Trang 1/25
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GSO
General Statistics Office (Tổng cục Thống kê)
IMF
International Monetary Fund (Quỹ Tiền tệ quốc tế)
CPI
Consumer price index (Chỉ số giá tiêu dùng)
NHNN
NHNN
GDP
Gross domestic product (Tổng sản phẩm quốc nội)
BMI
Business Monitor Industry
WTO
World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới)
M&A
Mergers and acquisitions (mua bán và sáp nhập)
GHM
Gesellschaft fuer Handwerkmessen mbH (Công ty tổ chức và điều phối IBA)
DMS
Hệ thống quản lý phân phối
SCM
Hệ thống quản trị chuỗi cung ứng
ERP
Quản trị nguồn lực doanh nghiệp
5
BIỂU ĐỒ 2
Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2000-2011
6
BIỂU ĐỒ 3
Tốc độ tăng trưởng GDP theo quý năm 2011-2012
6
BIỂU ĐỒ 4
Tốc độ tăng trưởng CPI từ 2000 đến 2011
6
BIỂU ĐỒ 5
Tốc độ tăng CPI qua các tháng năm 2012
7
BIỂU ĐỒ 6
Tỷ giá từ năm 2008 đến 2011
7
BIỂU ĐỒ 7
Doanh thu thị trường bánh kẹo Việt Nam
8
BIỂU ĐỒ 8
Thị phần bánh kẹo theo doanh thu năm 2011
9
BIỂU ĐỒ 9
Cơ cấu doanh thu năm 2011
12
BIỂU DỒ 10
Các chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu thuần
13
BIỂU ĐỒ 11
Chu kỳ kinh doanh và chu kỳ vốn lưu động của KDC, BBC, HHC
KHUYẾN NGHỊ
MUA
GIÁ MỤC TIÊU
NGÀNH
45.700
BÁNH KẸO
Các chỉ số chính
Giá ngày ra báo cáo
KLGD
Vốn hóa thị trường
(VND) 35.500
133.5 triệu
4,740 tỷ
Triển vọng
Ngành bánh kẹo với tốc độ tăng trưởng có thể lên tới 20%, trong bối
cảnh hiện tại của Việt Nam thì tiềm năng phát triển của ngành rất cao.
Với vị thế dẫn đầu ngành bánh kẹo, chiếm hơn 30% thị phần ngành,
PHÁP LUẬT Môi trường pháp luật Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, mở rộng
về các vấn đề xã hội, môi trường. Trước thực trạng đáng lo ngại về an
toàn vệ sinh thực phẩm, Quốc hội đã ban hành hàng loạt các văn bản
quy phạm pháp luật. Theo đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực
phẩm phải có trách nhiệm đối với tính an toàn, đảm bảo chất lượng
thực phẩm. Bộ luật Hình sự (BLHS) cũng có hẳn một điều luật (Điều
197) quy định về tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
gồm 3 khoản với 3 khung hình phạt khác nhau tùy mức độ nghiêm
trọng của hành vi.
Bên cạnh dó, các văn bản luật về môi trường cũng được ban hành, tác
động không nhỏ đến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
VĂN HÓA
-Chiến dịch “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”: Hàng Việt Nam chất lượng cao đang được ưa chuộng vì chất lượng chấp nhận
được và giá cả phải chăng. Bên cạnh đó các chương trình thúc đẩy và phát triển hàng Việt ngày càng được nhiều người tiêu dùng
hưởng ứng, thể hiện niềm tự tôn dân.
-An toàn thực phẩm: Đây thực sự là một xu hướng xuyên suốt trong quá trình mua hàng của người tiêu dùng, nhất là trong những
năm gần đây khi mà những vấn đề an toàn thực phẩm thực sự trở nên nóng. Khi chọn mua thực phầm hay bất cứ sản phầm nào
người tiêu dùng đều cân nhắc 4 yếu tố: vệ sinh an toàn thực phẩm, thực phẩm tươi & ngon, giá cả phải chăng, không có chất bảo
quản. Bên cạnh đó nguồn gốc, xuất xứ cũng đang là vấn đề nan giải được đặt ra.
-Nhóm tiêu dùng trẻ: Giới trẻ thường chọn một sản phẩm dựa trên sở thích cá nhân và khám phá mới lạ. Họ thường tìm kiếm
2041. Sau đó, nước ta bắt đầu thời kỳ già hóa dân số. Từ năm 1950
đến 2050, cơ cấu dân số nước ta biến đổi rất lớn. Tháp dân số từ dạng
tam giác cân năm 1950 trở thành hình gần với tam giác, năm 2010, với
độ tuổi 15-24 chiếm đa số, đến năm 2020 thì số người trong dộ tuổi
25-34 bắt đầu gia tăng đáng kể. Năm 2050, tháp dân số hoàn toàn biến
dạng với số người trên 50 tuổi chiếm đa số. Hệ quả của sự biến đổi
này là sự lão hóa, tăng tuổi thọ trung bình.
Như vậy, trong khoảng 10 năm tới, việc tăng mạnh lực lượng lao động
(những người đưa ra quyết định tiêu thụ) và kiểu hộ gia đình nhỏ sẽ
kích thích việc tiêu dùng. Nền kinh tế tiêu thụ sẽ trở thành một yếu tố
lớn trong tổng quan kinh tế. Phân khúc tiêu thụ ở Việt Nam lúc này
vẫn chưa rõ nét (trừ số ít người tiêu dùng giàu có). Dự báo sự phát
triển dân số và sự di dân vào đô thị sẽ đưa nền kinh tế tiêu dùng tại
Việt Nam đạt đến những tầm cao mới.
Những năm tiếp theo, khi cơ cấu dân số trở nên lão hóa thì vấn đề sức
khỏe sẽ được chú trọng hơn, với việc quan tâm đến thành phần dinh
dưỡng trong thực phẩm như “hàm lượng chất béo thấp”, “hàm lượng
cholesterol thấp”… Sự phân biệt giới tính và tuổi tác có thể tạo nên
nhiều phân khúc tiêu dùng khác nhau. Điều đó sẽ tác động đến sự phát
triển quảng cáo, giải pháp thị trường và chiến lược phát triển của
ngành và của từng công ty trong ngành.
TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI (GDP)
Nguồn: GSO
Biểu đồ 3: Tốc độ tăng trƣởng GDP theo quý năm 2011-2012
5.68%
6.07%
6.20%
4.00%
4.66%
5.35%
0.00%
2.00%
4.00%
6.00%
8.00%
6.79%
6.89%
7.08%
7.34%
7.79%
8.44%
8.23%
8.46%
6.31%
5.32%
6.78%
5.89%
5.00%
6.00%
7.00%
8.00%
9.00%
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng GDP giai
đoạn 2000-2011
là những mục tiêu tổng quát của năm 2012. Tính chung trong 7 tháng
đầu năm, CPI bình quân 1 tháng tăng 0.31%, thấp nhất so với cùng kỳ
trong 8 năm trước đó. Nguyên nhân chủ yếu do chính sách tiền tệ tín
dụng bị thắt chặt, cuối năm 2011 hàng loạt các biện pháp kiềm chế
lạm phát đã được thực hiện một cách triệt để và đi đúng hướng, trên
cơ sở đó NHNN đã điều chỉnh các mức lãi suất điều hành theo hướng
giảm dần và nới lỏng chính sách tiền tệ để kích thích kinh tế tăng
trưởng trở lại.
Tháng 8, CPI có xu hướng tăng trở lại tăng 0.63% so với tháng trước.
Tháng 9 tăng 2,2%, là mức tăng cao nhất so v ới các tha
́
ng trư ớc của
năm 2012, tăng 5,13% so vơ
́
i tha
́
ng 12/2011 và tăng 6,48% so vơ
́
i
cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu do giá thuốc và dịch vụ y tế,
giáo dục, giá xăng dầu, giá gas.
Theo lý thuyết, lạm phát tăng tác động đến giá cổ phiếu trên ba mặt:
làm cho lợi nhuận mục tiêu của doanh nghiệp khó đảm bảo hoặc thậm
chí suy giảm; tác động trực tiếp đến tâm lý thị trường, gây nguy cơ
khủng hoảng niềm tin vào nền kinh tế; NHNN tăng lãi suất dẫn đến
mức sinh lợi yêu cầu của nhà đầu tư vào cổ phiếu cao. Các yếu tố đó
đều dẫn đến kết quả giá cổ phiếu xu hướng giảm, thị trường cổ phiếu
0.8%
4%
3%
Nguồn: GSO
sẽ chuyển sang giai đoạn suy thoái do các hoạt động bán trước cổ
phiếu để phòng ngừa rủi ro giảm giá.
Tuy nhiên, trong năm 2012 thị trường chứng khoán Việt Nam lại có
những bước đi trái chiều so với chỉ số lạm phát được công bố. Cụ thể,
trong phiên giao dịch 25/6/2012, ngay sau khi có thông tin về tốc độ
tăng CPI giảm, cả 2 chỉ số chứng khoán VN-Index và HNX-Index đều
giảm ngay từ đầu phiên. Thanh khoản ở mức quá thấp đã khiến bên
nắm giữ cổ phiếu mệt mỏi và đẩy mạnh bán ra khiến đa số cổ phiếu
trên hai sàn lao dốc trong buổi chiều. Giao dịch quá thấp cho thấy đa
số đang dè chừng với thị trường. Trên thực tế, nền kinh tế đang đối
mặt với tình trạng giảm phát. Nếu sức cầu còn tiếp tục suy yếu, doanh
nghiệp sẽ còn lao đao với hàng tồn kho tăng cao. Sắp tới, không loại
trừ khả năng nhiều công ty sẽ tuyên bố phá sản, hủy niêm yết. Sự lo
ngại không phải không có cơ sở khi mà số lượng doanh nghiệp giải
thể trong Quý I tiếp tục ở mức cao, tăng trưởng GDP suy giảm và đi
kèm theo đó là các vấn đề về xã hội như thất nghiệp tăng, đời sống của
đại bộ phận người dân gặp khó khăn
LÃI SUẤT
Trong năm 2010, lãi suất huy động VND về cơ bản đã gia tăng ở những tháng đầu năm, giảm và duy trì ổn định trong quý II, quý
III và gia tăng mạnh trong hai tháng cuối năm. Lãi suất huy động tăng 1,96 – 3,39% cho các kỳ hạn so với cuối năm 2009 là 10%.
Lãi suất cho vay tuy đã có sự điều chỉnh giảm ở một số lĩnh vực, ngành nghề, nhưng nhìn chung vẫn ở mức cao. Lãi suất cho vay
trong năm 2010 thể hiện hai điểm nóng là trong những tháng đầu năm (trước và sau khi thực hiện lãi suất thỏa thuận theo Thông tư
số 07/2010/TT-NHNN) và hai tháng cuối năm thì lãi suất cho vay ở mức khá cao (khoảng 14,5 – 18%).
Lãi suất cao nhất 6 tháng đầu năm 2010 là 9.11%, trong khi đó cao nhất năm 2011 so với cùng kỳ là 13,34%.
Đặc biệt, từ cuối năm 2010 NHNN đã áp dụng mức trần lãi suất huy động 14, tuy nhiên, trước sức ép lạm phát tăng cao, cũng như
tình hình huy động vốn ngày một khó khăn, nên các ngân hàng vẫn tăng lãi suất huy động bằng nhiều hình thức. Lãi suất cho vay ở
mức rất cao (21-24%/năm) so với mặt bằng chung trên thế giới và so với tình trạng sức khỏe thực của các doanh nghiệp.
Đầu năm 2012, lãi suất cho vay được áp dụng tại các ngân hàng thương mại nhà nước ở mức thấp, mức cụ thể như tại
18,544
18,932
20,693
0
5,000
10,000
15,000
20,000
25,000
Trang 10/25 PHÂN TÍCH MÔI TRƢỜNG NGÀNH BÁNH KẸO
Đặc điểm ngành bánh kẹo tại Việt Nam
Thứ nhất, ngành bánh kẹo là ngành có mức tăng trưởng cao và ít nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế.
Thứ hai, chịu ảnh hưởng tỷ giá do bột mì-nguyên vật liệu chính phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Thứ ba, tính chất mùa vụ. Sản lượng tiêu thụ mạnh từ các tháng cuối năm, dịp Tết Trung Thu cho đến Tết Nguyên Đán.
Thứ tư, các công ty hoạt động trong ngành đòi hỏi phải có dây chuyền sản xuất hiện đại, được nhập khẩu từ Đức, Anh, Nhật, Hàn
quốc…. và có hệ thống phân phối rộng.
Nguồn: BMI
Triển vọng ngành bánh kẹo tại Việt Nam
Với quy mô dân số lớn, cơ cấu dân số trẻ, tốc độ tăng dân số nhanh,
thị trường bánh kẹo Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng mạnh. Sản
lượng bánh kẹo tại Việt Nam năm 2008 vào khoảng 476.000 tấn, đến
năm 2012 đạt khoảng 706.000 tấn (theo ước tính của GHM). Theo dự
báo của BMI thì tốc độ tăng trưởng ngành bánh kẹo Việt Nam trong 3
năm tới (2012-2014) đạt khoảng 11%/năm.
Rủi ro đối với ngành
Ngành bánh kẹo phải đối mặt với các rủi ro về quản lý chất lượng,
544.19
601.03
582.67
584.52
635.55
703.82
780.09
869.16
0
200
400
600
800
1000
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012F
2013F
2014F
Biểu đồ 7: Doanh thu thị trường bánh kẹo Việt
Nam
Doanh thu (triệu USD)
Trang 11/25
Thị trường tiêu thụ bánh kẹo chủ yếu của các công ty hiện nay chủ yếu là thị trường nội địa (chiếm khoảng 90%) với các sản
kẹo của Việt Nam hiện nay được đánh giá là có thể đạt tới tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân lên tới 20%/năm khi mà nhu
cầu tiêu thụ cao đối với các dòng sản phẩm cao cấp trong khi lượng bánh kẹo tiêu thụ hiện nay vẫn còn thấp. Lợi thế về dân số
của Việt Nam đã thu hút ngày càng nhiều các công ty thực phẩm nước ngoài thâm nhập vào thị trường.
Theo thống kê của GHM, năm 2011, các nhà sản xuất nội vẫn thống lĩnh 75-80% thị phần, và chỉ 20-25% thị phần dành cho các
sản phẩm nhập ngoại. Trong đó, Kinh Đô là đơn vị đang giữ vững ngôi đầu về thị phần bánh kẹo Việt Nam (khoảng 30 - 35% thị
phần). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ tham gia vào ngành cũng ngày càng nhiều. Tuy nhiên, do dòi hỏi về hệ thống phân
phối rộng khắp và nguồn cung nguyên vật liệu phải ổn định nên nhìn chung, khả năng gia nhập vào thị trường của các dối thủ mới
là thấp. Các doanh nghiệp bánh kẹo trong nước vẫn có thể giữ được lợi thế cạnh tranh của mình trong tương lai.
Nguy cơ sản phẩm thay thế cao
Khi thu nhập của người tiêu dùng ngày càng tăng, thì xu hướng tiêu dùng cũng thay đổi. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến
tính an toàn và thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm, các sản phẩm tiêu dùng xanh…. thì ngành bánh kẹo dường như phải đối
mặt với nguy cơ sản phẩm thay thế. Sản phẩm thay thế của ngành có thể đến từ các sản phẩm mang tính chất tiện lợi hơn như các
sản phẩm ăn liền, đóng gói, có thể bảo quản lâu hay các sản phẩm tốt cho sức khỏe, thân thiện với môi trường như trái cây, rau
quả, … 32%
8%
7%
5%
3%
45%
Biểu đồ 8: Thị phần bánh kẹo theo
doanh thu năm 2011
Kinh Đô
Hữu Nghị
Bibica
Haihaco
Biscafun
Khác
Nam với mức doanh thu không ngừng tăng qua các năm. Lợi thế nổi
bật của công ty so với các doanh nghiệp trong cùng ngành là: sản
phẩm đa dạng, nắm bắt tâm lý người tiêu dùng, giá cả hợp lý, công
nghệ sản xuất vượt trội so với các doanh nghiệp cùng ngành. Sản
phẩm của Kinh Đô có sự đột phá về chất lượng, được cải tiến, thay đổi
mẫu mã thường xuyên với ít nhất 40 sản phẩm mới mỗi năm. Một
điểm khác biệt của Kinh Đô so với các doanh nghiệp khác là ngoài
công nghệ hiện đại, công ty rất chú trọng vào kỹ thuật chế biến sản
phẩm, nhất là công thức pha chế phụ gia, nhờ đó mà các loại bánh
kẹo của Kinh Đô có mùi vị hấp dẫn và riêng biệt.
Có thƣơng hiệu nổi tiếng
Kinh Đô được người tiêu dùng bình chọn là thương hiệu số 1 trong
ngành bánh kẹo và snack và đạt Top 10 thương hiệu tốt nhất tại Việt
Nam. Ngoài thương hiệu Kinh Đô, công ty còn quản lý danh mục
gồm trên 20 thương hiệu sản phẩm khác, trong đó có bánh AFC và
Cosy, bánh trung thu cao cấp Trăng Vàng, bánh bông lan Solite, Kem
Merino… là những thương hiệu có độ nhận biết cao tại thị trường
trong nước cũng như xuất khẩu. Năm 2012, công ty sẽ tiến hành tái
cấu trúc các thương hiệu sản phẩm, tạo một nền tảng chung để tối ưu
hóa ảnh hưởng từ thương hiệu mẹ Kinh Đô, nhằm xây dựng Kinh Đô
thành thương hiệu có tính biểu tượng. Mục tiêu là tạo một thương hiệu
lớn mạnh trong khi vẫn tối ưu đầu tư xây dựng thương hiệu.
Giá trị tạo ra từ thương hiệu Kinh Đô
90% người tiêu dùng biết đến Kinh đô, 70% yêu thích Kinh Đô, 69%
đã mua và sử dụng Kinh Đô trước đó, 63% cân nhắc sẽ mua Kinh Đô
trong tương lai và 59% người tiêu dùng sẽ giời thiệu Kinh Đô cho
người khác cùng sử dụng (Theo cuộc khảo sát nghiên cứu thị trường
của Kinh Đô)
CHUẨN BỊ
2009 - 2010
• Chuẩn bị cho việc sáp nhập KDC, NKD, BKD & KIDO
• Thành lập Bộ máy hoạt động theo mô hình Tập Đoàn
• Thiết lập nền tảng cho sự tăng trưởng vượt bậc
XÂY DỰNG
NỀN TẢNG
20112
• Đạt được lợi thế quy mô bằng cách thúc đẩy nền tảng kinh tế
• Đạt mức tăng trưởng kỉ lục trong doanh số bán hàng
• Bắt đầu cải tiến các quy trình và tạo ra hiệu quả của các hoạt động
LỢI NHUẬN
NHỜ HIỆU
QUẢ
2012
• Tạo ra tư duy và văn hóa tăng trưởng
• Hiệu quả hoạt động & kiểm soát chi phí tốt hơn để có kết quả tài
chính tốt hơn
• Đạt được kết quả lợi nhuận như mong đợi
TĂNG
TRƢỞNG
CÓ LỢI
NHUẬN
2013
• Gia tăng hiệu quả sử dụng tài sản
• Gia tăng sản lượng bán hàng bằng cách gia tăng chất lượng
• Quy mô không chỉ là doanh số bán hàng mà còn khả năng sinh lời
Số lượng nhà
phân phối: 212
Số điểm bán
quả tốt hơn. Tuy nhiên công ty cũng đạt được mục tiêu về lợi nhuận,
trả cổ tức cho cổ đông, hợp tác với cổ đông chiến lược và hoàn tất mô
hình kinh doanh với quy mô cao hơn để thích ứng với mội trường
ngày càng thay đổi.
Công ty đã có những thay đổi trong chiến lược phát triển. Cụ thể:
Công ty đang hướng đến cải thiện tính hiệu quả trong hoạt
động kinh doanh, cụ thể là trong ngành thực phẩm và hiệu quả trong
tài sản kể cả tài sản tài chính. Trước đây, công ty thường cải thiện hiệu
quả bằng việc đầu tư tài chính và đầu tư bất động sản.
Thay đổi chiến lược vừa tập trung phát triển hoạt động kinh
doanh vừa tập trung lợi nhuận. Công ty sẽ tập trung vào những ngành
mang lại lợi nhuận cho công ty, phân chia tỉ lệ về tính hiệu quả trong
tài sản và xoay vòng vốn. Mục tiêu này giúp công ty cân đối các chi
phí trong khi vẫn giữ được mức tăng trưởng.
Văn hóa hướng đến người tiêu dùng, quyết định kinh doanh
dựa trên người tiêu dùng, bán những sản phẩm mà người tiêu dùng
cần, bán như thế nào và bán cho ai.
Đẩy mạnh chiến lược bán hàng và marketing , nhân tố quan
trọng để duy trì vị thế dẫn đầu thị trường đồng thời mở rộng hệ thống
phân phối, thiết lập hệ thống DMS, tập trung hóa SCM kết hợp với hệ
thống ERP.
Bên cạnh năng lực sản xuất hiện tại, công ty sẽ khai thác các
nguồn sản xuất bên ngoài với hiệu quả cao hơn.
Tái cấu trúc lại kiến trúc thương hiệu sản phẩm trong mỗi
ngành hàng, nâng độ nhận biết và củng cố lòng trung thành của khách
hàng
DOANH THU VÀ LỢI NHUẬN
Bảng 2: Tốc độ tăng trƣởng doanh thu và lợi nhuận 2010/2009
2011/2010
DTT
26.43%
119.63%
LNKD
105%
-44%
EBIT
18%
-48%
Biểu đồ 9: Cơ cấu doanh thu năm 2011
Biểu đồ 10: Các chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu
thuần
Nguồn: Báo cáo thường niên 2011 Công ty Cổ phần Kinh
Đô
Doanh thu tăng trƣởng tƣơng đối đều qua các năm, đặc biệt 2011
tăng mạnh
Doanh số thuần năm 2011 tăng đột biến, gần gấp 2.2 lần năm 2010,
trong khi DT năm 2010 chỉ bằng 1.26. Tỷ lệ giá vốn hàng bán/DTT
tương đối ổn định và giảm dần qua các năm, chứng tỏ KDC có thể
đang kiểm soát tốt chi phí đầu vào từ nhà cung cấp.
Bánh quy và bánh bông lan tiếp tục là hai mặt hàng chủ lực mang lại
khoản chi cho bán hàng ngày càng tăng nhanh hơn mứa giảm chi phí
giá vốn hàng bán.
Lợi nhuận hoạt động tài chính (chưa có chi phí lãi vay) còn nhiều
biến động, năm 2010 lợi nhuận hoạt động tài chính trên doanh thu
thuần tăng mạnh so với 2009 thì sang năm 2011 nó lại giảm mạnh do
2010 có một khoản thu lớn từ thanh lý đầu tư.
Lợi nhuận khác trên doanh thu thuần xu hướng giảm từ 2009 đến
2011, điều này không hẳn là xấu đối với công ty vì lợi nhuận khác là
khoản thu từ những hoạt động bất thường.
28%
21%
16%
13%
11%
4%
4%
3%
Bánh quy
Bánh Bông lan
Bánh Trung thu
Bánh mì công nghiệp
Kem
0%
20%
40%
60%
80%
100%
2009
2010
2009
2010
2011
Vòng quay khoản phải
thu
2.33
2.10
4.87
Vòng quay hàng tồn
kho
5.92
4.17
6.17
Vòng quay khoản phải
trả
10.94
10.08
13.98
Chu kì kinh doanh và chu kì vốn lưu động của Kinh Đô tuy giảm trong năm 2011 nhưng vẫn còn lớn hơn so với Bibica và Hải Hà,
công ti cần phải cải thiện nhiều trong năm 2012.
Biểu đồ 11: Chu kì kinh doanh và chu kì vốn lƣu động của KDC, BBC, HHC
KDC
BBC
HHC
Trang 16/25
KDC
0.42
0.42
0.78
KDC
0.68
0.63
1.12
BBC
1.05
1.05
1.29
BBC
1.48
1.48
1.79
HHC
2.53
2.53
2.49
HHC
4.30
4.30
4.16
Ngành thực
33.05%
35.45%
39.40%
LN
thuần/DTT
19.73%
31.94%
8.11%
EBT/DTT
37.42%
34.98%
8.22%
EAT/DTT
34.19%
30.04%
6.56%
EBIT/DTT
34.56%
32.78%
5.46%
DTT/Tổng
vốn BQ
42.30%
41.68%
78.35%
ROI
14.62%
13.66%
4.28%
ROA
bắc(NKD) và Kido cũng làm tăng chi phí quản lý của công ty mẹ.
Thêm vào đó,chi phí lãi vay của KDC năm 2011 tăng so với năm
2010 do KDC dùng nhiều khoản vay ngân hàng để tài trợ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Năm 2011,tỷ suất doanh thu trên tổng vốn bình quân tăng cao từ
41.68% năm 2010 lên 78.35% do năm 2011 doanh thu tăng mạnh so
với năm 2010 trong khi tổng vốn không có nhiều thay đổi.
Tỷ lệ hoàn vốn của KDC giảm,năm 2009 tỷ lệ này là 14.62% đến
năm 2010 xuống còn 13.66%.Năm 2011,tỷ lệ hoàn vốn giảm mạnh
xuống 4.28% cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của công ty giảm. Tỷ lệ
doanh thu trên tổng vốn tăng nhưng tỷ suất lợi nhuận trước thuế và
lãi vay giảm mạnh từ năm 2010 đến năm 2011.Tình hình cho thấy
công ty đã tạo được hiệu quả tiết kiệm vốn nhưng không tạo được
hiệu quả trong việc tiết kiệm chi phí.Chi phí năm 2011 quá cao so với
năm 2010.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của KDC giảm từ năm 2009 đến
năm 2011.Đặc biệt giảm mạnh trong năm 2011 cho thấy công ty
không tạo ra hiệu quả hoạt động trong việc sử dụng tài sản để tạo ra
lợi nhuận sau khi đã trừ thuế.
Đối với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty cũng giảm
trong 3 năm do lợi nhuận ròng giảm,trong khi đó vốn chủ sở hữu
bình quân tăng,chủ yếu là tăng thặng dư vốn cổ phần việc sáp nhập
và chuyển đổi cổ phiếu trong năm 2010.
KHẢ NĂNG THANH TOÁN
Bảng 6: Hệ số khả năng thanh toán
2009
khác, lý do có mục Tiền nhận ký quỹ (i) ( Khoản ký quỹ này liên
quan đến việc chuyển nhượng khoản đầu tư của Tập đoàn trong Công
ty Cổ phần Sài Gòn Kim Cương, một trong các khoản đầu tư của
Tập đoàn) số tiền 718.806.560. Đến năm 2011 thì có sự giảm đột
biến so với năm 2010 do mục vay ngắn hạn trong phần Nợ ngắn hạn
tăng, với mục đích tài trợ cho vốn lưu động.
Hệ số khả năng thanh toản nhanh
Hệ số khả năng thanh toản nhanh của công ty là rất tốt, công ty đảm
bảo là các khoản nợ ngắn hạn đến hạn sẽ được thanh toán ngay, dựa
vào những tài sản ngắn hạn có khả năng chuyển hóa thành tiền nhanh
nhất
= hệ số thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh của KDC tương
đối ổn định qua các năm, và ở mức chấp nhận được vì đều lớn hơn 1,
công ty có thể đáp ứng khá dễ dàng các khoản nợ cần phải thanh toán
ngay.
Năm 2010 có sự chênh lệnh khá lớn giữa hai hệ số này, lý do là KDC
tập trung một phần tài sản ngắn hạn của mình vào các khoản đầu tư
0%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
35%
40%
2009
2010
2011
Biểu đồ 12: Các chỉ tiêu trên doanh thu
2010
2011
Hệ số nợ
36.00%
31.72%
28.93%
Vay/VCSH
22.67%
16.26%
19.47%
Vay/TTS
14.09%
10.79%
13.57%
Nợ dài hạn/TTS
4.24%
2.87%
2.83%
Hệ số nợ trong cơ cấu vốn KDC qua các năm ở mức tương đối thấp ( khoảng 30%) và đa phần là các khoản nợ ngắn hạn, không
đáng lo ngại nhiều. Tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn ở mức hợp lý làm công ty không mất nhiều chi phí trả lãi. Tuy nhiên nếu quá
thấp thì công ty sẽ không sử dụng triệt để lợi thế của đòn bẫy tài chính.
Vay / VCSHcho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu. Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ
thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ; có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp
tỷ số năm 2011 cao hơn năm 2010 do công ty đã tăng khoản vay ngắn hạn lên dạt 882,654 so với năm 2010 là 380,554 .
Vay/TTS cho biết khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Tỷ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này có
thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao. Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy
tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay. Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không
có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn.
Hệ số khả năng thanh khoản hiện hành
Hệ số khả năng thanh khoản nhanh
Hệ số tiền
Hệ số khả năng thanh toán từ CF HĐKD
Trang 19/25
Công ty ứng phó với lãi suất nhƣ thế nào???
Lạm phát nước ta liên tục tăng cao từ 2009->2011. đỉnh điểm là 2011 với lãi suất huy động i>20%. nhờ công ty có tầm nhìn chiến
lươc rất rõ ràng nên cuối năm 2010, công ty đã giảm các khoản phải trả (788,888) để sang năm 2011 , công ty đã tăng các khoản
phải trả lên 137,987, nhằm chiếm dụng vốn để bổ sung cho khoản vay trong năm 2011 với lãi suất rất cao. Nhìn chung tình hình
kinh tế gặp nhiều khó khăn, cuối năm 2011, kinh tế có vẻ ỗn định lại, lạm phát giảm, nên công ty có thể vay các khoản vay ngắn
hạn với lãi suất thấp hơn.
Trang 20/25
DẤU HIỆU KHẢ QUAN TRONG CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
Năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012, tình hình hoạt động kinh doanh của Kinh Đô không như mong đợi của cả ban lãnh
đạo công ty và kỳ vọng của nhà đầu tư. Mặc dù doanh thu tăng cao nhưng lợi nhuận thì lại có xu hướng giảm, tuy vậy
chúng tôi vẫn đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng của Kinh Đô.
Thay đổi chiến lƣợc kinh doanh từ 2012
Từ chiến lược xây dựng Kinh đô trở thành tập đoàn kinh doanh đa ngành thì kể từ năm 2012, Kinh đô quyết định chuyển
đổi sang chiến lược tập trung phát triển ngành kinh doanh chính là sản xuất bánh kẹo, vừa tập trung lợi nhuận. Trước đây,
với chiến lược kinh doanh đa ngành, Kinh Đô sẽ thực hiện đầu tư vào những ngành khác nếu thấy cơ hội đến, chẳng hạn
Kinh đô sẽ đầu tư vào Kinhđoland nếu thị trường bất động sản tăng trưởng…Tuy nhiên, như vậy sẽ làm cho công ty gặp
nhiều rủi ro và phụ thuộc nhiều vào thị trường.
Chiến lược tập trung vào phát triển lĩnh vực kinh doanh chính, lĩnh vực mang lại hơn 90% lợi nhuận cho công ty, định
hướng của công ty đã rõ ràng hơn, kỳ vọng sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn trong những năm tới.
Ngay từ 2011, công ty đã xây dựng những nền tảng làm tiền đề cho sự phát triển sau này. Đó là xây dựng các đơn vị kinh
doanh chiến lược SBU ( Strategic Business Units), giúp công ty có sự linh hoạt với thị trường cùng sự khác biệt của mỗi
kết quả kinh doanh của KDC không tốt, lỗ 5,4 tỷ đồng. Ngoài ra, 2011 chi phí tăng do công ty chưa xử lý tốt những vấn
đề phát sinh sau sáp nhập.
Nhìn nhận lại thất bại trên, chúng ta thấy Kinh Đô cần phải thân trọng hơn khi thực hiện các hoạt động M&A, đồng thời
không được bỏ qua lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của công ty.
Hiện nay, công ty đã có những chiến lược, những kế hoạch mới để tái cấu trúc công ty. KDC tập trung xem xét hiệu quả
sử dụng vốn, tính hiệu quả trong việc sử dụng tài sản và tận dụng tối đa hệ thống phân phối rộng khắp trong việc đưa sản
phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng. Tập đoàn tin tưởng sẽ đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân mỗi năm 30%. Và dự
Trang 21/25
kiến đến năm 2015, chưa kể đến doanh số của việc sáp nhập thêm thành viên mới, doanh thu của Tập đoàn sẽ đạt mốc trên
10.000 tỉ đồng. Quá trình M&A giúp công ty đã đạt được nhiều thành công lớn, tăng quy mô, nhờ đa dạng hóa sản phẩm
nên việc kinh doanh của Kinh Đô đang thoát ly dần khỏi ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ, sản phẩm của Tập đoàn đã mở
rộng từ bánh kẹo sang nhiều chủng loại mới phong phú như kem, sữa chua, váng sữa, sữa nước, phômai.
Sắp tới Kinh Đô vẫn sẽ luôn tập trung phát triển ngành hàng kinh doanh chủ lực của công ty là thực phẩm bánh kẹo. Tuy
nhiên, để gia tăng tốc độ tăng trưởng, Kinh Đô sẽ tiếp tục M&A với chiến lược chính là mở rộng chuỗi sản phẩm phục vụ
nhu cầu thiết yếu và tăng thêm sự hiện diện sản phẩm trong đời sống người dân. Mục tiêu là những doanh nghiệp đang
hoạt động hiệu quả, có thương hiệu và điều hành tốt hoặc có tiềm năng tăng trưởng lớn nhằm giúp tập đoàn mẹ tăng
trưởng mạnh mẽ hơn.
Đầu năm 2012, Công ty TNHH Ezaki Glico (Nhật Bản) trở thành cổ đông chiến lược của KDC cho thấy dấu hiệu tốt cho
sự phát triển của Kinh Đô, là cơ hội để Kinh Đô mở rộng danh mục sản phẩm, gia tăng sản lượng, doanh thu, quan trọng
hơn là mang đến nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng. Trang 22/25 ĐỊNH GIÁ
Để định giá KDC chúng tôi sử dụng kết hợp phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do FCFF, chiết khấu dòng cổ tức
(76,969)
(80,817)
Thay đổi VLĐ
(185,558)
(159,180)
(224,882)
Dòng tiền tự do
492,121
588,935
545,723
Giá trị hiện tại của dòng tiền tự do
438,266
467,090
385,454
Giá trị cuối kỳ đã chiết khấu về hiện
tại
5,450,244
Lãi suất phi rủi ro
9.60%
Lãi suất thị trường
12%
-
2,000,000
4,000,000
6,000,000
8,000,000
10,000,000
12.29%
Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại
2011
94.15%
ROE 2011
7.38%
Tốc độ tăng trưởng dài
hạn (g)
6.95%
Giá trị doanh nghiệp kỳ hiện tại (triệu
đồng)
6,741,054
Giá trị vốn chủ sở hữu (triệu đồng)
6,711,650
Phương pháp chiết khấu dòng tiền xác định giá KDC tại mức 43.000 đồng/cổ phiếu
Ngoài ra, để thấy được mức độ đánh giá của nhà đầu tư đối với cổ phiếu KDC và các doanh nghiệp khác cùng ngành,
nhóm chúng tôi dựa trên phương pháp so sánh P/E và P/B, xác định giá cổ phiếu KDC lần lượt là 41.500 đồng/cp và
64.400 đồng/cp.
Công ty
Quốc gia
Vốn hóa thị
trường
(triệu USD)
P/E
P/B
0.84
Breadtalk
Singapo
132
13.3
2.17
Trung bình 12.93
2.12
KDC
270
14.5
1.13
Nguồn: Bloomberg và tổng hợp của nhóm tác giả
Kết hợp các phương pháp với mức tỷ trọng nêu trên giá mục tiêu KDC là 45.700 đồng/cp
Phương pháp
Giá
Tỷ trọng
Trang 24/25
FCFF
42.400
50%
DDM
Điểm target 1 : 36.500 Điểm target 2 : 39.000
Điểm dừng lỗ : khi phá vỡ đường xu hướng hỗ trợ.