®Ò tµi: Mét sè ph¬ng ph¸p d¹y tõ vùng
I. Phần mở đầu
Với chính sách mở cửa và giao lưu kinh tế của Đảng và nhà nước ta đã tạo
cơ hội tốt cho việc dạy và học ngoại ngữ nói chung và Tiếng Anh nói riêng. Có lẽ
chúng ta không cần bàn thêm về tầm quan trọng của tiếng Anh hiện nay vì đa số
các em học sinh đều đã hiểu được sự cần thiết của việc học ngoại ngữ, đặc biệt là
Tiếng Anh. Đó là một tín hiệu đáng mừng nhưng hầu hết các em đều tập trung hết
thời gian cho các môn học khối nên thời gian để học Tiếng Anh quá ít. Xuất phát từ
thực tế như vậy nên các em đều gặp khó khăn trong việc ghi nhớ từ vựng, khắc sâu
từ đã học là không thể và từ đó, các em cũng gặp khó khăn trong các kỹ năng ngôn
ngữ như Nghe- Nói – Đọc – Viết; đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn đối
với các giáo viên dạy ngoại ngữ nói chung và giáo viên dạy tiếng Anh nói riêng.
Làm thế nào để các bài giảng ngày càng hấp dẫn, lôi cuốn các em học sinh? Đây là
trăn trở của một giáo viên như tôi cũng như rất nhiều thầy cô và các bạn đồng
nghiệp khác.
Cùng với các môn học khác, môn tiếng Anh cũng đã góp phần đổi mới
phương pháp dạy học. Vì vậy các giáo viên ngoại ngữ cần tích cực chủ động sử
dụng các phương pháp mới- cụ thể là đi theo hai đường hướng: đường hướng lấy
người học làm trung tâm (trong giáo dục nói chung) và đường hướng giao tiếp
(trong giảng dạy ngoại ngữ nói riêng).
Hơn nữa, nội dung chương trình Sách Giáo Khoa mới của Bộ GD & ĐT,
ngoài sự phong phú và hấp dẫn về nội dung song cũng rất khó đối với trình độ thực
tế của học sinh hiện nay. Các em rất dễ mất hứng thú học tập nếu gặp quá nhiều từ
mới. Bởi vậy, giáo viên phải là người hướng dẫn, giúp đỡ các em tích cực học tập
góp phần phát triển tư duy- trước hết là tư duy ngôn ngữ.
Qua quan sát của tôi, việc giải thích từ mới trong các giờ dạy đọc, nghe, viết
hay nói đều chưa được thoả đáng. Đa số các từ mới đều được giải thích sang tiếng
Việt. Lý do chủ yếu là giáo viên có quá ít thời gian để giảng từ trong khi năng lực
1
®Ò tµi: Mét sè ph¬ng ph¸p d¹y tõ vùng
ngôn ngữ của các học sinh là chưa đáp ứng được yêu cầu. Các em cảm thấy có quá
giáo viên còn phải giúp học sinh hình thành và phát triển các chiến thuật học từ
theo cách riêng của mình như: đoán nghĩa của từ dựa vào văn cảnh/ ngữ pháp , ghi
chép một cách có hệ thống nghĩa của từ theo cách riêng của từng em nhằm:
- Giúp học sinh hiểu được nghĩa của từ trong bài hoặc trong văn cảnh
(Meaning in context)
- Giúp học sinh hiểu cách dùng từ (Usage), các nhóm từ đi chung với nhau
(Collocation).
- Giúp học sinh hiểu cách cấu tạo từ- từ loại (word class), từ tố (Word
element).
- Giúp học sinh luyện tập phát âm từ (Pronunciation)
- Giúp học sinh hiểu chức năng của từ trong câu (Word function)
- Giúp học sinh cách viết từ (Spelling).
3
®Ò tµi: Mét sè ph¬ng ph¸p d¹y tõ vùng
IV. Một số giải pháp để thực hiện đề tài
A. Lập kế hoạch cho một tiết dạy.
1. Đối với giáo viên:
Để tiến hành một tiết dạy đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần thực hiện các bước như
sau:
- Nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy từ sách giáo khoa cũng như sách hướng dẫn
giáo viên để từ đó giáo viên định dạng được những từ cần thiết cho tiết dạy, xác
định được những từ trọng tâm, trọng điểm để phân bố thời gian hợp lý cho các hoạt
động giới thiệu từ mới một cách khoa học.
-Nghiên cứu kỹ mục đích yêu cầu của bài dạy. Việc xác định mục đích yêu cầu
của bài dạy chính là giáo viên đã xác định được tiết dạy cần đạt được gì. Từ đó
giáo viên có những yêu cầu phù hợp cho học sinh trong rèn luyện các kỹ năng
ngôn ngữ như nghe- nói – đọc và viết thông qua lượng từ giáo viên cung cấp thích
hợp trong giờ dạy.
2. Đối với học sinh:
Việc chuẩn bị bài chu đáo ở nhà của học sinh cũng góp phần quan trọng
mùa đông có mảnh che tai, chỉ vào mũ và nói: "I've got a cap here. It has two
earflaps to keep the user warmer".
Đối với một số từ khác, có thể dùng tranh ảnh chuẩn bị sẵn hay vẽ hình lên
bảng như:
+ Giáo viên giải thích các từ: Seal, jelly-fish, turtle, sharrk như trong bài
(Unit 9, English 10) bằng các bức ảnh chuẩn bị sẵn như:
5
®Ò tµi: Mét sè ph¬ng ph¸p d¹y tõ vùng
+ Giáo viên có thể giới thiệu các từ mới xuất hiện trong (Unit 5- English 10:
TECHNOLOGY AND YOU) bằng các hình ảnh tương tự. Thông qua những hình
ảnh chuẩn bị sẵn sẽ giúp giáo viên tiết kiệm thời gian trong bước giới thiệu từ mới
6
Home phone
Computer
Air conditioner
Radio set
Cellphone
Fax machine
Rice cooker
®Ò tµi: Mét sè ph¬ng ph¸p d¹y tõ vùng
+ Với các bức ảnh này giáo viên cũng có thể sử dụng phương pháp ghép ảnh
với từ cho sẵn (Matching) để kiểm tra sự hiểu từ của học sinh (Checking
comprehension) sau khi đã giới thiệu từ mới của bài xong.
+ Hoặc chuẩn bị trước các hình và biểu thức toán học diễn tả các khái niệm
về các ngành của môn toán học như: algebra, trigonometry, geometry
2. Dùng hành động, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt hay kịch câm (gestures) để diễn
giải.
Nếu cách sử dụng giáo cụ trực quan thường được áp dụng cho việc giải thích
các danh từ cụ thể thì phương pháp dùng hành động, cử chỉ thường được áp
4, English 12), học sinh có thể dựa vào câu trong bài và kinh nghiệm sống của bản
thân để đoán nghĩa một cách dễ dàng.
+ Còn đối với những từ như: "to outnumber" (Unit 1, English 12), giáo viên
nên tạo ra một ngữ cảnh mới:
"There are 32 girls in the class, but only 11 boys.
-> Girls outnumber boys."
Từ đó học sinh có thể rút ra nghĩa của từ này là "nhiều hơn, vượt trội hơn về
số lượng".
4. Dùng định nghĩa (definitions) hoặc giải thích bằng những từ khác; hoặc cho
từ đồng nghĩa, trái nghĩa (synonyms, antonyms).
Khi gặp từ mới, giáo viên có thể dùng ngay một từ đồng nghĩa hoặc trái
nghĩa đã học để học sinh tự rút ra nghĩa cần thiết. Điều cần chú ý là tuyệt đối cẩn
thận để không sử dụng từ mới giải thích cho từ mới.
+ Ví dụ, các từ "occupation"(Unit2), "contaminated" (Unit5),
"apprehension" (Unit 9, English 12) có thể được giải thích bằng các từ đồng nghĩa:
"career", "polluted", "fear" mà học sinh đã biết.
+ Tương tự như vậy, giáo viên có thể dùng các từ trái nghĩa "simple","big"
giải thích cho "complex" (Unit 5) và "tiny" (Unit 2, English 11).
8
®Ò tµi: Mét sè ph¬ng ph¸p d¹y tõ vùng
Một cách khác là đưa ra lời giải thích, định nghĩa của từ mới. Yêu cầu của
thủ thuật này là giáo viên chú ý dùng những từ thật đơn giản mà học sinh đã biết để
giải thích, chứ không dùng những từ khó, ít gặp.
Ví dụ, giáo viên có thể yêu cầu học sinh tìm ra định nghĩa của các từ
"rotation", "wild-life preserve" hay "recycle" (Unit 4, English 12) ngay trong bài
là: "growing different crops on the same land from year to year", "areas where
animals are protected within their natural environment" và "put back into use". Với
đa số các từ khác, giáo viên phải đưa ra lời giải thích thật dễ hiểu như: "a feeling of
horror" cho từ "chill (Unit 2), hay "to a certain extent" cho cụm "at some length"
(Unit 6, English 12).
+ satisfaction (N)
+ satisfactory (Adj)
+ satisfactorily (Adv)
Hoặc trong phần Reading- Unit 4- English 11 có các từ như:
+ Volunteer (V/ N)
+ Voluntary (Adj)
+ Voluntarily (Adv) …
Với các từ khác trong Word- form chart cũng có thể làm như vậy. Còn
những từ mới ở các phần khác, giáo viên cung cấp hoặc yêu cầu học sinh tìm từ
gốc, nêu nghĩa của tiền tố hoặc hậu tố - từ đó suy ra nghĩa của từ. Ví dụ, với các từ
" unpleasant", "odourless" (Unit 5), "incredible" (Unit 8, English 12), học sinh dễ
dàng hiểu nghĩa của chúng vì đã biết các từ gốc và đã học các tiền tố "un- , in-",
hậu tố "-less"
6. Dịch sang tiếng Việt (translation).
Mặc dù phương pháp truyền thống này không khuyến khích được sự sáng
tạo và tư duy của học sinh, đôi khi dịch từ sang tiếng Việt cũng rất cần thiết, đặc
biệt với các từ khó, từ chuyên ngành hay các thuật ngữ. Tuy nhiên, chúng ta cần
chú ý tránh dịch từng từ (word by word) nếu giới thiệu nó trong cụm từ, và nên
dùng phương pháp này một cách hợp lý.
Ví dụ, với các từ thuộc ngành y như trong Unit 8, English 12: bleeding
peptic ulcers, vessels giáo viên nên dịch ngay sang tiếng Việt tránh lãng phí thời
gian giải thích vì rất khó.
Trên đây là một vài cách giải thích nghĩa của từ. Tuỳ từng trường hợp cụ thể
chúng ta có thể sử dụng một cách linh hoạt giúp học sinh nắm được từ mới một
cách nhanh nhất và chính xác nhất.
Sau khi học sinh đã nắm được nghĩa của các từ mới, giáo viên cần giúp các
em nắm vững và khắc sâu các từ đã học bằng cách đua chúng vào luyện đọc và
đạt câu cho các từ này. Việc dạy phát âm thường được tích hợp trong dạy các kĩ
10
®Ò tµi: Mét sè ph¬ng ph¸p d¹y tõ vùng
Lớp Tổng số
học sinh
Điểm
0-1
Điểm
2-4
Điểm
5-6
Điểm
7-8
Điểm
9-10
SL % SL % SL % SL % SL %
12C4 44 3 6,8 16 36,4 21 47,7 4 9,1 0
12C2 43 5 11.6 17 39,5 18 41,9 3 7,0 0
2. Các lớp sau khi áp dụng đề tài:
Điểm kiểm tra miệng và 15’ về từ vựng sau khi áp dụng đề tài, hầu hết có kết
quả cao hơn so với đầu năm. Cụ thể như sau:
Lớp Tổng số
học sinh
Điểm
0-1
Điểm
2-4
Điểm
5-6
Điểm
7-8
Điểm
9-10
- Cần tạo điều kiện để giáo viên có cơ hội giao lưu trao đổi kinh nghiệm
trong cụm trường, trong tỉnh để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ.
VII. Kết luận.
Việc đưa bộ môn Tiếng Anh vào bậc học THPT; đồng thời, là một trong
những môn thi tốt nghiệp bắt buộc cuối cấp là tạo điều kiện tốt để học sinh có động
cơ học tập và phát triển kỹ năng ngôn ngữ, góp phần phát triển toàn diện, tạo điều
kiện tốt cho quá trình hội nhập quốc tế sau này. Tuy vậy, Tiếng Anh vẫn luôn là bộ
môn khó và mới; nhất là đối với học sinh phần lớn là ở vùng nông thôn. Vì vậy
trong quá trình thực hiện chương trình Sách giáo khoa mới không tránh khỏi lúng
túng và khó khăn với cả giáo viên và học sinh.
Với vốn kiến thức và kinh nghiệm ít ỏi trong quá trình thực hiện giảng dạy
bộ môn, chắc chắn không thể tránh được những thiếu sót. Vậy tôi rất mong nhận
được ý kiến đóng ghóp của các đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Lê Văn Hưu, ngày 20 - 5 - 2013
Người viết
13
®Ò tµi: Mét sè ph¬ng ph¸p d¹y tõ vùng
Lê Đình Tháy
Tôi xin cam đoan sáng kiến này là do tôi tự nghiên cứu và hoàn toàn không sao
chép. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
TRƯỜNG THPT LÊ VĂN HƯU
Tài liệu tham khảo
- SGK & SGV Tiếng Anh 10, 11và 12(Cơ bản) - NXB Giáo dục.
- SGK & SGV Tiếng Anh 10, 11 và 12(Nâng cao) - NXB Giáo dục
- English language Teaching Methodology- BGD 2003.
- Trainer’s Handbook (Adrian Doff) – Cambridge University Press 1989
14