Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
I. Cơ sở lí luận và thực tiển.
1./ Xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong việc triển khai thực hiện sách giáo
khoa tiểu học mới.
Thiết bị - đồ dùng dạy học có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong dạy học
toán ở Tiểu học, nhất là trong tiến trình đổi mới chơng trình, nội dung và phơng
pháp dạy học hiện nay ở tiểu học. Nó tạo điều kiện trực tiếp cho ngời dạy và ngời
học phát huy năng lực hoạt động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao tính
khách quan khoa học của kiến thức. Trên cơ sở hớng dẫn, điều khiển của giáo
viên, học sinh đợc trực tiếp thao tác trên thiết bị - đồ dùng dạy học sẽ góp phần
đắc lực cho việc hình thành các kiến thức và kĩ năng cơ bản, tạo sự lôi cuốn, hấp
dẫn, làm cho lao động s phạm hiệu quả hơn. Thực hiện đổi mới chơng trình giáo
dục phổ thông nói chung và chơng trình Tiểu học nói riêng, theo nghị quyết của
quốc hội ngày 9 -12 -2000 bao gồm việc xây dng nội dung, chơng trình, phơng
pháp giáo dục, biên soạn sách giáo khoa mới, nâng cấp và đổi mới trang thiết bị
dạy học, chuẩn hoá trờng sở.
Nh vậy, thực chất đây là công cuộc đổi mới đồng bộ và toàn diện giáo dục
Tiểu học nhằm góp phần đáp ứng phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc, tiếp cận trình độ giáo dục Tiểu học của các nớc phát
triển trong khu vực và trên thể giới. Để đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục
Tiểu học nhằm đổi mới chơng trình tiểu học mới, Ngành giáo dục và đào tạo đã đa
ra mời giải pháp tổng thể trong đó có giải pháp về tăng cờng và chuẩn hoá cơ sở
vật chất, thiết bị giáo dục phục vụ dạy học. Việc tăng cờng và chuẩn hoá về thiết
bị đồ dùng dạy học đặt ra đối với ngời giáo viên tiểu học, đó là khả năng khai thác
và sử dụng hợp lí thiết bị - đồ dùng dạy học trong việc dạy học nói chung và dạy
toán nói riêng là một yêu cầu hết sức quan trọng đặt ra nhằm nâng cao chất lợng
dạy học trong việc triển khai và thực hiện chơng trình, sách giáo khoa Tiểu học
mới.
2./Xuất phát từ định hớng về đổi mới phơng pháp dạy học ở Tiểu học.
Trong định hớng phơng pháp dạy học hiện nay, việc coi trọng và khuyến
khích dạy học trên cơ sở phát huy tích cực, chủ động sáng tạo, độc lập của học
trình dạy học cho nên các trang thiết bị ít khi phát huy tác dụng. Có nơi giáo viên
tổ chức cho học sinh sử dụng các thiết bị dạy học toán thờng chỉ hớng dẫn lập lại
theo mẫu hoặc làm theo hiệu lệnh của giáo viên để minh hoạ cho bài học sách
giáo khoa, hầu nh ít khi học sinh sử dụng các thiết bị dạy học toán để chiếm lĩnh
tri thức mới.
Có một số giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học cha đúng lúc, đúng chỗ, đúng
mức độ của nội dung bài học, nhiều khi còn lạm dụng. Một số giáo viên đã biết
sử dụng đồ dùng dạy học thì lại cha khai thác triệt để các đồ dùng đó.
Qua nghiên cứu các canh hình trong sách giáo khoa toán 3, nghiên cứu bộ đồ
dùng biểu diễn của giáo viên và bộ thực hành của học sinh, đối chiếu với việc sử
dụng đồ dùng dạy học khi lên lớp, qua trao đổi với giáo viên trực tiếp giảng dạy
lớp 3 tôi rút ra nhận định chung nh sau:
1./ Ưu điểm
Song song với việc đổi mới chơng trình, sách giáo khoa và phơng pháp dạy
học, hiện nay hầu nh các trờng tiểu học đều trang bị các đồ dùng dạy học toán t-
ơng đối đầy đủ và phù hợp với các tiết dạy của chơng trình. Đặc biệt là các trờng
tiểu học ở thành phố lớn thì việc trang bị các đồ dùng dạy học không chỉ đảm bảo
về chất lợng, hình thức mẫu mã đẹp, phong phú về chủng loại, hiện đại mà còn dể
sử dụng, thu hút đợc sự chú ý của học sinh.
Qua thực tế dạy học sách giáo khoa mới, giáo viên ngày càng nhận thức đợc
đầy đủ tầm quan trọng của đồ dùng trực quan trong dạy học toán tiểu học. Nhiều
giáo viên đã xác định đợc dạy học đảm bảo tính trực quan là một trong những
nguyên tắc trong quá trình dạy học toán. Việc dạy học này không những làm cho
quá trình nhận thức của học sinh đợc dễ dàng mà nó còn góp phần rèn luyện t duy
độc lập, sáng tạo và gây hứng thú học tập cho học sinh.
Ngoài những đồ dùng thông thờng đã đợc trang bị đồng loạt cho giáo viên ở
các trờng tiểu học thì một số giáo viên còn tích cực sáng tạo, thiết kế một số đồ
dùng dạy học. Chính những kết quả sáng tạo đó của một số giáo viên đã góp phần
không nhỏ trong việc đổi mới phơng pháp dạy học ở nhà trờng, gây hứng thú học
tập cho học sinh. Hằng năm một số địa phơng trong cả nớc đã tổ chức hội thi làm
+ Hoặc trong tiết đầu của môn học toán, giáo viên không giới thiệu sơ lợc
từng đồ dùng dạy học toán trong bộ thực hành nên khi sử dụng các em không thực
hành kịp cùng giáo viên.
+Một số trờng Tiểu học, cán bộ phụ trách thiết bị thờng kiêm nhiệm những
việc khác nên việc mợn, trả gặp nhiều khó khăn. Đây là một trong những nguyên
nhân khiến giáo viên lên lớp sử dụng đồ dùng học tập thiếu thờng xuyên .
+Có giáo viên không thành thạo, thậm chí không chú ý những thao tác kĩ thuật
trong khi sử dụng đồ dùng. Vì thế đôi khi họ dùng một cách hình thức trên lớp mà
không có hiệu quả .
Ví dụ1 :
Khi dạy bài hình vuông giáo viên đã không coi trọng lấy học sinh làm trung
tâm mà sợ mất thời gian. Khi đa ra một hình vuông đáng lẽ giáo viên nên gọi một
học sinh cầm thớc e ke kiểm tra các cạnh của hình vuông và rút ra nhận xét và gọi
một học sinh khác kiểm tra các góc của hình vuông bằng ê ke hoặc có thể cho học
sinh dới lớp lấy ra một hình vuông trong bộ đồ dùng và thực hiện kiểm tra các
cạnh và góc rồi rút ra nhận xét thì giáo viên coi nh học sinh đã biết rồi và đa ra kết
luận, bắt học sinh công nhận: Hình vuông có 4 góc vuông và 4 cạnh bằng nhau.
Ví dụ 2:
Khi vẽ đoạn thẳng việc dùng thớc kẻ để nối 2 điểm, mà đặt thớc kẻ phía trên
hai điểm và dùng bút ( phấn ) để nối ở mép dới của thớc kẽ thì không phải là thao
tác đúng, thao tác đúng nh sau :
+Một số giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học không đúng lúc, đúng chỗ, đúng
mức độ của bài dạy .
Ví dụ :
Khi dạy học sinh bảng chia 9 giáo viên và học sinh chỉ cần đa ra các tấm nhựa
để lập một hoặc hai phép tính trong bảng nhân 9 từ đó lập phép chia 9 tơng ứng,
nhng có giáo viên đã hớng dẫn học sinh dùng các tấm nhựa để lập lại hết bảng
nhân 9 và bảng chia 9 vừa mất thời gian và không có kết quả .
+Bản thân đồ dùng dạy học không nói hết nội dung toán học chứa đựng trong
nó, mà phải thông qua lời nói của giáo viên kết hợp với động tác sử dụng đồ dùng
Qua việc tìm hiểu, điều tra cho thấy thực tế các giờ dạy toán có sử dụng đồ
dùng dạy học đã làm cho các em hứng thú trong học tập, tạo điều kiện cho các em
hoạt động tích cực sáng tạo, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức. Đặc biệt các
em rất hứng thú với việc sử dụng đồ dùng học sinh khi học tập.
2. Tồn tại
+ Do địa bàn ở đây là vùng nông thôn miền núi kinh tế còn khó khăn, đa số
học sinh đến trờng gia đình chỉ quan tâm khi các em vào lớp 1. Từ lớp 2 trở đi gia
đình phó mặc cho nhà trờng. Số học sinh tự giác tích cực học tập cha nhiều mặc
dù chơng trình tiểu học mới quan tâm đến luyện khả năng diễn đạt, giải quyết tình
huống có vấn đề song bản thân các em ít đợc thực hành nên đôi khi còn lúng túng,
vụng về, thiếu tự tin khi đợc thể hiện khả năng của mình.
+Từ nhu cầu thực tế đặt ra , tôi thấy việc sử dụng đồ dùng dạy học một cách
có hiệu quả góp phần nâng cao chất lợng giờ dạy môn toán lớp 3 là vô cùng cần
thiết và phải làm ngay.
Nắm đợc thực trạng đó , tôi đã khảo sát tình hình lớp 3 B qua một tiết dạy bài :
Bảng nhân 6
Tôi thấy kết quả sau khi khảo sát nh sau:
3. Kết quả khảo sát
Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
S l % S l % S l % S l %
24 2 8,3 3 12,5 15 62,7 4 16,5
Bài tập khảo sát
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 4
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
Bài 1 : Tính nhẩm
6 x 5 = 6 x 3 = 6 x 8 =
6 x 9 = 3 x 6 = 6 x 7 =
Bài 2 : Mỗi rỗ có 6 quả cam . Hỏi có 4 rỗ nh thế có tất cả bao nhiêu quả cam ?
1-5 Lới ô vuông kích thớc 10 x 10 cm , mỗi ô vuông có cạnh 1 cm và một số
hình học trong sách giáo khoa.
1-6 Một số dụng cụ vẽ hình : com pa ( dùng cho giáo viên ); ê ke vuông ( bằng
nhựa trong ) kích thớc 30 x 40 x 50cm, thớc đo độ dài các đơn vị mm, cm , dm ,
và m , loai 1m , 50 cm .
1-7 Ngoài ra còn có bộ thiết bị bổ sung :
Lu ý khi sử dụng bộ đồ dùng này phải phù hợp với từng bài cụ thể và nên có
mô hình to hơn sách giáo khoa để các em dễ nhìn và đễ quan sát.
Bộ đồ dùng này có bảng phụ: tác dụng giúp giáo viên giảm bớt lời, học sinh
thấy đợc mối liên hệ giữa bài thực hành và bài hiện có.
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 5
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
Ngoài ra còn có đồ dùng là ô vuông, tấm bìa hình chữ nhật tấm lới chia dạy
với bài cụ thể là diện tích các hình và còn có đồ dùng để dạy số La Mã .
2 Giới thiệu thiết bị dạy học toán 3 ( dùng cho học sinh )
2-1 Bộ các số 1,10,100,1000, và 10.000
+ 10 tấm nhựa trắng ghi số 1000
+10 tấm nhựa trắng ghi số 10000
+ 10 tấm nhựa trắng hình elíp ghi số 1
+ 10 tấm nhựa trắng hình elíp ghi số 10
+ 10 tấm nhựa trắng hình elíp ghi số 100
2-2 Bộ các tấm nhựa trắng có 100 ô vuông, 10 ô vuông là một ô vuông :
+ 15 hình vuông bằng nhựa in 100 ô vuông .
+ 10 tấm nhựa in 10 ô vuông.
+ 10 tấm nhựa in 1 ô vuông.
2-3 Bộ chấm tròn học bảng nhân , bảng chia .
+ 10 tấm nhựa in 6 chấm tròn .
+ 10 tấm nhựa in 7 chấm tròn .
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
Trong quá trình sử dụng Bộ thiết bị dạy học, học sinh đợc thực hành ngay
trong giờ học bài mới dới sự hớng dẫn của giáo viên giúp các em phát triển trình
độ t duy, khả năng diễn đạt bằng lời, bằng các thao tác thực hành trên lớp, phát
triển năng lực trừu tợng hoá, khái quát hoá Tuy nhiên Bộ thiết bị dạy học Toán ở
lớp 3 yêu cầu giáo viên phải căn cứ vào trình độ chung của lớp học mà sử dụng
đúng mức, nhằm phát triển năng lực học tập của học sinh, hạn chế những áp đặt và
yêu cầu vợt quá sự cố gắng của học sinh.
Dạy phần kiến thức về số học .
1-1 Dạy phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000:
a. Cách làm chung .
Dùng các thẻ từ 6 đến 9 chấm tròn để thể hiện đợc các bớc nh ý đồ trong sách
giáo khoa, từ đó xây dựng bảng nhân ( bảng chia ): Phần này, giáo viên nên tự làm
đồ dùng là một bảng nhân ( bảng chia ) cho từng bài ( có thể đồ dùng đó là bảng
phụ để viết sẵn bảng nhân hoặc bảng chia của bài dạy hôm đó )để củng cố và cho
học sinh thực hành ngay trong tiết học bài mới, sau đó giáo viên treo bảng nhân
( bảng chia ) đó trên lớp học để học sinh quan sát và nhớ, thuộc ngay trên lớp.
Hoặc với giáo viên có điều kiện thì có thể làm tất cả các bảng nhân ( bảng chia )
trên giấy rôki và treo trên lớp để các em đợc quan sát hằng ngày và giúp những
học sinh học chậm sẽ dần thuộc bảng nhân ( bảng chia ) để áp dụng vào việc giải
các bài tập.
b. Minh hoạ cách làm cụ thể :
Tiết 18 : Bảng nhân 6
Sau khi giới thiệu bài xong, giáo viên hớng dẫn học sinh thành lập bảng nhân
6.
* Lần 1: Giáo viên và học sinh cùng lấy một tấm nhựa hình vuông có 6 chấm
tròn.
+ Giáo viên hỏi: Tấm nhựa có mấy chấm tròn? ( có 6 chấm tròn ).
+ Giáo viên hỏi: 6 chấm tròn đợc lấy mấy lần? ( đợc lấy 1 lần ).
+ Giáo viên kết luận và ghi bảng: 6 chấm tròn đợc lấy 1 lần ta viết:
+ Giáo viên hỏi : Quan sát 3 phép nhân ta vừa tìm đợc, ta thấy thừa số thứ
nhất của phép nhân là bao nhiêu ? ( đều là 6 )
Thừa số thứ 2 của phép nhân là mấy ? ( là 1,2,3 )
Tích của các phép nhân là bao nhiêu ? ( là 6, 12 ,18 )
+ Giáo viên kết luận :Trong các phép nhân ta vừa tìm đợc, ta thấy các phép
nhân đều có thừa số thứ nhất là 6; thừa số thứ 2 có số ở phép nhân liền sau hơn số
ở phép nhân liền trớc là 1 đơn vị nên tích ở phép nhân liền sau hơn tích ở phép
nhân liền trớc là 6 đơn vị. Tức là ta lấy tích ở phép nhân liền trớc cộng với 6 ta đợc
tích ở phép nhân liền sau :
Ví dụ 6 x 1 = 6
Ta lấy 6 + 6 = 12 . Vậy ở phép nhân liền sau là : 6 x 2 = 12
Ta lấy 12 + 6 =18 Vậy ở phép nhân liền sau tiếp là 6 x 3 = 18
Giáo viên hớng dẫn các em dựa vào phép nhân vừa tìm đợc để thành lập hoàn
chỉnh bảng nhân 6
Tiết 23 : Bảng chia 6
Cũng với các tấm nhựa hình vuông, mỗi tấm nhựa có 6 chấm tròn.
* Lần 1: Giáo viên đặt tấm nhựa có 6 chấm tròn và hỏi: 6 chấm tròn đợc chia
làm 6 phần bằng nhau. Hỏi một phần có mấy chấm tròn ? (có 1 chấm tròn )
+ Giáo viên hỏi tiếp: vậy 6 chia cho 6 đợc mấy lần ? ( đợc 1 lần )
+ Giáo viên ghi bảng: 6 : 6 = 1 khi thành lập phép chia này giáo viên yêu cầu
học sinh cùng đặt một thẻ trên bàn, 1 thẻ có 6 chấm tròn và yêu cầu các em chia
làm 6 phần bằng nhau và nhìn vào đó để nêu phép tính chia
* Lần 2 : Giáo viên đặt 2 tấm thẻ lên bảng và nói : Mỗi tấm thẻ có 6 chấm
tròn. Vậy muốn biết cả 2 tấm thẻ có bao nhiêu chấm tròn, ta làm tính gì ? ( tính
nhân )
+Giáo viên hỏi : T a có phép nhân nh thế nào và bằng bao nhiêu ?
( 6 x 2 bằng 12 ). Đồng thời giáo viên yêu cầu học sinh đặt 2 thẻ trên mặt
bàn, mỗi thẻ có 6 chấm tròn.
+ Giáo viên dùng thớc khoanh cả 2 tấm nhựa và nói: 2 tấm nhựa có 12 chấm
tròn, ta đem chia đều làm 6 phần bằng nhau. Hỏi mỗi phần có mấy chấm tròn ?
nhiêu ô vuông? ( cô có thêm bốn trăm ô vuông )
- Giáo viên ghi số 400 ở dới cột hình vuông3
* Giáo viên và học sinh lấy tiếp 2 hình chữ nhật có 10 ô vuông xếp thành 2
cột dọc tiếp theo và nói:
Hai hình chữ nhật cô vừa xếp có bao nhiêu ô vuông ( cô có 20 ô vuông )
- Giáo viên viết tiếp số 20 dới 2 hình chữ nhật vừa xếp .
* lần cuối giáo viên và học sinh lấy 3 ô vuông rời xếp thành một cột dọc tiếp
theo và nói:
- Cô vừa xếp mấy ô vuông ( Cô vừa xếp 3 ô vuông ).
Giáo viên nói:
- Cô vừa xếp tất cả mấy lần số cột ô vuông? ( Cô vừa xếp tất cả 4 lần số cột ô
vuông )
- Mỗi lần có số ô vuông là bao nhiêu ?
+ lần 1 có 1000 ô vuông .
Lần 2 có 400 ô vuông .
Lần 3 có 20 ô vuông .
Lần 4 có 3 ô vuông .
- Ta đa lần lợt từng lần đó vào các hàng trong bảng tơng ứng sau.
- Giáo viên treo bảng kẻ sẵn các hàng rồi hỏi học sinh và ghi lần lợt nh sau:
Bảng 1
Hàng
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 9
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
Nghìn Trăm Chục Đơn vị
1 4 2 3
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc: hãy đọc số vừa tìm đợc qua số lợng các ô
vuông theo thứ tự các hàng từ trái sang phải ( Một nghìn bốn trăm hai chục ba đơn
vị)
100
100
100
10
10
1
1
1
1000
100
100
10
10
1
10
1000
1000
1000
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
Hàng
Chục
nghìn
Nghìn Trăm Chục đơn vị
4 2 3 1 6
* Lần 1: Giáo viên và học sinh cùng xếp 4 tấm nhựa ghi số 10000 vào cột chục
nghìn nh ở bảng trên và nói: Một tấm nhựa là một chục nghìn. Vậy bốn tấm nhựa
ta có mấy chục nghìn? ( 4 tấm nhựa ta có 4 chục nghìn )
Ta phải ghi ở hàng chục nghìn chữ số mấy ( Ta ghi chữ số 4 ở hàng chục nghìn
)
* Lần 2: Giáo viên và học sinh cùng xếp 2 tấm nhựa ghi số 1000 vào cột nghìn
1000
1000
100
100
100
10
1
1
1
1
1
1
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
Chục nghìn Nghìn Trăm Chục đơn vị
3 3 2 1 4
+ Sau đó giáo viên gọi một học sinh lên điền từng chữ số ở dới các cột của
từng hàng.
+ Giáo viên yêu cầu: - hãy viết lại số trên cho cô (33 214 )
- Đọc số đó nh thế nào? Ba mơi ba nghìn hai trăm mời bốn )
+Tiếp đó giáo viên cho học sinh luyện tập thông qua các bài tập trong sách
giáo khoa. ( 141 )
2 . Dạy phần kiến thức về Đại lợng và đo đại lợng :
2-1 Giới thiệu cách làm chung :
Đồ dùng thớc đo độ dài 1m hoặc 0,5m để dạy học về quan hệ giữa mét và cm
và thực hành đo ớc lợng độ dài.
+ Dạy học về đơn vị đo khối lợng ( gam ), đơn vị đo thời gian ( ngày, tháng,
năm ). Giáo viên tự tìm tờ lịch ghi tháng, năm,cân đồng hồ, quả cân 5 g, 10
g,100g, đồng hồ điện tử .
+ Dạy học về diện tích, đơn vị đo diện tích ( Xăng ti mét vuông ) dùng thẻ các
ô vuông cạnh 1cm, lới ô vuông cạnh 10 cm. Ngoài ra trong phần chu vi hình chữ
100
10
1
1
1
1
1000
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
- Học sinh thực hành đo và giáo viên kiểm tra lại.
2-3 Cách làm cụ thể của tiết 65 (gam )
* Chuẩn bị
Các đồ dùng dạy học cần có :
+ Giáo viên
Một chiếc cân 2 đĩa
1 chiếc cân đồng hồ
Các loại quả cân 1 kg , 2 kg , 5kg , 1g, 2g ,5g, 10g,20g 100g, 200g , 500g .
- Các đồ vật: Một gói muối I ốt nặng 1 kg, một hộp đờng nặng 200g, 3 quả táo
cân nặng 700 g, 1 gói mì chính cân nặng 210 g, một quả lê cân nặng 400g, một
quả đu đủ cân nặng 800g, một chiếc bắp cải cân nặng 600g.
* Cách thực hiện :
- Từ việc kiểm tra bài cũ giáo viên hỏi :
+ Em đã đợc học những đơn vị đo khối lợng nào ( đơn vị đo khối lợng đã học
là ki lô -gam )
+ Giáo viên giới thiệu bài: Hôm nay cô xin giới thiệu với cả lớp một đơn vị đo
khối lợng mới là . gam viết tắt là g
- Giáo viên đa cân 2 đĩa và gói muối nặng 1kg.Các quả cân là 500g, 200g,
100g , và hỏi?
+ Em có biết tên gọi của chiếc cân này không? ( là cân 2 đĩa )
- Ai có thể dùng các quả cân và cân cho cô xem gói muối nặng bao nhiêu g đ-
ợc không? ( Hai học sinh lên cân và nêu gói muối nặng 1000g ) .
- Học sinh lên thực hành cân quả đu đủ nặng 800g và chiếc bắp cải nặng
600g.
* Các bài tập còn lại hớng dẫn học sinh giải bài tập .
Tiết :107 : tháng năm
* Chuẩn bị các đồ dùng dạy học gồm có:
+ Giáo viên:
Các loại lịch của năm 2005 ( có 12 tháng )
- Học sinh: Mỗi học sinh 1 tờ lịch năm 2005 .
* Cách thực hiện:
- Giáo viên treo tờ lịch có đủ 12 tháng của năm 2005 và hỏi:
+ Em cho cô biết đây là tờ lịch của năm nào? ( Đây là tờ lịch của năm 2005 )
+ Tờ lich này gồm bao nhiêu tháng ? đó là những tháng nào? ( Tờ lịch gồm có
12 tháng, đó là tháng 1, tháng 2, tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 6, tháng 7, tháng
8, tháng 9, tháng 10, tháng 11, tháng 12.)
+ Quan sát từng tháng và cho cô biết tháng nào có 30 ngày? tháng nào có 31
ngày và tháng nào có 28 ngày?
Tháng có 30 ngày là : Tháng 4, tháng 6 , tháng 9 , tháng 11 .
Tháng có 31 ngày là : Tháng 1 , tháng 3,tháng 5, tháng 8, tháng 7, tháng
10,tháng 12.
Riêng tháng 2 có 28 ngày ,
Giáo viên kết luận đó là nội dung bài tập số 1 ( 108 ) .
- Học sinh thực hành xem lịch của mình mang đến :
- Giáo viên hỏi :
+ Em mang đến tờ lịch của tháng mấy trong năm? ( tờ lịch của tháng 8 )
+ Quan sát tờ lịch tháng 8 em thấy ngày 18 là thứ mấy ? ( ngày 18 là thứ 5 )
+ Ngày cuối cùng của tháng 8 là thứ mấy? ( Ngày cuối cùng của tháng 8 là
thứ 4 ) .
+ Chủ nhật cuối cùng của tháng 8 là ngày nào? ( ngày 28 )
- Giáo viên cho 7 đến 8 học sinh nêu tơng tự nh trên với tờ lịch của mình ở các
tháng bất kì. Giáo viên kết luận chúng ta vừa hoàn thành nội dung bài tập số 2
theo cách thứ nhất , chẳng hạn (5 giờ 10 phút)
+ Nếu kim dài vợt quá số 6 ( theo chiều quay của kim đồng hồ ) thì nói theo
cách thứ 2, chẳng hạn ( 8 giờ kém 5 phút )
3 Dạy phần kiến thức về ; Yếu tố hình học :
3 1 Giới thiệu cách làm chung :
+ Đồ dùng là dụng cụ vẽ góc; là thớc thẳng và ê ke, giáo viên giúp học sinh
biết vẽ gốc vuông trên bảng, trang vở. Dùng mô hình chữ nhật, hình vuông để dạy
một số đặc điểm của những hình đó. Dùng lới ô vuông cho học sinh thực hành tính
diện tích hình chữ nhật, hình vuông từ đó đi đến cách tính, quy tắc tính .Giáo viên
hớng dẫn học sinh dùng các hình tam giác vuông cân để xếp các hình vẽ nh trong
sách giáo khoa.( có 15 hình) .
3-2 minh hoạ cách làm cụ thể :
Tiết : Diện tích hình chữ ( Trang 152 )
* Chuẩn bị : Với tiết này khi dạy học giáo viên chuẩn bị :
+ Một số hình chữ nhật (bằng bìa có kích thớc 3cm x4 cm, 6cm x 5cm ; 20 cm
x 30 cm và tấm lới ô vuông có diện tích cm
Cách thực hiện :
+ Giáo viên đa hình chữ nhật ( Bằng bìa ) có chia 12 ô vuông và hỏi:
Trên bảng cô có hình gì ( Trên bảng cô có hình chữ nhật )
- Hình chữ nhật đó có chiều dài là mấy ô vuông? ( có chiều dài là 4 ô vuông)
- Còn chiều rộng là mấy ô vuông? ( chiều rộng là 3 ô vuông )
+ Giáo viên đa tấm lới ô vuông: Đây là tấm lới ô vuông cứ 1 ô vuông là có
diện tích là 1 cm
2
và hỏi học sinh ?
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 15
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
- Vậy hình chữ nhật có 12 ô vuông thì sẽ có diện tích là bao nhiêu cm
2
, mỗi tấm
lới ô vuông trùng với 1 ô vuông của hình vuông . Vậy 9 ô vuông có diện tích là
bao nhiêu cm
2
( 9 ô vuông có diện tích là 9 cm
2
)
+ Giáo viên nói: Ta có thể tính diện tích hình vuông bằng cách lấy độ dài 1
cạnh nhân với chính nó . Tức là lấy bao nhiêu nhân với bao nhiêu? ( Lấy 3x3=9
(cm
2
).
* Vậy muốn tính diện tích hình vuông ta làm thế nào? ( Muốn tính diện tích
hình vuông ta lấy độ dài 1 cạnh nhân với chính nó ).
* Lu ý với giáo viên khi dạy bài diện tích hình vuông cha sử dụng : coi hình
vuông là hình chữ nhật đặc biệt để đa ra quy tắc tính diện tích hình vuông.
Biện pháp 3
đề xuất cách sử dụng đồ dùng dạy học trong tổ chức các
hoạt động dạy học toán 3 một cách có hiệu quả.
1/ Những đề xuất liên quan đến cơ sở vật chất , trang
thiết bị , đồ dùng dạy học .
Việc sử dụng các thiết bị - đồ dùng dạy học trong quá trình giảng dạy là một
yêu cầu hết sức quan trọng nhằm nâng cao chất lợng dạy học. Để góp phần sử
dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học khi dạy môn toán ở tiểu học nói chung và môn
toán lớp 3 nói riêng bản thân tôi có một số đề xuất nh sau:
Đề nghị ban soạn thảo chơng trình Tiểu học cần biên soạn các tài liệu hớng
dẫn cụ thể, chi tiết cho từng khối lớp , in ấn nhiều để phổ biến rộng rãi tới từng
giáo viên.
- Thiết kế và cung cấp các loại đồ dùng phong phú, đa dạng có chất lợng tốt
dụng, sử dụng với mục đích gì ( dẫn dắt kiến thức mới hay minh hoạ, hệ thống hoá
kiến thức ).
+ xác định thời điểm thích hợp , độ dài thời gian sử dụng đồ dùng đó trong tiết
học.
+ Tìm biện pháp, cách thức thích hợp, chuẩn bị hệ thống câu hỏi dẫn dắt học
sinh thực hành, quan sát đồ dùng theo đúng mục đích sử dụng.
+ Chú ý việc sử dụng ngôn ngữ trong quá trình sử dụng đồ dùng dạy học. Khi
giới thiệu và sử dụng đồ dùng dạy học giáo viên nên tránh trình trạng giải thích
dài dòng về đồ dùng dạy học vừa làm mất thời gian và không cần thiết, vừa làm
rối vấn đề. Tuy nhiên giáo viên cũng xác định đợc rằng lời nói của giáo viên cũng
là phơng tiện trực quan ngôn ngữ. Vì vậy một khi sử dụng đồ dùng dạy học giáo
viên cần xác định rõ đồ dùng dạy học đó có tác dụng gì trong việc khai thác nội
dung kiến thức của bài để có thể kết hợp việc sử dụng ngôn ngữ với sử dụng đồ
dùng dạy học một cách hợp lí để giúp học sinh hiểu biết vấn đề rõ ràng hơn, mạch
lạc hơn.
+Để tránh trình trạng lúng túng mất thời gian trong việc sử dụng đồ dùng dạy
học giáo viên cần dành thời gian thực hành trớc các thao tác sử dụng đồ dùng dạy
học trớc khi lên lớp.
Cuối cùng giáo viên cần nắm vững phơng châm sử dụng và khai thác đồ dùng
dạy học toán lớp 3 nh sau:
+ Tất cả các thao tác mà học sinh làm đợc, yêu cầu để học sinh tự tiến hành.
+Tất cả những thao tác mà học sinh làm sai cần phải đợc giáo viên chỉ rõ và h-
ớng dẫn cách làm.
+ Chỉ khi học sinh không thể thực hiện đợc thao tác trên đồ dùng thì giáo viên
mới làm mẫu và hớng dẫn cụ thể, rõ ràng để học sinh có thể tiến hành thao tác.
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 17
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
+Các yêu cầu của giáo viên đặt ra phải rõ ràng, theo trình tự các bớc một cách
Giải pháp sử dụng trực quan trong quá trình dạy học toán ở tiểu học là phù
hợp với con đờng nhận thức của học sinh và phù hợp với đặc thù môn học bậc
học. Tuy nhiên việc sử dụng sao cho đúng lúc đúng chỗ,đúng mức độ và đúng
với đối tợng học sinh cụ thể thì luôn là một Bài toán mở Đối với mọi giáo viên
đứng lớp.
Qua thực hiện, tôi thấy cùng một bộ đồ dùng, cùng một tiết dạy, cùng
những gợi ý của sách giáo khoa và sách giáo viên nhng việc sử dụng đồ dùng trực
quan để thực hiện các ý tởng dạy học của mỗi giáo viên lại mang tính sáng tạo,
tính đa dạng và phong phú ở mức độ nhất định. Điều đó đã mang lại hiệu quả rất
khác nhau cho các tiết học mà không có tài liệu nào nói đủ. Có thể nói: Khai thác
và sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học là quá trình thể hiện nhuần nhuyễn giữa
các yếu tố, trình độ chuyên môn của giáo viên và năng lực s phạm với những thao
tác thực hành khéo léo, với ngôn ngữ giảng giải ngắn gọn, rõ ràng. Tất cả những
điều này không thể hình thành ngày một, ngày hai mà phải có quá trình tích luỹ
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 18
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
lâu dài , liên tục. Đây cũng là vấn đề đặt ra để tôi tiếp tục hoàn thiện hơn nghiệp
vụ của mình trong những năm dạy tiếp theo.
Để góp phần nâng cao chất lợng dạy học, bản thân ngời giáo viên tự học hỏi,
tự bồi dỡng nâng cao trình độ chuyên môn của mình, trong đó có kĩ năng sử dụng
và khai thác có hiệu quả đồ dùng dạy học, không những thế ngời giáo viên phải có
tâm huyết với nghề nghiệp, cần tìm tòi sáng tạo tự làm ra những đồ dùng dạy học
để khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất.
* Một số lu ý khi sử dụng đồ dùng trong dạy học Toán 3
Tất cả các chi tiết trong bộ đồ dùng biểu diễn của giáo viên đều đợc gắn trên
bảng phụ hoặc gắn trên bảng từ. Một số đồ dùng đợc giáo viên gắn thêm nam
châm vào mặt sau của các đồ dùng để tiện sử dụng.
Đối với bộ đồ dùng thực hành của học sinh, giáo viên cho các em sử dụng trên
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 19
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
Đánh giá của hội đồng khoa học
Phòng GD-ĐT Quảng Trạch
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 20
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 21
Kinh nghiệm :Về việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3
MaiThịLý
NH GI Qu ng S n, ng y15 thỏng 1 n m
2011
C A H I NG KHOA H C NH TR NG
Ng i vi t
Nguy n Th
Qu nh Hoa
Ngời thực hiện : Mai Thị Lý
- Trờng TH Số 1 Quảng Sơn - Trang 22