương thời. Học thuyết tam quyền phân lập (phân chia quyền lực) với các đại
diện tiêu biểu của học thuyết này là Giôn Lốccơ (1632- 1704) nhà tư tưởng người Anh; S. l.
Mongotexkiơ (1689- 1755) là một nhà luật học người Pháp và người đặt nền móng cho sự ra
sẽ không thể nào còn thống nhất lại được nữa. Các nhánh quyền lực tách rời nhau tới mức
phân liệt, kiềm chế- đối trọng, đối lập và chống lại nhau. Lúc đó muốn quyền lực nhà nước
thống nhất lại phải dùng đến đại bác.29
Học thuyết tam quyền phân lập là sản phẩm của nền văn hóa phương Tây, nó được phát
triển hàng nghìn năm ở các nước tư sản phương Tây. Việt Nam ta, với điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể mang những nét đặc trưng khác biệt so với các quốc gia tư sản phương Tây. Thế nên
chúng ta không hoàn toàn phủ nhận hay tiếp thu một cách rập khuôn học thuyết này, mà phải
biết chọn lọc một cách hợp lý có sáng tạo để phù hợp với tình hình đất nước.
Giữ vững bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, vận dụng nhân tố hợp lý của học thuyết phân chia quyền lực và đề ra nguyên
tắc cơ bản tổ chức và hoạt động nhà nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới: Quyền lực nhà
nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Khác với nguyên tắc “tam quyền
phân lập”, trong nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước là
thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân.30
Quyền lực nhà nước là một dạng quyền lực xã hội mang tính ý chí gắn liền với chủ
quyền quốc gia. Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất thể hiện ở chổ quyền lực nhà
nước xuất phát từ nhân dân, nhà nước nhận quyền từ nhân dân. Không chỉ vậy mà bản thân
nhà nước luôn là một chỉnh thể thống nhất hành động vì những mục tiêu mục đích nhất định.
Về việc phân công thực hiện quyền lực nhà nước là giao cho một hoặc một nhóm các cơ
quan nhà nước thực hiện một quyền (lập pháp, hành pháp hay tư pháp) nào đó có tính chất
chuyên nghiệp. Sự chuyên nghệp hóa trong việc thực hiện quyền lực nhà nước nhằm nâng
29
Trần Hậu Thành, Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr. 123- 127.
30
Trần Hậu Thành, Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr. 128- 129.
nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” là yếu tố hết sức
quan trọng, cần được đảm bảo.
1.2.3 Thượng tôn pháp luật
Sự cần thiết của nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong công cuộc xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua các yếu tố: mối quan hệ giữa nhà nước và
pháp luật nói chung, vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và
nền pháp chế xã hội chủ nghĩa . Chỉ khi các yếu tố trên được đảm bảo thì nguyên tắc thượng
tôn pháp luật mới có thể thực thi được như vậy sẽ đảm bảo được một trong những yếu tố cơ
bản cấu thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, con người muốn tồn tại và phát triển thì phải tập
hợp nhau lại thành một cộng đồng, theo thời gian cộng đồng đó dần dần phát triển các yếu tố
31
Nguyễn Minh Đoan, Quyền lực nhà nước là thống nhất và sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, Số 02, 2007, tr. 27, tr. 29, tr. 31.
GVHD: Ths Đinh Thanh Phương
Trang 18
SVTH: Hà Thị Mỹ Xuân