A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết, công việc dạy Ngữ văn hiện nay đang gặp rất nhiều
khó khăn. Đây là hiện tượng chung do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan
mang lại. Một phần do bản thân giáo viên chưa thực sự thu hút được học sinh
“theo đuổi” môn học này và chưa đáp ứng được nhu cầu nhận thức, thẩm mỹ
ngày càng cao của người học cũng như của thời đại. Một phần do kỹ năng khai
thác thông tin, tác phẩm của học sinh trong trường THPT còn lúng túng. Xuất
phát từ thực tế đó, bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi phương pháp,
hướng tiếp cận-khai thác tác phẩm để vận dụng trong từng bài dạy cụ thể nhằm
tháo gỡ cho riêng mình những khó khăn chung trong việc giảng dạy. Ở bài viết
này, trong phạm vi cho phép, tôi chỉ trình bày một hướng “khai thác” phần trích
tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành: khai thác, tìm hiểu tác phẩm
trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử và chỉnh thể tác phẩm văn học.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1
I. Cơ sở lí luận:
Trong quá trình dạy-học văn ở trường THPT, giáo viên và học sinh gặp
không ít những khó khăn từ phía đặc trưng bộ môn. Đối với học sinh, việc
chiếm lĩnh kiến thức một tác phẩm văn học khác với tiếp nhận kiến thức của các
môn khoa học khác. Đòi hỏi học sinh phải biết cảm thụ, có phương pháp phân
tích nội dung, tư tưởng, tâm lí-tính cách nhân vật, ngôn từ nghệ thuật của tác
phẩm. Đối với giáo viên cần phải có phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp với
từng tác phẩm ở các thể loại khác nhau. Đặc biệt người thầy phải có kiến thức
sâu sắc về tác giả, tác phẩm và tìm được phương pháp giúp người học có hướng
tiếp cận tác phẩm sâu sắc nhất.
Với bài viết này, tác giả đề xuất một cách tiếp cận, khai thác tác phẩm văn
học, được vận dụng cụ thể đối với bài “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành.
II. Cơ sở thực tiễn:
nhà văn đã tạo nên sự hình thành phong cách nghệ thuật, thi pháp giai đoạn văn
học và của mỗi nghệ sỹ như thế nào? Điều đó thể hiện trong tác phẩm ra sao?
Tất cả đều là những cơ sở - bản chất của vấn đề để chúng ta tìm hiểu tác phẩm.
1. Những thông tin tìm hiểu chung:
- Bối cảnh lịch sử, xã hội: tác phẩm được công bố năm 1965. Thời điểm này
có những sự kiện: Mỹ một mặt đổ quân ồ ạt vào Miền Nam, mặt khác ráo riết
ném bom phá hoại Miền Bắc, với lời tuyên bố láo xược: “Đưa Miền Bắc trở về
thời kỳ đồ đá”. Những hành động đó của Mỹ đã chạm vào một vấn đề nhạy cảm:
Danh dự, phẩm giá và sự tồn vong dân tộc. Điều này trước đó, do tính chất cuộc
chiến, chủ yếu người Việt đánh nhau với người Việt, nên nó chưa trở nên bức
xúc. Giờ bỗng bùng lên tạo nên nét tâm thế thời đại: Quật khởi, vùng lên
- Về hoàn cảnh riêng của tác giả: Nguyễn Trung Thành quê ở Quảng Nam,
tập kết ra Bắc. Năm 1962, ông trở về Nam tham gia cuộc kháng chiến chống
Mỹ. Việc Mỹ đổ quân vào Miền Nam (1965) mà trực tiếp là bãi biển Chu Lai,
một phần mảnh đất quê hương ông, đã tác động sâu sắc đến tâm lý tác giả. Điều
đó kết hợp với những gì Nguyễn Trung Thành nghe và thấy ở Tây Nguyên trong
quá khứ, hiện tại (trong đó có phong trào Đồng Khởi) tạo nên nhu cầu viết.
Trước “Rừng xà nu”, Nguyễn Trung Thành đã viết tùy bút “Đường chúng ta đi”.
3
Tác phẩm “Rừng xà nu” ra đời trong tâm thế của tác giả, bởi thế, sự quật khởi
vùng lên của Làng Xô Man, sức sống của dân tộc cùng với chân lý: Chúng nó
cầm súng, chúng ta phải cầm mác” là tiếng vọng của thời đại. Dạy “Rừng xà
nu” nếu không chỉ ra được mối liên hệ bản chất ấy giữa trong và ngoài tác phẩm
hoặc chỉ ra hời hợt, chiếu lệ thì không thể dựng được không khí sử thi của
truyện, do đó cũng không dựng được hình tượng truyện.
- Đặc trưng về thể loại, cốt truyện, kết cấu tác phẩm
Khi phân tích tác phẩm, người viết cần xuất phát từ điểm nhìn lý thuyết về
nu. Đó là một loại cây ham ánh sáng, giỏi chịu đựng, giàu sức sống, có khả năng
sinh sôi ( qua các tín hiệu nghệ thuật, giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra các
đặc điểm đó). Rừng xà nu xuất hiện như một bộ ngực che chở cho dân làng. Nó
có mặt trong cuộc sống thường ngày của người dân ở mọi ngõ ngách: trên con
đường Tnú trở về, trong ánh lửa của những ngọn đuốc, trong cuộc tiễn đưa
Dường như cuộc sống con người Xô Man đã hóa thân trong nó, tạc nên những
dáng hình, tư thế Xà Nu Hình tượng Rừng Xà Nu trở thành một biểu tượng có
kích cỡ sử thi tượng trưng cho phẩm chất của một cộng đồng. Cuộc trở về của
Tnú trước hết được đặt trong tương quan với Rừng xà nu. Điều đó có nghĩa Tnú
cũng là một cây xà nu, một phần không thể tách rời của cánh rừng đó.
• Dân làng Xô Man: đó là những con người với tên gọi cụ thể: Cụ Mết,
Zít, bé Heng, bà cụ Leng, ông già Tâng, anh Prôi Nhưng thực chất họ là một
hình tượng đám đông. Họ là hiện thân của cộng đồng đón tiếp Tnú trở về như
một phần máu thịt của mình bị xẻ tách ra, giờ về lại. Chất sử thi toát lên ở cả bề
mặt bởi tiếng cười nói rộn ràng, ấm áp và cả ở bề sâu của tiếng vọng tâm linh
giao hòa giữa người về và kẻ đón. (Khác với mọi người, Tnú về với làng, gia
đình của anh đã không còn nữa). Dựng hình tượng làng trong quan hệ với Tnú,
phải khắc chạm được điều đó.
• Làng còn bao hàm những chi tiết cụ thể tưởng như ngẫu nhiên nhưng
thực sự có ý nghĩa, đặc biệt đối với Tnú. Đó là hình ảnh một cây lớn đổ ngang
đường, là âm thanh tiếng chày Với Tnú, cây đổ bên đường gợi kỉ niệm yêu
thương về lần gặp Mai sau 3 năm ở tù về. Lúc đó Mai đã là một thiếu nữ. Những
giọt nước mắt ngày ấy của Mai vẫn ấm mãi trong anh cho đến bây giờ Kỷ niệm
5
cũng gợi lên trong Tnú nỗi đau về cái chết của vợ con từ sự phân tích này,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh rút ra kết luận: Làng Xô Man với Tnú là như
vậy đó. Nó gắn bó với anh không chỉ bằng kỷ niệm yêu thương, bằng những gì
người trong truyện và ngoài truyện (người đọc) cùng sung sướng, cùng vỡ òa,
cùng tiếc nuối Mặt khác, cái đêm ngắn ngủi ấy, sẽ là cách để nhà văn dồn nén
quá khứ một cuộc đời, một cộng đồng bằng câu chuyện cụ Mết kể về Tnú, về
dân làng Xô Man ngày hôm qua Chưa hết, Nguyễn Trung Thành còn thông
qua việc dựng không gian bởi âm thanh tiếng mỏ nổi lên từ nhà Ưng, ánh sáng
từ những ngọn đuốc từ các ngả đường kéo về nhà cụ Mết, bếp lửa rực đỏ, đám
đông dân làng vây quanh, trong đó nổi bật hình ảnh Tnú, Zít và đặc biệt là cụ
Mết Với mục đích dựng dậy một không gian sử thi trong thực tại, từ đó gợi
một không gian sử thi trong quá khứ sâu thảm lịch sử, văn hóa với những câu
chuyện anh hùng ca thời xa xưa và tập quán kể chuyện “Khan” của các bản làng
Tây Nguyên. Nó tạo nên chất sử thi vừa thực, vừa ảo, vừa hiện hữu, vừa sâu
thẳm, sương khói kiểu Nguyễn Trung Thành. Trong không gian ấy, người giảng
cần lưu ý đặc biệt đến hình tượng cụ Mết với những lý do sau:
Ở nghĩa cụ thể, cụ Mết là người kể câu chuyện bi tráng của cuộc đời Tnú
và dân làng Xô Man. Qua đó, tác giả khắc họa những phẩm chất sử thi của Tnú
như: Sự gắn bó sâu nặng với cộng đồng, sự dũng cảm, gan góc, sức chịu đựng,
sức sống mãnh liệt, tình yêu thương người thân, lý tưởng sống Tất cả đều ở
cấp độ phi thường, khác thường, đại diện cho cộng đồng và gắn chặt với truyền
thống lịch sử, văn hóa
Ở ý nghĩa khái quát, cụ Mết là hiện thân của cộng đồng, lịch sử. Trong
trường hợp đó, cụ trở thành điểm tựa tinh thần cho làng Xô Man, cho Tnú trong
cuộc chiến đấu hiện tại. Cụ còn gợi dậy hình ảnh của những nghệ sỹ dân gian
thời xa xưa (sau đó là một truyền thống văn hóa) trong vai trò kể một câu
chuyện “Sử thi” thời hiện đại về cuộc đời Tnú. Đó cũng là cách để Nguyễn
Trung Thành tạo nên sự liên hệ bản chất giữa quá khứ và hiện tại, trong đó mạch
chảy xuyên suốt là tình yêu cộng đồng, là sức sống Tây Nguyên, là chân lý lịch
sử: “Chúng nó cầm súng ta phải cầm mác”.
Bởi thế, không phải ngẫu nhiên mà tác giả tả cụ Mết với một cơ thể rắn
chắc, ngực căng như cây xà nu, giọng nói ồ ồ, râu dài đến ngực. Cũng không
mỗi người và số phận một cộng đồng Tất cả hòa trong mạch chảy ngợi ca của
8
tác giả trong tư cách đại diện cho chính cộng đồng để rồi tạo nên một thế giới sử
thi bi tráng.
Nhân vật Tnú được Nguyễn Trung Thành đặt trong mối quan hệ chằng chịt
ấy với làng Xô Man. Qua đó nhà văn muốn khái quát vấn đề: Tnú là sự kết tinh
chọn vẹn nhất của phẩm chất Xô Man, phẩm chất Tây Nguyên. Sức sống hình
tượng Tnú chỉ có thể tồn tại và phát huy khi được đặt trong không gian lịch sử,
văn hóa làng quê ấy đã biết khai thác nó. Giảng nhân vật Tnú trong đoạn này,
qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt, bằng tài năng của mình, người dạy phải vừa cùng
một lúc phân tích các hình tượng vừa làm rõ đặc điểm sử thi của hình tượng.
Tnú dưới sự soi sáng của phong cách, thi pháp Nguyễn Trung Thành, qua đó
khắc họa cho học sinh những đơn vị kiến thức cơ bản nhất.
2.3 .Tnú ra đi.
Ai cũng biết, người tiễn Tnú đi sau một đêm ở làng là cụ Mết, Zít và cả
Rừng xà nu nữa. Điều cần khắc họa cho học sinh, theo tôi không phải là gì khác
mà là tính sử thi của cuộc tiễn. Nó thể hiện ở cả người đi và kẻ ở. Người đi
(Tnú) sau một đêm ở làng đã có cơ hội kiểm nghiệm lại tất cả những gì tốt đẹp
nhất mà mình có. Đồng thời cũng có được những gì dân làng cho và tiếp sức cho
mình. Anh ra đi trong tư thế đại diện cho cộng đồng. Người ở, trong phút đưa
tiễn này cũng đại diện cho cộng đồng, một cộng đồng mà trên mình đã và đang
mang những vết thương rỉ máu nhưng vẫn tràn đầy sức sống (“thể hiện ở cảnh
tượng đạn đại bác đêm qua đã đánh ngã bốn, năm cây xà nu to. Nhựa ứa ra ở
những vết thương đang đọng lại, lóng lánh nắng hè. Quanh đó, vô số những cây
con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những
mũi lê”). Họ đưa tiễn một phần máu thịt của cộng đồng mình hòa vào một cộng
đồng lớn với một niềm tự hào sâu sắc. Bởi thế, tác giả cho xuất hiện cuối tác
được phương pháp giảng dạy một tác phẩm, đó là một vấn đề lớn. Song bản
thân tôi nhận thấy vận dụng có hiệu quả trong quá trình giảng dạy nên bày tỏ
cùng đồng nghiệp. Những ý kiến đóng góp nhỏ bé của người viết không ngoài
mục đích góp một tiếng nói khiêm tốn cho sự đổi mới trong công việc dạy học
Ngữ văn hiện nay. Bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, mong
nhận được sự chia sẻ của đồng nghiệp.
XÁC NHẬN CỦA
Thanh Hóa, ngày 05 tháng 6 năm 2013
10
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Nguyễn Thị Thu Hằng
11