Một số kinh nghiệm giảng dạy giúp nâng cao chất lượng học môn Ngữ văn cho học sinh THPT - Pdf 28

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiều năm nay, cả nước ta đã và đang tiến hành công cuộc đổi mới giáo dục.
Chương trình học và sách giáo khoa được thay đổi theo hướng tích cực cả nội dung
lẫn hình thức nhằm theo kịp với xu thế phát triển của nền giáo dục thế giới. Thực
trạng giáo dục nước ta qua nghiên cứu cho thấy việc giảng dạy kiến thức nói chung
và kiến thức môn Ngữ văn nói riêng chỉ được tiến hành theo lối “thông báo - tái
hiện”. Giáo viên chủ yếu chú trọng vào việc hoàn thành bài giảng, phương pháp
dạy học theo lối truyền thụ một chiều, học sinh tiếp thu một cách thụ động, ít phát
huy được khả năng chủ động, tư duy sáng tạo của người học.
Những năm gần đây, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn
trong trường phổ thông đã được giới nghiên cứu và dư luận xã hội chú trọng. Từ
nhiều góc độ, cấp độ, phạm vi khác nhau, nhiều giải pháp, phương pháp đã được đề
xuất, trong đó đáng chú ý là vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng sâu vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn. Có thể nói, đây là địa bàn cư trú của cư dân dân tộc
thiểu số, trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, chưa ổn định.
Do đó, con em họ chưa được đến trường thường xuyên, đúng độ tuổi làm ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học của các trường phổ thông đóng ở địa
bàn đó.
“Văn học là nhân học”, văn học là cuộc sống. Thông qua ngôn từ và hình
tượng nghệ thuật sinh động, nó cung cấp cho người đọc kiến thức về cuộc sống
cũng như khám phá cái đẹp trong tâm hồn con người. Đến với Văn học, chúng ta
tìm thấy vẻ đẹp nhân văn qua mỗi sự vật, hình tượng trong tác phẩm. Từ đó, nó tác
động tới tâm tư, tình cảm, góp phần quan trọng để hình thành và phát triển nhân
cách, hướng con người đến giá trị chân - thiện - mĩ. Vì thế, môn văn là môn không
khô khan như các môn khoa học tự nhiên khác trong chương trình phổ thông. Mặt
khác, thầy cô giáo dạy Văn là những nghệ sĩ bởi ngoài việc giảng dạy tri thức, họ
1
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
còn mang thiên chức bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, cảm xúc và những rung động
thẩm mĩ cho học sinh.

lịch sử và tiếng Mẹ đẻ Thời nào cũng vậy, tác phẩm Văn học chân chính có khả
3
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
năng kì diệu là thanh lọc tâm hồn con người, làm người “gần người hơn” bởi văn
học xuất phát từ con người và luôn hướng tới con người. Môn Ngữ văn còn có vai
trò quan trọng trong việc rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, cách thức
tạo lập các dạng văn bản phục vụ cho quá trình giao tiếp trên mọi lĩnh vực của con
người trong cuộc sống, công việc. Vì vậy, chúng ta cần phải có biện pháp cụ thể
giúp cho học sinh có hứng thú học môn Văn trở lại.
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Mặc dầu có vai trò, vị trí quan trọng đặc biệt như vậy nhưng hiện nay đang
xuất hiện tình trạng nhiều học sinh không thích học môn Ngữ văn. Vị trí của môn
học này ngày càng mờ nhạt trong tâm thức học sinh. Đa số học sinh THPT tỏ ra
không có hứng thú với những giờ học Văn trong nhà trường, mà thường xác định là
chỉ cần học để đối phó với các kì thi mà thôi. Học sinh thờ ơ với những vấn đề đặt
ra trong tác phẩm. Số phận nhân vật, tiếng nói tâm tình của tác giả ít gây được sự
đồng cảm với chúng. Các em không cảm nhận được hết cái hay, cái đẹp mà tác
phẩm mang lại.
Trường THPT Mường Lát đóng trên địa bàn miền núi xa xôi, tách biệt (cách
thành phố Thanh Hóa 250 km), đường đi khó khăn, trắc trở, ba mặt tiếp giáp với
nước bạn Lào. Mọi điều kiện sống về vật chất và tinh thần đều thiếu thốn, nghèo
nàn. Nơi đây sáu dân tộc: Kinh, H’Mông, Thái, Dao, Mường, Khơmú tạo thành
một cộng đồng dân cư với những nét văn hóa, phong tục tập quán nhiều khác biệt.
Trình độ dân trí thấp, công tác xã hội hóa Giáo dục chưa phát triển, kinh tế trì trệ,
phương thức canh tác lạc hậu. Học sinh đa số là con em đồng bào dân tộc thiểu số,
chất lượng đầu vào thấp và còn tồn tại tình trạng học sinh ngồi sai lớp (15%). Các
em ít có điều kiện đọc sách báo, thông tin xã hội ít tiếp xúc, lập gia đình sớm, nạn
tảo hôn khá phổ biến trong lứa tuổi học sinh… Một số hộ gia đình bỏ mặc con em
ở nhà để đi làm ăn xa, học sinh phải nghỉ học lên nương rẫy thay bố mẹ. Điều này
đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học hành của con em họ. Nhiều em chưa có đủ

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học văn cho học sinh trường THPT Mường
Lát, giúp các em học tốt hơn.
III. Giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện
Người giáo viên khi đứng trên bục giảng luôn mong muốn truyền đạt một
cách hiệu quả nhất những điều mình biết tới học sinh, muốn dẫn dắt các em đi tới
con đường chiếm lĩnh tri thức nhanh nhất và tối ưu nhất. Nhưng không phải ai cũng
làm được điều đó, bởi ngoài tri thức, vốn sống đòi hỏi người giáo viên phải có
phương pháp, phải linh hoạt qua các khâu lên lớp, phải tùy cơ ứng biến trước
những đối tượng học sinh khác nhau thì mới có thể tạo ra sức hấp dẫn, lôi cuốn
trong giờ dạy.
1. Giáo viên tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
Từ người giáo viên luôn tồn tại kênh thông tin hai chiều: vừa truyền đạt kiến
thức đồng thời vừa thu nhận kiến thức. Cuộc sống xã hội là kho tri thức vô cùng
phong phú nên dù giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn đều được đào tạo chuẩn về
chuyên môn nghiệp vụ từ trong trường Đại học nhưng cần phải tích cực, thường
xuyên tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân. Năm học 2008 - 2009 là
năm mà Bộ Giáo dục chọn là năm ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học.
Vì thế, tất cả các trường trong cả nước đều được hỗ trợ lắp đặt mạng Internet.
Trường THPT Mường Lát cũng không ngoại lệ. Phòng Internet do Đoàn Thanh
niên quản lí luôn mở cửa phục vụ cán bộ, giáo viên và học sinh tìm kiếm, khai thác
thông tin. Việc lắp đặt mạng sẽ giúp các thầy cô giáo tự bồi dưỡng kiến thức và có
thể học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè, đồng nghiệp để nâng cao năng lực chuyên môn.
Nắm vững kiến thức chung cho chương trình cấp học để có cái nhìn bao quát
về nội dung ở từng khối lớp.
Soạn - giảng theo đúng chương trình mà Bộ GD&ĐT đã quy định trong
khung phân phối chương trình.
6
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Khi giảng dạy cần chú ý đến từng loại đối tượng học sinh trong lớp học để có

sống mới, đất trời mới. “Tràng giang” được ra đời vào tháng 9/1939, bài thơ được
viết trong khung cảnh của một buổi chiều khi nhà thơ đứng trên bờ đê sông Hồng
nhìn thấy cảnh sông dài trời rộng.
Sau khi học xong bài học, các em nắm được giá trị nội dung và nghệ thuật
đặc sắc của tác phẩm (tìm hiểu qua phần nội dung cần đạt, phần ghi nhớ). Đặc biệt,
biết phân tích, cảm thụ một số câu thơ, đoạn thơ được cho là đặc sắc (đối với học
sinh khá giỏi).
+ Đối với phân môn Tiếng Việt, tôi yêu cầu học sinh :
Học thuộc các khái niệm, vận dụng làm tốt các bài tập trong sách giáo khoa.
Với các biện pháp tu từ biết phát hiện đúng, nêu được tác dụng của phép tu
từ đó trong hoàn cảnh sử dụng và thực hành thành thạo các bài tập trong sách giáo
khoa, sách bài tập.
Ví dụ: Tìm biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau và nêu tác dụng?
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao”.
Biết viết câu, viết đoạn (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn) với nhiều chủ đề và
yêu cầu khác nhau (Diễn dịch, quy nạp…)
+ Đối với phân môn Làm văn, học sinh cần:
Nắm được khái niệm, đặc trưng các thể loại: Tự sự, Nghị luận (nghị luận văn
học, nghị luận xã hội), Thuyết minh,…
Sau khi đọc đề bài, phải biết tìm hiểu đề, tìm ý; biết cách lập dàn ý; biết viết
các đoạn để hoàn chỉnh bài viết. Phần đa học sinh trong trường chưa nhận biết
được yêu cầu của đề ra nên không biết tìm luận điểm cho phần lập dàn ý. Chính vì
thế, các em lúng túng khi tiến hành viết bài văn. Nắm được yếu điểm của đa số học
8
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
sinh trong trường, tôi đã hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận, đặc biệt là
kĩ năng viết phần mở bài cho bài văn nghị luận.
Từ lớp 8 đến lớp 12, học sinh phổ thông làm quen với một thể loại làm văn
mới đó là Làm văn nghị luận. Không ít học sinh tỏ ra ngại ngần và lo lắng thậm chí

Sau mỗi tiết dạy, tôi củng cố kiến thức bằng cách ra bài tập và hướng dẫn
cách làm bài, những nội dung cụ thể cần học thuộc, cần ghi nhớ để học sinh chuẩn
bị cho tiết học sau. Nhiều giáo viên hay xem nhẹ hoặc thường bỏ qua công đoạn
này. Học sinh có hiểu bài, nhớ bài hay không một phần là nhờ nó. Cho các em xếp
tập sách lại, trên bảng chỉ còn những ý chính, giáo viên đặt câu hỏi, gợi ý, học sinh
trả lời đúng cho điểm, có thể sửa điểm kém hay cộng thêm điểm và hỏi các em
không hiểu chỗ nào giáo viên sẽ giảng lại. Làm vậy, học sinh sẽ cố lắng nghe, cố
nhớ, cố ghi để cuối giờ trả lời. Như vậy, giáo viên có thể giúp các em hiểu bài,
thuộc bài ngay trong giờ học.
Ví dụ: Học xong truyện ngắn “Người trong bao”, em hãy nêu ý nghĩa khái
quát biểu tượng “cái bao” và từ đó khái quát chủ đề tư tưởng của tác phẩm?
3. Đa dạng, linh hoạt trong kiểm tra và đánh giá
Sở giáo dục Thanh Hóa đưa ra Quy định về việc kiểm tra, đánh giá kiến thức
của học sinh trong năm học 2012-2013 thông qua hai hình thức: kiểm tra thường
xuyên và kiểm tra định kì. Việc kiểm tra định kì đã được cố định thời gian cụ thể
nên giáo viên cần nhắc nhở trước từ một đến hai ngày để các em chuẩn bị kiến
thức. Đối với việc kiểm tra thường xuyên, giáo viên cần đa dạng hoá để học sinh
phải tự giác học tập bằng nhiều cách khác nhau. Mỗi thầy cô giáo có nhiều cách
thức kiểm tra kiến thức của học sinh khác nhau. Về phần mình, tôi lần lượt thực
hiện các bước sau:
Kiểm tra sách giáo khoa vào đầu tiết dạy: Sách giáo khoa vừa là phương tiện,
vừa là công cụ giúp học sinh thu nhận, tìm kiếm tri thức. Vì vậy, học sinh khi đi
10
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
học phải mang đầy đủ các loại sách giáo khoa nói chung và sách Ngữ văn nói riêng.
Nhưng, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn mà học sinh ở Mường Lát khi đến
trường không có tiền để mua sách giáo khoa. Nhà trường đã tạo điều kiện bằng
cách mở thư viện cho các em mượn sách học trong cả năm. Tuy nhiên, số lượng
sách có hạn nên chưa thể đáp ứng đủ cho tất cả học sinh. Vào đầu năm học, công
việc đầu tiên của tôi là kiểm tra sách giáo khoa ở các lớp được phân công giảng

Đối với học sinh có học lực trung bình và yếu, các em trả lời đúng nội dung
câu hỏi theo yêu cầu mặc dù chưa lưu loát nhưng tôi cũng mạnh dạn cho điểm 10.
Ví dụ: Khái quát chân dung, tính cách con người Bê-li-cốp trong truyện ngắn
“Người trong bao” của Sê-khốp?
Ở trường THPT Mường Lát, số lượng học sinh trung bình và yếu chiếm tỉ lệ
cao (hơn 70%) nên khi kiểm tra bài, tôi chú trọng khuyến khích tinh thần xung
phong lên bảng trả bài, tạo mọi cơ hội cho các em lấy điểm. Những em không
thuộc bài tạm thời cho điểm kém và hẹn hôm sau (ngày bất kỳ) sẽ trả bài lại. Đối
với học sinh chưa thuộc kĩ hoặc không thuộc. Lần đầu, cho kiểm tra vào cuối tiết.
Lần 2, cho học lại và kiểm tra vào tiết học tự chọn bám sát. Lần tiếp theo, có thể bố
trí riêng một buổi để kiểm tra và cho các em tự chọn nội dung học (thuộc phần nào
lên trả bài phần ấy) hay cho phép đọc thuộc bài thơ, đoạn thơ em thích trong
chương trình học, nếu vẫn không sửa chữa sẽ xử lý bằng hình thức chép phạt theo
số lần giáo viên đưa ra. Đối với những học sinh cá biệt như lười học, yếu kĩ năng
có thể cho phép các em lựa chọn nội dung trả bài. Đồng thời, giáo viên nên lập một
danh sách riêng để chú ý kiểm tra nhiều hơn.
Tùy vào tính chất từng buổi học, lớp học giáo viên có thể phân chia thời
gian cho việc kiểm tra bài cũ khác nhau. Có những hôm, nhiều học sinh yếu xung
phong lên trả bài, tôi mạnh bạo kéo dài thời gian kiểm tra đến 15 phút/tiết học. Đối
với một số em thường xuyên không thuộc bài hoặc trả bài chỉ đạt điểm 4, 5 có thể
12
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
gọi 5 hoặc 6 lần/ học kỳ, điểm nào lớn nhất thì lấy. Thỉnh thoảng tôi nhắc các em :
“Một, hai tuần nữa sẽ có kiểm tra 15 phút” nhưng không quy định cụ thể ngày nào.
Việc này tạo cho học sinh tâm thế sẽ bị giáo viên kiểm tra bất cứ lúc nào khi đến
lớp, buộc các em phải học bài trước ở nhà, nếu không muốn bị điểm kém.
Có thể nói, học sinh trong trường không chỉ ngại học, lười học mà còn yếu kĩ
năng giao tiếp và xử lí tình huống. Vì thế, khi giáo viên đặt câu hỏi kiểm tra bài cũ
chỉ cần thay đổi vài từ thì học sinh không trả lời được. Có những em biết câu trả lời
lại không dám xung phong vì tính quá nhát. Có em dù ở nhà đã thuộc bài nhưng khi

trường luôn chú trọng vấn đề đổi mới phương pháp dạy học kết hợp với sử dụng
thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy có hiệu quả. Căn cứ vào
nhận thức của đa số học sinh trong trường, nhà trường nhận thấy phải thực hiện
linh hoạt các phương pháp dạy học, kết hợp giữa cũ và mới. Vì thế, phương pháp
thuyết trình vẫn giữ vai trò chủ đạo.
Thuyết trình trong dẫn dắt, gợi mở, trong bình giảng ý nghĩa các chi tiết,
hình tượng, hình ảnh độc đáo… Một lời giảng bình đẹp, sâu sắc có thể theo các em
đi suốt cuộc đời, có tác dụng bồi đắp tâm hồn, hướng thiện, tạo sức cuốn hút cho
một giờ học văn. Có thể nói, khả năng thuyết trình thể hiện năng lực của người dạy
văn. Tuy nhiên, cần chú ý đến thời lượng nên dừng ở mức độ nào.
Trong báo cáo sơ kết học kì I năm học 2012-2013 của trường, kết quả xếp
loại học lực của học sinh cụ thể như sau:
TT Cấp độ Tỉ lệ (%)
1 Giỏi 1,9 %
2 Khá 26,9 %
3 Trung bình 68,8 %
4 Yếu 2,5 %
5 Kém 0 %
Số học sinh xếp loại học lực trung bình và yếu chiếm tỉ lệ cao (73%), đa số
tập trung vào lớp cơ bản khả năng tiếp thu chậm, ghi bài chậm, thậm chí có em
14
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
không ghi được nội dung bài học (như Giàng A Say, Hơ Văn Hua lớp 10B, Giàng
A Trư, Lý A Dó lớp 10C,…), không có khả năng diễn đạt, không biết phân tích
những ý chính mà giáo viên tổng hợp thì cũng cần phải đọc-chép. Điều này cần sự
linh hoạt từ phía giáo viên, phần nào cần và phần nào không cần đọc để bảo đảm
thời lượng của tiết học theo phân phối chương trình.
Trong tiến trình đổi mới, người giáo viên đang dần đi đến vận dụng mọi
phương pháp với thế mạnh riêng của nó. Ngoài các phương pháp truyền thống thì
phương pháp dạy học tích cực được chú ý quan tâm, đặc biệt là phương pháp dạy

giáo viên phải luôn phát huy vai trò chủ đạo để giữ vững quan hệ này.
Tuy nhiên, một số giáo viên trong trường có suy nghĩ phải nghiêm khắc với
học sinh ngay từ tiết đầu bước vào lớp vì thế biểu hiện bằng vẻ mặt “hình sự” luôn
được giữ trong suốt buổi học, thậm chí cả năm học khiến tâm lí học sinh ức chế ảnh
hưởng đến chất lượng giờ học. Một số giáo viên khi bước vào lớp có nhiều học
sinh yếu kém, học sinh cá biệt trong lòng đã cảm thấy không vui, gọi một vài em
lên trả bài nhưng đều không thuộc lập tức chửi cho một lúc khoảng 10 phút, đôi khi
nhiều hơn nữa rồi bắt đầu dạy. Gương mặt thầy/ cô khi ấy trở nên “hình sự” hơn
bao giờ hết. Đó là điều tối kỵ trong một giờ giảng văn. Giờ học căng thẳng quá sẽ
16
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
làm học sinh khó tập trung, không tiếp thu được bài giảng, dẫn đến không hiểu bài.
Để giảm áp lực, giáo viên nên khéo léo xử lí tình huống, vừa cứng rắn vừa mềm
dẻo để làm sao khiến các em nghe theo lời răn dạy mà lại không gây áp lực. Thầy,
cô có thể kể một số mẩu chuyện vui để nhắc nhở khéo léo tới học sinh. Trong tiết
học giáo viên cố gắng tạo trên môi các em nụ cười hồn nhiên, cởi mở, thân thiện.
Sự thân thiện giữa thầy và trò được nâng cao khi học sinh nhìn thấy dáng đi khoan
thai và nụ cười luôn nở trên môi người thầy.
7. Duy trì tiết học tự chọn ở tất cả các khối lớp
Mỗi khối lớp THPT theo PPCT của Bộ Giáo dục có 1 tiết tự chọn/tuần. Mặc
dù vậy, giáo viên không thể “lãng phí” tiết học này. Đây chính là thời gian thầy cô
giáo có thể bổ sung những kiến thức mà họ chưa kịp truyền đạt cho các em trong
tiết dạy, hoặc cung cấp thêm kiến thức bên ngoài cho học sinh theo chủ đề, dạy kĩ
năng đọc văn, làm văn, kĩ năng sống, kiểm tra vở soạn văn… Và đặc biệt, tôi tổ
chức luyện viết chính tả, luyện đọc cho các em yếu kém. Đây chính là nhiệm vụ đi
kèm, không kém phần quan trọng của tôi cũng như giáo viên trong tổ Văn-Sử-Giáo
dục công dân trường THPT Mường Lát.
Mường Lát là 1 trong 7 huyện miền núi nghèo của tỉnh Thanh Hóa, có nhiều
đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (Mường, Thái, H’Mông, Dao, Khơ mú…).
Trình độ dân trí, nhận thức cũng như sự hiểu biết của người dân còn rất hạn chế.

x
x
x
x
11D
- Hơ Văn Cấu
- Gia Văn Dế
- Hoàng Thị Dừa
- Vi Thị Hoa
- Lộc Văn Tập
x
x
x
x
x
x
x
11G
- Hơ Văn Hua
- Hà Văn Kiệu
- Giàng Thị Nắng
- Lý Thị Sống
- Lý A Sợ
x
x
x
x
x
x
x

x
x
x
x
x
x
x
x
Để góp phần dạy và học có chất lượng cao đối với môn Ngữ văn, tôi thiết
nghĩ việc đầu tiên phải giúp học sinh đọc, nói, viết đúng tiếng Việt ngay từ khi mới
bước vào trường. Nếu đọc tốt các em mới có thể hiểu và cảm thụ được nội dung,
mục đích của văn bản văn học. Đây là điều bản thân tôi trăn trở trong hơn một năm
qua trực tiếp làm công tác giảng dạy, cuối cùng tôi hiểu rằng để đạt được mục đích
giáo dục ở bậc phổ thông nói chung và môn Ngữ văn nói riêng việc đầu tiên là dạy
các em đọc, viết đúng tiếng Việt.
Trong thực tế, chúng tôi đã chuyển tiết tự chọn trở thành tiết luyện chính tả
và tập đọc cho số học sinh đọc và viết kém vào học kì I năm học 2012-2013. Việc
làm này đã được BGH nhà trường quan tâm và đồng tình, ủng hộ. Trong tiết học
ấy, giáo viên cho nhóm luyện chính tả và luyện đọc ngồi lại với nhau thực hành
dưới sự hướng dẫn của thầy cô, số học sinh còn lại làm bài tập theo chủ đề tự chọn
bám sát. Tôi quan tâm đến việc luyện đọc và viết cho các em bằng cách:
Yêu cầu học sinh dùng vở luyện chính tả của bậc Tiểu học, vở ô ly để thực
hành vào tiết tự chọn và khi về nhà.
Mỗi tiết luyện tập, tôi đưa ra một đoạn văn bản cho học sinh đọc nhiều lần,
sau đó đọc cho các em tự chép lại và sửa lỗi. Hoặc tôi đưa ra một đoạn thơ khuyến
khích các em học thuộc sau đó chép lại theo trí nhớ.
19
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Phân công các em khác đọc tốt và viết chính tả đúng, chuẩn ở trong lớp
luyện đọc, viết cùng bạn.

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Một số em còn giữ thói quen không lập dàn ý khi viết văn, nghĩ gì viết nấy.
Một số học sinh chưa tích cực, chủ động học bài, làm bài cả khi trên lớp và
về nhà.
C. KẾT LUẬN
Nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và môn Ngữ văn nói riêng luôn
được xã hội đặc biệt quan tâm. Muốn nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn
cần đưa ra những biện pháp cụ thể và có sự kết hợp thực hiện đồng bộ của nhiều
yếu tố, đối tượng trong đó hai đối tượng quan trọng là người dạy (thầy cô giáo) và
người học (học sinh).
Người giáo viên dạy văn không chỉ là người thầy mà còn là một nghệ sĩ trên
bục giảng. Thầy/ cô phải truyền cho học sinh mình ngọn lửa, nhiệt huyết của cuộc
sống, của lòng yêu nghề, sưởi ấm những trái tim thơ ngây, cùng học sinh trải qua
nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau (buồn vui, yêu ghét) trong thế giới văn học,
giúp học sinh thoát khỏi vùng trũng của kiến thức, vượt qua tâm thế sợ sệt và cảm
giác chán học môn Văn.
Tôi mong muốn góp một tiếng nói nhỏ từ những trăn trở, suy tư của mình
vào việc đổi mới phương pháp tổ chức, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học
tập bộ môn Ngữ văn. Qua đó, tìm ra một hướng đi mới cho giờ dạy – học Ngữ văn
trong trường THPT nói chung và trường THPT Mường Lát nói riêng.
Trên đây là một số kinh nghiệm có thể áp dụng để nhằm nâng cao chất lượng
dạy học bộ môn Ngữ văn. Tuy nhiên chỉ là những ý kiến cá nhân được rút ra từ quá
trình giảng dạy ở trường THPT Mường Lát. Trong thực tế còn có rất nhiều các kinh
nghiệm từ các đồng nghiệp. Rất mong sự đóng góp của các quý thầy cô.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Mường Lát, ngày 20 tháng 4 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
21
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
1. Kết quả………………………………………………………………………16
2. Nhận xét chung…………………………………………………………… 16
C. KẾT LUẬN……………………………………………………………………17
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status