BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
NGUYỄN THỊ HẠ
ĐẶC ĐIỂM NHIỄM NẤM NGOÀI DA VÀ NẤM NGOẠI BIÊN
TẠI KHOA VI SINH BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN KỸ THUẬT Y HỌC
KHÓA: 2011-2015
HẢI PHÒNG 2015
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
NGUYỄN THỊ HẠ
ĐẶC ĐIỂM NHIỄM NẤM NGOÀI DA VÀ NẤM NGOẠI BIÊN
TẠI KHOA VI SINH BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN KỸ THUẬT Y HỌC
KHÓA: 2011-2015
Người hướng dẫn: ThS. Chu Thị Nga
HẢI PHÒNG 2015
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin trân trọng cảm ơn ThS. Chu Thị
Nga trưởng Khoa Vi sinh bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng đã hướng
dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình làm khóa luận.
BSCKII Trần Hoài Nam chủ nhiệm khoa Kỹ thuật Y học, TS. Nguyễn
Hùng Cường – trưởng bộ môn vi sinh, phó khoa Kỹ thuật Y Học đã giúp đỡ
tôi trong quá trình làm khóa luận.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong ban giám hiệu,
phòng Đào tạo đại học, các bộ môn của trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã
dìu dắt, dạy dỗ tôi trong 4 năm học qua.
T. interdigittale
T. rubrum
T. verrucosum
XN
Acquired immunodeficiency syndrome
Epidermophyton floccosum
Vi-rút gây suy giảm miễn dịch ở người
(Human immunodeficiency virus)
Kháng nguyên
Kỹ thuật viên
Microsporum canis
Trichophyton concentricum
Trichophyton mentagrophytes
Trichophyton interdigittale
Trichophyton rubrum
Trichophyton verrucosum
xét nghiệm
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. T. rubrum gây bệnh hắc lào 5
Hình 1.2. Nấm niêm mạc do Candida albicans 7
Hình 1.3. Nấm tóc 8
Hình 1.4. Nấm móng 9
Hình 2.1. Malassezia furfur 16
Hình 2.2. Trichosporon beigelii 16
Hình 2.3. Piedraia hortae 16
Hình 2.4. Microsporumspp 17
Hình 2.5.Trichophyton spp 17
Hình 2.6. Epidermorphyton floccosum 17
“Mô tả đặc điểm nhiễm nấm ngoài da và nấm ngoại biên tại khoa
Vi sinh Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng năm 2014”
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vài nét về vi nấm
Nấm là một loại thực vật hạ đẳng, không có chất diệp lục để tổng hợp
nguyên sinh chất, chúng sống nhờ trên các chất hủy hoại của sinh vật khác
hoặc sống ký sinh trên những sinh vật khác, chiếm chất dinh dưỡng của sinh
vật đó.
Nấm gây bệnh ngoài da thuộc lớp nấm bất toàn (fungi imperfecti). Nấm
ký sinh ở lớp keratin hóa của người, gây bệnh ở da và các cơ quan phụ cận
da( lông, tóc, móng). Các vi nấm này dùng men keratinase phân giải keratin
để lấy nguồn thức ăn.
Căn nguyên: Nấm sợi là loại nấm phổ biến nhất. Có khoảng 37 loài
nấm da gây bệnh cho người thuộc 3 giống:
Epidermophyton (1 loài)
Trichophyton (21 loài)
Microsporum (15 loài) [2]
Ngoài ra nấm men cũng gây bệnh ngoài da: Nấm Candida albicans…
Nấm lang ben (Malasseria furfur) có ái tính với vùng da dầu nên rất
hay gây bệnh ở vùng mặt, lưng, ngực và phần trên của cơ thể.
Nấm phát triển không cần ánh sáng mặt trời nên nấm có thể sống ở
mọi nơi mọ chỗ. Ngay cả môi trường nghèo nàn về chất dinh dưỡng thậm trí
là không có chất dinh dưỡng nấm vẫn phát triển rất tốt vì vậy vấn đề phòng
chống nấm là rất khó khăn.
Hai điều kiện quan trọng không thể thiếu cho sự phát triển của nấm
chính là nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. Thiếu một trong hai điều kiện nấm
không thể phát triển được. Vì vậy muốn phòng bệnh nấm có hiệu quả phải
tách rời hoặc triệt tiêu hai điều kiện trên [12].
Nấm là sinh vật dị dưỡng. Có hệ thống men phong phú (proteaza,
celluloza, oxydaza…) tham gia vào chuyển hóa chất. Chúng tiết các men này
ra môi trường phân giải các hợp chất phức tạp thành các hợp chất đơn giản để
hấp thu. Nấm dễ nuôi cấy, thường sử dụng môi trường Sabouraud để nuôi cấy
nấm.
* Nhiệt độ, độ ẩm
Nấm phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm cao nên các bệnh
về nấm thường phát triển mạnh ở những nơi có nhiệt độ và độ ẩm cao.
4
1.2 Các bệnh nấm ngoài da và nấm ngoại biên thường gặp
1.2.1 Các bệnh nấm ngoài da
1.2.1.1 Hắc lào
Hình 1.1. T. rubrum gây bệnh hắc lào.
Tổn thương đầu tiên là sẩn đỏ, có bóng nước, nấm lan rộng ra xung
quanh vùng trung tâm lành dần, tạo nên hình vòng ranh giới rõ. Những vết
thương gần nhau khi lan rộng sẽ hòa vào nhau thành hình đa vòng. Do
ngứa gãi nhiều… dễ nhiễm trùng thứ phát. Tổn thương thường ở nếp
gấp lớn bí mồ hôi như bẹn, thắt lưng, mông… Vi nấm gây bệnh là T.
rubrum, Microsporum và đôi khi do E. floccosum.
1.2.1.2 Vẩy rồng
Tổn thương thường bị cả một vùng da rộng lớn, có khi cả thân mình.
Da không viêm nhưng ngứa và tróc vẩy, các vẩy xếp thành hình đồng tâm.
Ở Việt Nam hay gặp ở vùng dân tộc ít người. Vi nấm gây bệnh thường
là T. concentricum.
Bệnh nấm này thường kéo dài nhiều năm và rất khó chữa.
1.2.1.3 Nấm má
Thường vết thương ở một bên má (phải hay trái) đôi khi ở cằm. Bệnh
nhân nhiễm bệnh do hôn hít thú nuôi trong nhà có vi nấm trên lông hoặc áp
má lên lưng trâu bò.
5
của gan bàn chân. Các loài nấm hay gây dị ứng: T.mentagrophytes, T.
verrucosum.
1.2.1.8 Viêm da do nấm Candida
Gặp ở những người luôn ẩm ướt (da luôn đổ mồ hôi, nhúng tay, chân
vào nước thường xuyên…). Tổn thương chủ yếu xuất hiện và phát triển ở
vùng da xếp nếp như mông, bẹn, nách, dưới vú, rốn…
Da bị viêm thành mảng to màu đỏ, rỉ nước vàng, ngứa, gần đó có
những tổn thương con, kích thước nhỏ không đồng đều.
1.2.2 Các bệnh nấm ở vùng ngoại biên
1.2.2.1 Bệnh ở miệng và niêm mạc do nấm Candida
Bệnh biểu hiện: Niêm mạc miệng viêm đỏ, khô, lưỡi bóng, tổn thương
được phủ một lớp như kem trắng, đôi khi có giả mạc thường mềm, dễ bóc khu
trú ở lưỡi, mặt và trong má, vòm miệng, hầu, amydal. Bệnh nhân có cảm giác
đau buốt khó nuốt.
Lưỡi đen có lông nhung.
Thương tổn điển hình là sự phì đại nhú lưỡi và rối loạn nhiễm sắc.
Hình 1.2. Nấm niêm mạc do Candida albicans
7
1.2.2.3 Nấm tóc
Hình 1.3. Nấm tóc
* Nguyên nhân:
Do rất nhiều loại nấm gây nên, hậu quả có thể dẫn tới hói đầu. Các
nhóm căn nguyên chính gây bệnh nấm tóc là: Nhóm gây bệnh nấm trứng tóc
(Piedra hortai và Trichosporon beigelii). Nấm sợi (Microsporum và
Trichophyton) và nấm men (Candida).
* Biểu hiện lâm sàng:
+ Bệnh nấm trứng tóc (Piedra) do 2 loại nấm gây ra là Piedra hortai và
Trichosporon beigelii.
+ Nấm Trichosporon beigelii gây bệnh trứng tóc trắng, gây bệnh ở tóc,
râu, lông, nấm phát triển thành những hạt mềm màu trắng, xám nhạt dọc theo
* Có 3 hình thức tổn thương móng
+ Móng dày sừng: Móng dày sừng, dưới móng có khối sừng mủn
+ Móng teo: Móng bị mủn dần từ bờ tự do đến chân móng
+ Móng bình thường: Móng có màu trắng hoặc vàng
10
1.3 Tình hình nhiễm nấm da và nấm ngoại biên ở thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình nhiễm nấm trên thế giới
Theo quỹ nghiên cứu nấm của thế giới năm 2011 thì việc nhiễm nấm
da, tóc, móng ảnh hưởng tới 25% dân số của thế giới. Bệnh nấm móng phổ
biến ở người lớn chiếm 5-25%, tỷ lệ này ngày càng tăng ở những người cao
tuổi (28-29%). Nấm da phổ biến hơn nấm móng và chủ yếu gặp ở những
người trẻ tuổi hay vận động. Nhiễm nấm tóc thường gặp ở trẻ nhỏ hậu quả
của bệnh có thể dẫn đến bị hói hoặc rụng tóc. Bệnh nấm da chủ yếu ở những
nước nghèo đói và trẻ em da đen. Nhiễm nấm tóc thường gặp ở trẻ nhỏ hậu
quả của bệnh có thể dẫn đến bị hói đầu hoặc rụng tóc [21].
Theo Havlickova B (2008) hiện nay bệnh nấm da vẫn rất phổ biến trên
thế giới, tỷ lệ mắc trong cộng đồng có thể tới 20 - 25% [17].
Ở Thái Lan
năm 1996
Ở Nepan
năm 2001
Ở Iran năm
1997
Trong số 719 bệnh nhân nhiễm nấm da được nghiên cứu
tại Thái Lan bệnh gặp chủ yếu ở lứa tuổi 12-21. Tỷ lệ mắc
các bệng nấm nông ở nữ là: nấm da 29%, nấm bẹn 23%,
nấm kẽ chân 16%; và ở nam giới là: nấm bẹn 39%, nấm da
28%, nấm kẽ chân 14% [19].
Agarwalla A và cộng sự nghiên cứu 100 bệnh nhân bị nấm
nông thấy nấm da chiếm 43%, nấm bẹn 33%, nấm kẽ chân
da và những yếu tố liên quan trên các học viên trường Cao Đẳng Quân Sự
Quân Đoàn 4 trong tổng số 400 học viên thỏa mãn đủ các tiêu chí chọn mẫu
được cho vào mẫu nghiên cứu. Tỷ lệ hiện mắc bệnh da của các học viên
trường cao đẳng quân sự quân đoàn 4 là 42,6% [5]. Nhìn chung tỷ lệ nhiễm
nấm ngoài da và nấm ngoại biên ở Việt Nam còn khá cao.
12
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu trên các bệnh nhân làm xét nghiệm nấm da và nấm
ngoại biên tại Khoa Vi sinh Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng
năm 2014.
Tiêu chuẩn loại trừ:
Đối tượng có điều trị thuốc kháng nấm trong vòng 3-5 ngày trở lại
trước khi đến khám.
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014.
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Tại Khoa Vi sinh Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Hồi cứu kết quả xét nghiệm nấm ngoài da và nấm ngoại biên
2.2.2 Cỡ mẫu
n=1018
2.3 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu
Thu thập thông tin của tất các các bệnh nhân được chỉ định làm xét
nghiệm soi tươi tìm nấm tại khoa xét nghiệm tại bệnh viện Việt Hữu nghị
Tiệp Hải Phòng năm 2014.
Xử lý số liệu sau khi loại bỏ sự trùng lặp
+ Thương tổn móng
- Nếu thương tổn móng dầy mủn ở bờ tự do: dùng dao, kéo cạo và
cắt lớp sừng mủn ở dưới móng
- Nếu thương tổn móng tách giữa giường móng và bàn móng dùng
dao nhọn cạo chất sừng mủn ở dưới móng
- Nếu viêm quanh móng: cạo vẩy da ở rãnh quanh móng
+ Thương tổn tóc
- Dùng dao cạo vẩy da đầu sau đó dùng nhíp nhổ các chân tóc gẫy sát
da đầu trên vùng thương tổn.
- Nếu nghi là trứng tóc dùng kéo cắt phần tóc có các nốt sần màu
trắng, đen bám trên sợi tóc.
- Lấy bệnh phẩm ở miệng: ở họng và trong miệng dùng đè lưỡi để
lấy bệnh phẩm.
* Làm tiêu bản
Đối với bệnh phẩm là vẩy da, tóc cho lên một lam kính sạch, nhỏ một
giọt KOH 20%, đậy lá kính. Để yên 15-30 phút sau đọc kết quả. Muốn đọc
kết quả nhanh hơn có thể làm ấm tiêu bản bằng cách hơ nhẹ tiêu bản trên một
ngọn lửa đèn cồn (tránh để sôi) sau đó quan sát ở vật kính 10 và vật kính 40.
Không hơ quá nóng làm lắng đọng các tinh thể KOH trên lam kính, dễ nhận
định sai kết quả.
Đối với những bệnh phẩm cứng như tóc và móng cần ngâm bệnh phẩm
trong KOH 20% khoảng 2 giờ [15].
* Nhận định kết quả
Trước khi soi nên dàn mỏng tiêu bản. Sử dụng vật kính 10 xác định vi
trường xem sơ bộ sau đó dùng vật kính 40 để nhận định.
15
+ Nấm lang ben (do nấm
Malassezia furfur):
thấy sợi nấm thô, ngắn giống
sợi miến vụn và đám tế bào