Tổng quan về thị trường Liên minh châu Âu - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần 1: Tổng quan về thị trường Liên minh châu Âu
1. Giới thiệu Liên minh châu Âu
Liên Minh Châu Âu là một tổ chức liên kết khu vực nhằm thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, chính trị và xã hội, bắt đầu với việc tự do hoá mậu dịch giữa các nước
thành viên và các chính sách kinh tế có liên quan.
Ngày 9/5/1950 Bộ trưởng ngoại giao Pháp Robert Schuman đã đề nghị đặt toàn
bộ nền sản xuất than, thép của Cộng Hoà Liên Bang Đức và Pháp dưới một cơ
quan quyền lực chung trong một tổ chức mở cửa để các nước Châu Âu khác
cùng tham gia. Do vậy, Hiệp ước thành lập Cộng đồng Than-Thép Châu Âu đã
được ký kết ngày 18/4/1951 tại Pari với 6 nước thành viên là Pháp, Đức, Bỉ,
Luxămbua, Italia, Hà Lan, đánh dấu sự ra đời của Liên Minh Châu Âu ngày nay.
Sáu năm sau (25/3/1957), 6 nước thành viên đã ký Hiệp ước Roma thành lập
Cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu và Cộng đồng kinh tế Châu Âu trong
đó hàng hoá, dịch vụ, lao động có thể di chuyển tự do. Để thực hiện Hiệp ước
này, các quốc gia thành viên cam kết xoá bỏ hàng rào thuế quan từ 1/7/1968 và
tuân theo những nguyên tắc kinh tế chung của khối. Từ năm 1967 các cơ quan
điều hành của các Cộng đồng trên được hợp nhất và được gọi là Cộng đồng
Châu Âu.
Ngày 7/2/1992 Hiệp ước Maastricht được ký kết quyết định việc hình thành liên
minh kinh tế và tiền tệ và liên minh chính trị. Ngày 1/1/1993 Hiệp ước
Maastricht chính thức có hiệu lực, EC gồm 12 nước trở thành EU.
Tháng 5/1998, tại hội nghị thượng đỉnh của EU tại Bruxells, 11 nước trong số 15
nước thành viên của EU đã trở thành thành viên của khu vực tiền tệ Châu Âu
gồm có: Đức, Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, Hà Lan, Luxămbua,
Ailen, Áo, Phần Lan. Còn Anh, Đan Mạch, Thuỵ Điển từ chối không gia nhập
vùng đồng tiền chung EURO, Hy Lạp không hội đủ các điều kiện quy định.
Lịch sử hình thành và phát triển của Liên Minh Châu Âu có thể chia thành 3 giai
đoạn chủ yếu sau:
- Giai đoạn 1: 1951-1957, Hợp tác trong phạm vi Cộng đồng Than- Thép
Châu Âu (ECSC) gồm 6 nước là Pháp, Cộng Hoà Liên Bang Đức, Italia, Bỉ, Hà

đang đứng trước nguy cơ sụp đổ do các bất đồng về quyền lực giữa nước lớn
và nhỏ, giữa chính phủ quốc gia thành viên và bộ máy hành pháp của khối, giữa
thành viên cũ và mới về khoảng cách phát triển, về nhập cư, lao động, an sinh xã
hội, thâm hụt ngân sách, chính sách đối ngoại, an ninh phòng thủ chung...
Đồng tiền chung châu Âu (Euro) sau 21 năm chuẩn bị đã được lưu hành tại 12
nước thành viên từ 1/1/2002, kết thúc quá trình nhất thể hoá về tiền tệ, một sự
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kiện quan trọng thứ 2 sau việc Mỹ quyết định chấm dứt đổi USD ra vàng, làm
cho vị thế của USD bị hạ thấp.
2. Tình hình phát triển kinh tế của EU trong những năm gần đây
EU là một trung tâm kinh tế hùng mạnh của thế giới có tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá ổn định, GDP năm 1996 là 1,6%, năm 1997 là 2,5%, năm
1998 là 2,7% và năm 1999 là 2,0%. Năm 1998, trong khi cơn bão tài chính
tiền tệ làm nghiêng ngả nền kinh tế thế giới thì Liên Minh Châu Âu- khu vực
ít bị ảnh hưởng của khủng hoảng vẫn tiếp tục quá trình phát triển kinh tế của
mình. Sự ổn định của kinh tế EU đựợc xem là một trong những nhân tố chính
giúp cho nền kinh tế thế giới tránh được nguy cơ suy thoái toàn cầu. Năm
1999, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế của EU có chiều hướng giảm, nguyên
nhân chính là do sự giảm giá của đồng Euro và sản xuất công nghiệp giảm
sút, nhưng đến nay tình hình này đã được cải thiện. Theo Uỷ Ban Châu Âu
(EC), kinh tế EU đang phát triển khả quan. Các nhà phân tích kinh tế lạc quan nói
rằng xu hướng đi lên của nền kinh tế Châu Âu vẫn tiếp tục (xem bảng 1).
B ng 1ả CÁC CH TIÊU KINH T C B N C A EU Ỉ Ế Ơ Ả Ủ
1995 1996 1997 1998 1999* 2000*
*
GDP (%) 2,4 1,6 2,5 2,7 2,0 2,6
GDP (Tỷ USD) 8576 8744 8221 8482 8510 9044
GDP/đầu người (USD) 23089 23477 22008 22644 22664 24017
Tiêu dùng tư nhân(%) 1,7 1,7 1,9 2,9 2,8 2,6

bị chững lại. Ở những quốc gia có nền kinh tế nhỏ hơn như Tây Ban Nha và Bồ
Đào Nha, tốc độ tăng trưởng kinh tế lại nhanh hơn so với các nền kinh tế lớn.
Quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất trong EU là Ai Len 8,5% (mặc dù
đã giảm 2,9% so với năm 1998).
Trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế bị chậm lại, lạm phát ở EU vẫn ở
mức 1,1% - mức thấp chưa từng có trong lịch sử. Tỷ lệ thất nghiệp giảm lần đầu
tiên trong thập kỷ 90 từ hơn 10% xuống còn 9,4% năm 1999. Thâm hụt ngân
sách của các nước thành viên ở mức thấp 0,5%-1,7% GDP.
3. Vai trò kinh tế của EU trên trường quốc tế
3.1. Đối với lĩnh vực thương mại quốc tế
Kim ngạch xuất nhập khẩu của EU tăng lên hàng năm (1994: 1.303,41 tỷ
USD; 1995: 1.463,13 tỷ USD; 1996: 1.532,37 tỷ USD; 1997: 1.572,51 tỷ USD),
chiếm 20,42% kim ngạch thương mại toàn cầu giai đoạn 1994-1997, trong khi đó
của Mỹ và Nhật Bản là 19,37% và 9,8%.
Kim ngạch xuất khẩu của EU ngày càng tăng lên, chiếm khoảng 21,13%
kim ngạch xuất khẩu toàn cầu (1994-1997), con số này của Mỹ và Nhật Bản là
16,67% và 10,7%. Bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu của EU cũng không
ngừng gia tăng, chiếm 19,72% kim ngạch nhập khẩu toàn cầu, còn của Mỹ và
Nhật Bản là 20,09% và 8,88% (1994-1997).
Chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại toàn cầu và với vai trò nổi bật
trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), EU là một nhân tố quan trọng
trong việc phát triển thương mại thế giới.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.2. Đối với lĩnh vực đầu tư quốc tế
EU không những là một trong những trung tâm thương mại hàng đầu thế
giới mà còn là nơi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất thế giới. Nguồn vốn
FDI của EU chiếm 45,7% tổng vốn FDI toàn cầu, trong khi đó của Mỹ và Nhật
Bản là 27,1% và 6,7%.
Năm 1995, FDI toàn cầu là 352.514 triệu USD; FDI của EU là 159.124

an toàn thực phẩm v.v... luôn được thực hiện nghiêm ngặt
Chính sách ngoại thương của EU gồm: chính sách thương mại tự trị và
chính sách thương mại dựa trên cơ sở Hiệp định, được xây dựng dựa trên
các nguyên tắc sau: không phân biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh
tranh công bằng. Các biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này
là thuế quan, hạn chế về số lượng, hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và
trợ cấp xuất khẩu.
EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hóa dưới hình thức đẩy
mạnh tự do hóa thương mại (giảm dần thuế quan đánh vào hàng hoá XNK và
tiến tới xoá bỏ hạn ngạch, GSP). Hiện nay, 27 nước thành viên EU áp dụng một
biểu thuế quan chung đối với hàng hoá XNK. Đối với hàng nhập khẩu, mức thuế
trung bình đánh vào hàng nông sản là 18%, hàng công nghiệp là 2%.
Các chính sách phát triển ngoại thương của EU từ 1951 đến nay là những
nhóm chính sách chủ yếu sau: Chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách
thay thế nhập khẩu, chính sách tự do hoá thương mại và chính sách hạn chế xuất
khẩu tự nguyện. Việc ban hành và thực hiện các chính sách này có liên quan
chặt chẽ đến tình hình phát triển kinh tế, tiến trình nhất thể hóa Châu Âu và khả
năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của các sản phẩm của Liên Minh trên thị
trường thế giới. Ngoài các chính sách, EU có Quy chế nhập khẩu chung .
Bên cạnh cam kết với các nước thành viên WTO, EU ký nhiều hiệp định
thương mại và các hiệp định ưu đãi khu vực và song phương và dành chế độ
MFN toàn phần dành cho sản phẩm nhập khẩu từ Úc, Canada, Đài Loan, Hồng-
kong, Trung-quốc, Nhật-bản, Hàn-quốc, Tân-tây-lan, Singapo và Hoa-kỳ và các
hiệp định ngành hàng song phương khác.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bên cạnh các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ WTO về nông
nghiệp, EU duy trì hạn ngạch áp dụng thuế quan đối với một số sản phẩm, giảm
dần trị giá và số lượng các sản phẩm được trợ cấp xuất khẩu. Trong một số lĩnh
vực dịch vụ, EU đã có cam kết cụ thể thực hiện theo lịch trình chung của

7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
GSP của EU. GSP là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp
phát triển dành cho các nước đang và chậm phát triển. Bản chất của chế độ GSP
là các nước công nghiệp phát triển sẽ áp dụng chế độ miễn thuế hoặc thuế rất
thấp cho hàng hóa của các nước đang và kém phát triển, nhằm giúp hàng hóa
của các nước này có điều kiện thâm nhập được vào thị trường các nước phát
triển. Để được hưởng GSP thì phải đạt các điều kiện: phải là nước chậm và đang
phát triển; hàng hóa phải đạt 3 điều kiện cơ bản: Xuất xứ từ nước được hưởng,
điều kiện vận tải, giấy chứng nhận xuất xứ. Về điều kiện xuất xứ từ nước được
hưởng, EU quy định có 2 loại: Đối với sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại
lãnh thổ nước được hưởng ưu đãi như: Khoáng sản, động thực vật, thủy sản
đánh bắt trong lãnh hải và hàng hóa sản xuất từ sản phẩm đó được xem là có
xuất xứ và được hưởng ưu dãi GSP; Đối với các sản phẩm có thành phần nhập
khẩu, EU quy định hàm lượng trị giá sản phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP
(tính theo giá xuất xưởng) phải đạt 60% tổng trị giá hàng liên quan. Tuy nhiên,
đối với một số nhóm hàng thì hàm lượng này thấp hơn, EU quy định cụ thể tỷ lệ
trị giá và công đoạn gia công đối với một số nhóm hàng mà yêu cầu phần trị giá
sáng tạo thấp hơn 60% (máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh không dưới 40%, đồ
trang trí làm từ kim loại không dưới 30%, giầy dép chỉ được hưởng GSP nếu các
bộ phận như: mũi giầy, đế dầy... ở dạng rời và có xuất xứ từ nước thứ 3 cũng
được hưởng GSP hoặc nhập khẩu...); Về điều kiện vận tải (hay điều kiện gửi
hàng), EU yêu cầu hàng hóa phải được gửi thẳng từ nước được hưởng đến nước
cho hưởng. Quy định này nhằm đảm bảo hàng hóa không bị gia công tái chế
thêm trong quá trình vận chuyển.
- Đối với các sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước
hưởng GSP, như: khoáng sản, động thực vật, thủy sản đánh bắt trong lãnh hải và
các hàng hóa sản xuất từ các sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được
hưởng GSP.
- Đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu: EU quy định hàm

nước có nền thương nghiệp quốc doanh và phân biệt đối xử hàng của Việt Nam
với hàng của các nước kinh tế thị trường khi tiến hành điều tra và thi hành các
biện pháp chống bán phá giá.
Các biện pháp khuyến khích trong GSP của EU: So với ưu đãi mà các nước
và khu vực khác dành cho các nước đang phát triển, mức ưu đãi của EU vào
loại thấp nhất. Trong hệ thống GSP của EU qui định khuyến khích tăng thêm
mức ưu đãi 10%, 20%, 35% đối với hàng nông sản và 15%, 25% và 35% đối
với hàng công nghệ phẩm. Theo GSP của EU bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/1999
thì những trường hợp sau được hưởng ưu đãi thêm:
- Bảo vệ quyền của người lao động.
- Bảo vệ môi trường.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hàng của các nước đang và chậm phát triển khi nhập khẩu vào thị trường
EU muốn được hưởng GSP thì phải tuân thủ các quy định của EU về xuất xứ
hàng hóa và phải xuất trình giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A (C/O form A) do cơ
quan có thẩm quyền của các nước được hưởng GSP cấp.
Các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu
EU áp dụng nhiều biện pháp, quy định khác để quản lý hoạt động xuất nhập
khẩu:
Cấm nhập khẩu: EU áp dụng biện pháp cấm hoàn toàn hoặc chỉ cho phép nhập
khẩu khi đáp ứng những điều kiện nhất định đối với những mặt hàng nguy hiểm
như: Các sản phẩm hóa chất độc hại, các chất phế thải. Một số mặt hàng bị cấm
nhập khẩu vào EU do ảnh hưởng đến an toàn an ninh và sức khỏe của cộng đồng
như một số tân dược, thuốc trừ sâu, thực phẩm, sản phẩm điện, giống cây trồng,
vật nuôi ngoại lai, các nông sản, thủy sản có dư lượng kháng sinh, lượng chất
độc cho phép... Một só nước thành viên EU như áo, Đan Mạch, Hy Lạp, Thụy
Điển còn cấm nhập khẩu các mặt hàng: Đồ chơi và các vật dụng dành cho trẻ em
dưới 3 tuổi được làm từ nhựa Polyvinylchloride.
Cấp giấy phép nhập khẩu: Đối với một số loại hàng hóa, EU áp dụng biện pháp

về an toàn, sức khỏe, chất lượng, các vấn đề môi trường và xã hội. Trước đây,
các hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhìn chung nhằm bảo vệ các nhà sản
xuất của Châu Âu. Nhưng ngày nay, việc bảo vệ môi trường và bảo vệ cho
người tiêu dùng ngày càng tăng đã dần thay thế cho việc bảo vệ nhà sản xuất và
lao động.
Việc sử dụng các hàng rào kỹ thuật được điều chỉnh thông qua các hàng
rào kỹ thuật trong hiệp định thương mại của WTO. Những quy định, luật lệ này
không chỉ do các chính phủ áp dụng nhằm xác định các tiêu chuẩn trong an toàn,
sức khỏe và môi trường, mà còn bởi chính người tiêu dùng đang ngày càng có
những yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng sản phẩm. Điều này dẫn tới các quy
định khó khăn hơn xuất phát từ phía thị trường.
Hiện tại EU đang tạo ra các tiêu chuẩn thống nhất cho toàn EU đối với
các lĩnh vực sản phẩm chính nhằm thay thế hàng ngàn các tiêu chuẩn quốc gia
khác nhau. Nhìn chung, các mức độ yêu cầu đang được đặt ra hoặc sẽ được đặt
ra trong những năm tới đây. Các quốc gia thành viên được phép đưa ra thêm các
yêu cầu cho ngành công nghiệp của mình. Tuy nhiên, nếu sản phẩm nào đáp ứng
được những yêu cầu tối thiểu sẽ được cho phép lưu hành tự do tại EU.
2.1.Tiêu chuẩn sức khỏe và an toàn:
2.1.1. Nhãn CE
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tháng 5/1985, Hội đồng châu Âu đã thông qua quy định “cách tiếp cận
mới về việc hoà hợp và bình thường hóa về kỹ thuật. Cách tiếp cận mới được áp
dụng cho việc chuẩn hóa và quản lý chất lượng nhằm đảm bảo chỉ những sản
phẩm an toàn và đáp ứng được yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng, môi trường sức
khỏe mới được lưu thông trong Khu vực Kinh tế chấu Âu. Theo cách tiếp cận
mới này, thì hàng loạt các sản phẩm công nghiệp chế tạo buộc phải mang nhãn
hiệu CE. Mục đích của nhãn CE là đặt ra yêu cầu chung đối với các nhà sản xuất
nhằm đảm bảo đưa ra những sản phẩm an toàn tại thị trường EU. Nhãn CE được
coi là 1 giấy thông hành của nhà sản xuất lưu thông nhiều sản phẩm công nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status