SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA BÌNH
TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN GIA BÌNH
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP
KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC
TRONG KỸ THUẬT CHẠY ĐÀ, GIẬM NHẢY
CỦA NHẢY XA KIỂU NGỒI CỦA HỌC SINH KHỐI 8,9
SƠ YẾU LÍ LỊCH
Họ và tên : NguyÔn ViÕt Kh¸nh
Ngày tháng năm sinh : 05 - 01 - 1979
Năm vào ngành : 2001
Trình độ chuyên môn : Cao đẳng Sư phạm
Chuyên nghành : Giáo dục thể chất
Chức vụ : Giáo viên
Tổ : Khoa học xã hội
Đơn vị công tác : Trường THCS TT Gia Bình
Năm học 2011- 2012
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hiện nay, việc tập luyện và tham gia thi đấu điền kinh đã trở thành truyền
thống hàng năm thu hút đông đảo học sinh tham gia tập luyện và thi đấu. Nội
dung giảng dạy điền kinh trong nhà trường cũng rất đa dạng và phong phú.
Trong các môn của điền kinh, nhảy xa là một trong số các môn có lịch sử
phát triển lâu đời. Từ phương pháp để người xưa vượt qua các hào rãnh trong
săn bắn, hái lượm nhảy xa dần trở thành một phương tiện rèn luyện để phát
triển các tố chất thể lực, đặc biệt là tốc độ, sức mạnh tốc độ, sự phát triển linh
hoạt, khéo léo và trở thành một môn thể thao. Đặc biêt môn Điền kinh là môn
thể thao “Nữ hoàng” không chỉ phong phú, đa dạng hấp dẫn, phù hợp mọi lứa
tuổi; giới tính, mà còn là một nội dung thi đấu chủ yếu (bao gồm nhiều nội
* Nhiệm vụ 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để tài “Lựa chọn một số bài tập
nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu
ngồi cho học sinh khối THCS”
* Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập
khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho
học sinh khối THCS
B. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
I. Cơ sở lý luận của Sáng kiến:
1. Thông quan những vấn đề nghiên cứu:
1.1 Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất.
Bác Hồ của chúng ta là một tấm gương sáng trong phong trào tập luyện
TDTT cho mọi người dân Việt Nam, Bác thường xuyên tập luyện võ thuật và
nhiều môn thể thao khác nhằm tăng cường sức khỏe.
Từ ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan
tâm chăm lo sức khỏe của toàn dân, Người thường nói: “ mỗi một người dân
mạnh khỏe góp phần cho cả nước mạnh khỏe”, “ Dân cường thì nước thịnh.
Tôi mong đồng bào bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi ngày nào cũng tập.”
Từ khi giải phóng Miền Nam thống nhất tổ quốc. Năm 1975 đến năm
1985 c«ng tác TDTT đã được Đảng và nhà nước quan tâm một cách thường
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
xuyên để phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh và bảo vệ tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tại chỉ thị 227 CT/TW ngày 18/11/1975 Ban chấp
hành Trung ương Đảng đã đề ra toàn diện về mục tiêu, nhiệm vụ và phương
châm xây dựng và phát triển sự nghiệp TDTT để phục vụ nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội, giữ gìn và ổn định an ninh xã hội, quốc phòng, xây dựng con
người mới, nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Tiếp sau đó đầu năm 1979 Bộ
Chính trị ban hành nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, trong đó đã
yêu cầu ngành giáo dục chăm lo hơn nữa việc dạy thể dục và phát động phong
hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỉ 21” và khẳng định: “Sự cường tráng về thể
chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quí để tạo ra tài sản trí tuệ
và vật chất cho xã hội”.
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí Thư TW Đảng: “Thực hiện GDTC trong tất
cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày
cho hầu hết học sinh sinh viên và các tầng lớp nhân dân trong cả nước”.
Điều 41 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992
cũng nêu rõ: “Việc dạy và học thể dục là bắt buộc trong nhà trường”. Định hướng
về công tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ trong những năm tới. Nghị
quyết Trung ương khóa VII đã khẳng định: “Giáo dục đào tạo cùng với khoa
học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Chuẩn bị tốt
hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI Muốn xây dựng đất nước giàu
mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện, không chỉ phát triển về
trí tuệ trong sáng, về đạo đức lối sống mà phải là con người cường tráng về thể
chất. Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất
cả các ngành, các đoàn thể, trong đó có giáo dục - đào tạo, y tế và TDTT”.
* Tóm lại: Qua những chỉ thị, nghị quyết, thông tư của Đảng, nhà nước
chứng tỏ các cấp chính quyền rất quan tâm đến công tác giáo dục thể chất của
học sinh nói riêng, và nhân dân nói chung, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để
các em phát triển toàn diện về Đức – Trí - Thể – Mĩ, góp phần cải tạo nòi giống,
đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2. Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
5
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
Ở nhiều nước, giờ học thể dục là một bộ phận không thể thiếu được trong
nhà trường và nó được tiến hành không dưới 3 tiết/ tuần.
Chương trình học thể dục ở Việt Nam từ những năm 1991 đã áp dụng cho
tất cả các học sinh 2 tiết/tuần và những hoạt động thể dục thể thao khác đã phần
nào nâng cao được chất lượng giáo dục thể chất.
2. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 14 -15.
Học sinh các trường THCS thường ở lứa tuổi 14 -15. Để có cơ sở khoa
học cho việc lựa chọn các bài tập phát triển Sức nhanh - mạnh tốc độ chúng ta
cần tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản về tâm sinh lý của lứa tuổi 14 -15 có liên
quan tới việc tập luyện TDTT nói chung và với việc phát triển Sức nhanh -
mạnh tốc độ nói riêng.
2.1. Đặc điểm về sinh lý ở lứa tuổi 14 -15.
* Đặc điểm phát triển của hệ thống thần kinh.
Do hệ thống thần kinh là một hệ thống phát triển sớm của cơ thể, vì vậy ở
lứa tuổi 14 -15 trọng lượng não của các em đã đạt mức từ 1460 gam đến 1470
gam tương đương với trọng lượng não của người trưởng thành. Chức năng của
các trung khu như: Thị giác, thính giác, xúc giác, cảm giác, trung khu vận
động tương đối hoàn thiện. Vì vậy các em có thể nhanh chóng học hỏi nâng
cao tri thức và các kỹ năng của cuộc sống, trong đó có kỹ năng vận động thể
thao. Cũng chính do hệ thống thần kinh được hoàn thiện tương đối nên ở lứa
tuổi 14 -15 các em có thể hình thành tư duy trừu tượng và tư duy lô gíc. Quá
trình hưng phấn và ức chế được cân bằng hơn. Tuy vậy cường độ quá trình hưng
phấn vẫn cao hơn. Đó là điều kiện rất tốt để phát triển các tố chất thể lực nhất là
sức mạnh, sức bền . Đồng thời cũng dễ dàng nắm vững được các kỹ thuật khó,
tạo tiền đề cho việc nâng cao thành tích thể thao.
* Đặc điểm phát triển của cơ quan vận động.
Cơ quan vận động của cơ thể chủ yếu gồm cơ bắp, xương khớp và dây chằng.
- Về hệ xương: Do quá trình cốc hóa của cơ thể thường kéo dài tới 20
tuổi. Vì vậy ở tuổi 14 -15 vẫn còn ở trong thời kỳ phát triển của xương. Tuy vậy
thành phần hữu cơ trong xương giảm dần và thành phần vơ cơ tăng dần làm cho
xương cứng và chịu tải tốt hơn.
Ở lứa tuổi 14 -15 chiều cao trung bình hàng năm của nam chỉ khoảng 1,7
cm còn ở nữ thấp hơn.
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
7
8
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
* Về nhân tố bên ngoài bao gồm các yếu tố từ ngoại cảnh tác động đến
tâm lý của các em 14 -15 tuổi.
Thứ nhất là do đặc thù của thể thao là có tính cạnh tranh quyết liệt biểu
hiện rõ rệt trong sự thi đấu để giành phần thắng. Chính tác động của các hoạt
động thi đấu đã tạo cho các em một mơ ước, một khát vọng chiến thắng; Từ đó
tạo thành một thứ tình yêu nghề nghiệp, lòng hăng say tập luyện.
Cũng chính do tính ham hiểu biết, mong muốn khám phá thế giới cũng
như khát vọng giành chiến thắng ở các em rất cao nên một khi giành được 1
thắng lợi, tạo ra được một chiến tích lập nên một thành tựu nào đó thường làm
cho các em phấn chấn tự hào tự tin vào bản thân, tin vào huấn luyện viên. Và
cũng chính từ đó dám dấn thân vào tập luyện thể thao.
Tóm lại, sự phát triển và lớn lên về mặt sinh lý cũng là một quá trình làm
cho tâm lý của các em được hoàn thiện. Quá trình phát triển về sinh lý và tâm lý
của các em có tính giai đoạn. Nắm vững được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của
các em để sử dụng các đối sách giảng dạy huấn luyện hợp lý là tiền đề của sự
nâng cao hiệu quả giảng dạy huấn luyện của các giáo viên và huấn luyện viên
thể thao.
3. Những yếu tố ảnh hưởng và quyết định đến độ bay xa của lần nhảy.
Về mặt lý thuyết, trong điều kiện không có sức cản của môi trường không
khí, điểm bay ra và điểm rơi cùng trên một mặt phẳng thì độ bay xa của một vận
thể được phóng ra tỷ lệ thuận với bình phương tốc độ bay ban đầu, sin2 lần góc
bay và tỷ lệ nghịch với gia tốc rơi tự do.
V
0
2
sin2α
S =
g
- Thứ hai là phải dựa vào đặc điểm kỹ thuật môn học. Cụ thể là kỹ thuật
nhảy xa ưỡn thân, tăng cường tập luyện các khâu khó như chạy đà, giậm nhảy,
bay trên không.
- Thứ ba là phải dựa vào nguyên tắc dạy học vận động là từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp cố gắng rút ngắn thời gian lan toả để nhanh chóng hình
thành kỹ năng vận động.
- Thứ tư là khi lựa chọn bài tập phải phù hợp với khả năng, trình độ, thể
lực của học sinh mặt khác phải phù hợp với điều kiện tập luyện như sân bãi
dụng cụ
- Thứ năm là khi lựa chọn bài tập cần vận dụng đa dạng các phương pháp,
phương tiện giảng dạy cơ bản, tiên tiến …
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
10
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
5. Cơ sở khoa học của giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông
Hệ quả của giáo dục thể chất gắn liền với đặc điểm giải phẫu sinh lí, tâm
lí học và đặc điểm phát triển tố chất thể lực ở mỗi lứa tuổi con người, Tác dụng
của giáo dục thể chất là rất lớn, nó không ngừng đem lại sức khỏe cho học sinh
mà còn góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện.
Tố chất thể lực là sự biểu hiện tổng hợp của hệ thống chức năng các cơ
quan cơ thể, tố chất thể lực tăng trưởng theo sự tăng trưởng của lứa tuổi. Sự tăng
trưởng này có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kì dậy thì. Giai đoạn lứa tuổi
khác thì tố chất thể lực phát triển khác, tức là trong cùng một lứa tuổi tố chất thể
lực khác phát triển thay đổi cũng không giống nhau.
Tố chất thể lực từ giai đoạn tăng trưởng chuyển qua giai đoạn ổn định
theo thứ tự phát triển sau: Tố chất nhanh phát triển đầu tiên, sau đó là tố chất
bền và tố chất mạnh.
* Tố chất sức nhanh:
Tố chất nhanh phát triển sớm hơn sự phát triển tố chất mạnh, thời kì phát triển
tố chất nhanh quan trọng nhất ở tuổi học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở.
theo các bài tập đã xác định.
- Nhóm đối chứng: Tôi đã chọn ngẫu nhiên 10 em học sinh 5 nam , 5 nữ
lớp 8 thời gian tập luyện giống như nhóm thực nghiệm mỗi tuần 1 buổi, mỗi
buổi 1 tiết nội dung tập luyện theo phân phối chương trình hiện hành
- Thời gian tổ chức thực hiện 4 tuần.
* Ph¹m vi có thể thùc hiÖn: Häc sinh TrêngTHSC Thị Trấn Gia Bình vµ häc
sinh c¸c trêng l©n cËn nh Trêng THCS Xu©n Lai
1.2. Địa điểm nghiên cứu:
Trường THSC Thị Trấn Gia Bình
1.3. Về cơ sở vật chất:
TrườngTHSC Thị Trấn Gia Bình với đội ngũ cán bộ CNV là 30 và giáo
viên dạy thể dục 01 người. Là một trường còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng
luôn phấn đấu là trường có phong trào thi đua dạy tốt – học tốt, phong trào cải
tiến nâng cao chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập
ngày cáng được áp dụng đầy đủ hơn.
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
12
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
Đặc biệt trong lĩnh vực thể dục thể thao : Đây là một mặt rất quan trọng
của giáo dục toàn diện của nhà trường. Trong nhiều năm gần đây thành tích thi
đấu các giải thể thao Hội khỏe Phù đổng cấp Huyện, Tiểu khu nhà trường luôn
có H/S đạt giải. Có được điều đó là do nhà trường đã đầu tư cơ sở vật chất
khang trang cho việc giảng dạy và huấn luyện thể dục thể thao. Cụ thể nhà
trường có một sân tập khoảng 500m
2
giành cho giảng dạy thể dục bao gồm: sân
bóng đá, Đệm nhảy (hố cát )dành cho nhảy xa và nhảy cao, 1 nhà đa năng 1 sân
cầu lông.
Trang thiết bị sử dụng trong chuyên môn TD:
Dụng cụ phục vụ cho việc kiểm tra lấy số liệu như:
3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên tôi sử dụng các phương pháp sau:
3.1. Phương pháp tham khảo tài liệu: tham khảo các tài liệu có liên quan đến
đề tài nghiên cứu (Phần Mục lục có nêu).
Phương pháp này nhằm tổng hợp các tài liệu, hệ thống lại các kiến thức có
liên quan đến đề tài nghiên cứu, hình thành cơ sở lí luận, xác định các nhiệm vụ,
lựa chọn các phương pháp và các chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá kết quả nghiên cứu
trong khi thực hiện đề tài cũng như tìm chọn các bài tập phát triển sức mạnh trong
nhảy cao làm cơ sở cho việc phỏng vấn và thực nghiệm.
3.2. Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu điều tra.
Phương pháp này nhằm tìm hiểu và xác định các bài tập được sử dụng
trong thực tiễn huấn luyện - giảng dạy nhảy xa
3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Phương pháp này nhằm mục đích đưa các bài tập mới vào thực tiễn, qua
thực nghiệm góp phần làm sáng tỏ những yếu tố tác động trực tiếp (yếu tố thực
nghiệm) tới kết quả tập luyện của đối tượng nghiên cứu.
3.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm: các test đánh giá:
- Kiểm tra thành tích bật cao tại chỗ.
- Kiểm tra thành tích nhảy xa kiểu bước ngồi.
3.5 Phương pháp thống kê toán học:
Phương pháp này dùng để xử lí các số liệu thu được theo các công thức
toán học thống kê với sự hổ trợ của chương trình Excel.
*. Số trung bình cộng (
X
):
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
14
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
Trung bình cộng là tỉ số giữa tổng lượng trị số các cá thể với tổng số các
cá thể của đối tượng quan sát, được tính theo công thức:
xung quanh giá trị trung bình, được tính theo công thức: (khi
30<n
).
1
)(
1
2
−
−
=
∑
=
n
XX
n
i
i
x
δ
Trong đó:
x
δ
là độ lệch chuẩn.
* Hệ số biến thiên (
%
c
V
):
Hệ số biến thiên là tỉ lệ phần trăm giữa độ lệch chuẩn và trung bình cộng,
được tính theo công thức :
n
x
x
δ
δ
=
-
05
t
: giá trị giới hạn chỉ số t–student ứng với xác suất P = 0.05.
*. Nhịp độ tăng trưởng (
W
):
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
15
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
Nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu là tỉ lệ gia tăng theo phần trăm giữa
lần đo thứ hai và lần đo thứ nhất trên cùng một đối tượng và được tính theo công
thức của S. Brody (1927):
100
)(5,0
)(
%
21
12
VV
VV
W
−
−
[ ]
∑ ∑∑ ∑
∑ ∑ ∑
−−
−
=
2
2
2
2
iiii
iiii
YYnXXn
YXYXn
r
* Tính nhịp tăng trưởng:
2 1
1 2
% 100%
0,5( )
V V
W
V V
−
= ×
+
C. PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC VIẾT SÁNG KIẾN:
I. Phương pháp:
1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu.
Để thực hiện mục đích và nhiiệm vụ của sáng kiến, khi sử dụng phương
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
Bằng phương pháp quan sát sư phạm học nhảy xa kiểu ngồi của học sinh, đồng
thời lấy ý kiến về những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu
ngồi, tôi đã tổng hợp được một số sai lầm thường mắc của học sinh như sau:
Vì đây là 2 giai đoạn rất quan trọng trong TL kỹ thuật nhảy xa nó liên quan
đến cả sức nhanh – sức mạnh – khéo léo, muốn giậm nhảy tốt thì chính giai
đoạn chạy đà lại quyết định KT giậm nhảy và nó quyết định đến thành tích
của lần nhảy.
1. Chạy đà đặt chân giậm không chính xác
( điểm giậm nhảy và chân giậm nhảy).
2. Tốc độ chạy đà không tốt (dẫn đến giậm nhảy hiệu quả thấp).
3. Không tạo được tư thế chuẩn bị cho giậm nhảy.
4. Giậm nhảy không hết.
5. Giậm nhảy bị lao (góc độ giậm nhảy nhỏ quá).
6. Giậm nhảy bước bộ không chuẩn, không thuận lợi cho giai đoạn trên không.
2. Lựa chọn số bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc khi học kỹ thuật
chạy đà, giậm nhảy trong kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi:
Nhằm mục đích nghiên cứu lựa chọn một số bài tập sửa chữa sai lầm
thường mắc học kỹ thuật chạy đà giậm nhảy trong trong kỹ thuật nhảy xa kiểu
ngồi cho học sinh. Tôi đã nghiên cứu các tài liệu chuyên môn về giảng dạy và
huấn luyện nhảy xa đã tổng hợp được một số bài tập như sau:
1. Sử dụng tư thế bắt đầu chạy đà ổn định( tư thế xuất phát).
2. Chạy tốc độ cao 20 - 30m lặp lại ngoài đường chạy.
3. Chạy tăng tốc độ, bắt được tốc độ cao khi đến gần ván giậm rồi chạy
tiếp qua hố cát (cự ly 25 - 35m).
4. Ôn luyện nhịp điệu 4 bước cuối cùng.
5. Tập phối hợp giậm nhảy bước bộ lặp lại .
6. Thực hiện lặp lại chạy đà ngắn giậm nhảy chạm đầu vào vật chuẩn treo
trên cao.
7. Luyện tập lặp lại kỹ thuật giậm nhảy với tốc độ nhanh.
Mục đích: sửa giậm nhảy chậm
3. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập sửa chữa sai lầm thường
mắc trong học kỹ thuật chạy đà, giậm nhảy của kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi:.
Sau khi lựa chọn được các bài tập nhằm sửa chữa sai lầm thường mắc
trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi cho học sinh. Tôi tiến hành thực nghiệm
trên đối tượng nghiên cứu học sinh khối THCS. Để đánh giá kết quả thực
nghiệm tôi sử dụng phương pháp so sánh song song 2 nhóm thực nghiệm và đối
chứng, tiến hành quan sát sư phạm và kiểm tra tỉ lệ sai lầm trước thực nghiệm
của hai nhóm học sinh đã lựa chọn và so sánh kết quả trước và sau thực nghiệm.
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
20
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
Sau khi lựa chọn được một số bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc trong
học kỹ thuật chạy đà, giậm nhảy kỷ thuật nhảy xa kiểu ngồi. Tôi tiến hành ứng
dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn.
* Kết quả.
Để xác định hiệu quả tôi đã tiến hành thực nghiệm trên đối tượng nghiên cứu là
20 học sinh ( lớp 8 )
Nhóm đối chiếu: 10 em ( 05 nữ và 05 nam): Tập theo PPCT quy định
Nhóm thực nhiệm: 10 em ( 5 nữ và 5 nam) : Áp dụng những bai tập đã
lựa chọn được ở trên vào quá trình giảng dạy ( thời gian áp dụng đối với sáng
kiến KN)
Quá trình thực nghiệm được tiến hành trong thời gian như sau (từ Tiết 37
– 47: trong phạm vi 01 tháng) gồm 4 tuần, mỗi tuần tập 2 buổi, mỗi buổi kéo dài
45 phút chia làm 2 tiết( như giờ học bình thường).
Để đánh giá kết quả một cách khách quan tôi tiến hành kiểm tra 2
nhóm trước thực nghiệm với một số bài tập sửa chữa sai lầm thường mắc trong
học kỹ thuật chạy đà, giậm nhảy của kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi:nam, nữ để lấy
kết quả so sánh.
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
4/8 3 30% 4/8 3 30%
2/8 1 10% 2/8 0 0%
0/8 0 0% 0/8 0 0%
Bảng 1: Trước thực nghiệm
Qua bảng 1 cho ta thấy kết quả kiểm tra trước thực nghiệm giữa 2 nhóm
chênh lệch nhau về thành tích là không đáng kể (tính theo mức độ sai lầm từng
động tác của các em mắc phải)
- Số lượng các em nam đạt tỉ lệ sai lầm trong tập luyện KT là: 6/8 (8 ND
mà tôi đã nêu ở trên ) giữa 2 nhóm chênh lệch nhau là 10%
- Số lượng các em nữ đạt tỉ lệ sai lầm trong tập luyện KT (8 ND mà tôi đã
nêu ở trên ) giữa 2 nhóm là chênh lệch 10%.
Như vậy chúng ta so sánh thấy rằng sự chênh lệch nhau ở 2 nhóm về
trình độ, kỹ thuật, thành tích là gần ngang nhau.
Kết quả sau thực nghiệm
Sau khi tôi kiểm tra trước thực nghiệm giữa 2 nhóm xong tôi tiến hành đi
vào thực nghiệm chương trình huấn luyện như đã trình bày ở trên.
- Nhóm A: áp dụng các bài tập thông thường theo phân phối chương trình.
- Nhóm B: áp dụng theo phương pháp và các bài tập trong tập luyện KT
(8 ND: bài tập sửa chữa sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật chạy đà, giậm
nhảy của kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi) mà tôi đã đưa ra ở trên.
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
22
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
Để đánh giá các bài tập và phương pháp tôi đưa ra, tôi tiếp tục tiến hành
kiểm tra sau khi thực nghiệm được 4 tuần với các bài tập trong tập luyện KT (8
ND: bài tập sửa chữa sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật chạy đà, giậm nhảy
của kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi) cho cả Nam và Nữ kết quả đạt được như sau:
Thông số kiểm tra Đối chiếu A Thực nghiệm B
Đối chiếu A 20 em.
Thực nghiệm B 20
- Số lượng các em Nam đạt tỉ lệ sai lầm trong tập luyện KT (8 ND mà tôi
đã nêu ở trên ) là: 6/8 giữa 2 nhóm đối chiếu A và thực nghiệm B chênh lệch
nhau là 20%
- Số lương các em Nữ đạt tỉ lệ sai lầm trong tập luyện KT (8 ND mà tôi đã
nêu ở trên ) là: 6/8giữa 2 nhóm đối chiếu A và thực nghiệm B chênh lệch nhau
là 30%
Như vậy chúng ta thấy sự chênh lệch đã có khác biệt nhau rất lớn. Để xem
xét kết quả của việc áp dụng các bài tập và phương pháp huấn luyện tôi so sánh
kết quả trước thực nghiệm và sau thực nghiệm của 2 nhóm được như sau:
Ở bảng 1: Nhóm đối chiếu A trước thực nghiệm của Nam chiếm tỉ
lệ sai lầm là 50 % còn sau thực nghiệm bảng 2 thành tích trung bình cao nhất
của Nam chiếm tỉ lệ sai lầm là 30%.
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
23
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THÓ DôC THCS Năm học 2011-2012
Như vậy sự chênh lệch nhau về tỉ lệ sai lầm ở nhóm đối chiếu A là 20%
khi chưa áp dụng bài tập và phương pháp tập luyện.
Ở bảng 1: Nhóm đối chiếu A trước thực nghiệm của Nữ chiếm tỉ lệ
sai lầm là 60% còn sau thực nghiệm bảng 2 đối với Nữ chiếm tỉ lệ sai lầm 40%.
Như vậy sự chênh lệch nhau về tỉ lệ sai lầm ở nhóm đối chiếu A là 20%
khi chưa áp dụng bài tập và các phương pháp tập luyện.
Vậy chúng ta thấy nhóm đối chiếu A cả Nam và Nữ đều phát triển về tỉ lệ
sai lầm là chưa được cao. Tỉ lệ chênh lêch chỉ trong tập luyện KT (8 ND mà tôi
đã nêu ở trên ) của cả H/s Nam và Nữ là 20% ( vì chưa áp dụng các bài tập và
phương pháp tập luyện ).
Còn đối với nhóm thực nghiệm B thì ở bảng 1 trước thực nghiệm
đối với Nam có tỉ lệ sai lầm trung bình cao nhất chiếm tỉ lệ 60%. Sau thực
nghiệm ở bảng 2 tỉ lệ sai lầm của nam trung bình chỉ còn chiếm tỉ lệ là 10%.
Như vậy sự chênh lệch nhau về tỉ lệ sai lầm sau khi áp dụng các bài tập và
các phương pháp tập luyện chênh lệch nhau là rât cao tỉ lệ sai lầm trong tập
đã giảm rất đáng kể.
D. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ:
I. Những bài học kinh nghiệm:
Qua tìm hiểu thực trạng học kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi của học sinh bản
thân tôi nhận thấy học sinh thường mắc phải một số sai sót kỹ thuật như sau:
1. Chạy đà đặt chân giậm không chính xác.
2. Tốc độ chạy đà không cao (dẫn đến giậm nhảy hiệu quả thấp)
3. Không tạo được tư thế chuẩn bị cho giậm nhảy.
4. Giậm nhảy không hết.
5. Giậm nhảy bị lao (góc độ giậm nhảy nhỏ quá).
6. Giậm nhảy bước bộ không chuẩn, không thuận lợi cho giai đoạn trên không.
Tổng hợp các tài liệu chuyên môn về giảng dạy và huấn luyện nhảy xa
chúng tôi lựa chọn được 8 bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc trong học
kỹ thuật giai đoạn chạy đà, giậm nhảy của kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi.
1. Sử dụng tư thế bắt đầu chạy đà ổn định.
2. Chạy tốc độ cao 20 - 30m lặp lại ngoài đường chạy.
3. Chạy tăng tốc độ, bắt được tốc độ cao khi đến gần ván giậm rồi chạy
tiếp qua hố cát (cự ly 35 - 45m).
4. Ôn luyện nhịp điệu 4 bước cuối cùng.
5. Tập phối hợp giậm nhảy bước bộ lặp lại.
TRƯỜNG THCS TT GIA BÌNH NGUYỄN VIẾT KHÁNH
25