BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGUYỄN DUY KHÁNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số : 60.31.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. TRƢƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng - Năm 2015 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
1.1. DỊCH VỤ GIÁO DỤC MẦM NON 10
1.1.1. Khái niệm dịch vụ 10
1.1.2. Khái niệm dịch vụ giáo dục mầm non 11
1.2. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC MẦM NON 12
1.2.1. Khái niệm phát triển dịch vụ giáo dục mầm non 12
1.2.2. Đặc điểm phát triển dịch vụ giáo dục mầm non 13
1.2.3. Mục tiêu phát triển dịch vụ giáo dục mầm non 16
1.3. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC MẦM
NON 17
1.3.1. Gia tăng quy mô dịch vụ giáo dục mầm non 18
1.3.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục mầm non 21
1.3.3. Gia tăng nguồn lực của các cơ sở giáo dục mầm non 24
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG DỊCH VỤ GIÁO DỤC MẦM NON 26
1.4.1. Nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên 26
1.4.2. Nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội 26
1.4.3. Nhân tố thuộc về cơ chế, chính sách phát triển 27
1.4.4. Sự phát triển của hệ thống giáo dục mầm non 27
1.5. MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC
MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 28
1.5.1. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh 28
1.5.2. Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội 29
1.5.3. Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 29
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC
MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂKLĂK 31
31
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 31
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội 33
2.1.3. Chính sách phát triển giáo dục mầm non của tỉnh ĐăkLăk 35
2.1.4. Tình hình phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk 37
84
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO). DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KÝ HIỆU
Ý NGHĨA
GDMN
Giáo dục mầm non
MN
Mầm non
GDMNNCL
Giáo dục mầm non ngoài công lập
MNNCL
Mầm non ngoài công lập
NCL
Ngoài công lập
PCGDMNTNT
Phổ cập giáo dục mầm non trẻ năm tuổi
KH
Kế hoạch
TH
Thực hiện
NSNN
Ngân sách nhà nước
UBND
Ủy ban nhân dân
QĐ
Quyết định
– 2013
33
2.2
Kết quả hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ
trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk đến ngày 01 tháng 11 năm
2013
38
2.3
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học của các cơ sở GDMN
tỉnh Đăk Lăk năm 2013
39
2.4
Tình hình đội ngũ cán bộ quản lí, nhân viên và giáo viên
tỉnh ĐăkLăk năm 2013
41
2.5
Tính phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi trên địa bàn tỉnh
ĐăkLăk
43
2.6
Số trường MNNCL phân theo loại hình trên địa bàn tỉnh
ĐăkLăk
46
2.7
Số trường GDMNNCL phân theo huyện, thị xã, thành
phố
47
2.8
Số trẻ được cung cấp dịch vụ học hai buổi và tổ chức ăn
trưa bởi các trường mầm non ngoài công lập tỉnh
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Tỷ trọng các ngành của tỉnh ĐăkLăk năm 2013
35
2.2
Số trường mầm non trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk giai đoạn
2009-2014
45
2.3
Quy mô lớp học mầm non trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk
49
chăm sóc và giáo dục có chất lượng cao cho trẻ em mầm non là niệm vụ cấp
thiết để thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em, đảm bảo công bằng xã hội,
góp phần nâng cao chất lượng dân số và đào tạo nhân tài cho đất nước.
Việt Nam hiện có nhiều văn bản pháp luật, chính sách đề cập đến việc
bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phê duyệt Đề án
“Phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015” với quan điểm chỉ đạo:
Đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ
chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non. Ngành
giáo dục cũng đã yêu cầu các tỉnh, thành phố thực hiện phổ cập cho trẻ 5 tuổi
với những nhiệm vụ cụ thể như trẻ ở mọi vùng, miền đều được đến lớp 2
buổi/ngày; được chuẩn bị tốt nhất về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ,
2
ngôn ngữ và tâm lý để sẵn sàng bước vào lớp 1. Quan điểm chỉ đạo này hoàn
toàn phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay về phát triển nền giáo
dục quốc dân.
Nhiều vụ bạo hành đối với trẻ em mầm non liên tiếp xảy ra, đặc biệt là những
vụ bạo hành không chỉ xảy ra đối với trẻ em ở các trường dân lập hay tư thục
với những giáo viên chưa đáp ứng trình độ, kỹ năng mà còn xuất hiện ở
những cơ sở mầm non công lập có đội ngũ giáo viên đã trải qua quá trình đào
tạo. Bên cạnh đó, các dịch bệnh truyền nhiễm như: Tay chân miệng, sốt xuất
huyết, thủy đậu, bệnh sởi… đang diễn biến hết sức phức tạp và có khả năng
lay lan trên diện rộng. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục mầm non
nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, điều kiện phát triển về thể chất, tinh thần
cho trẻ em.
Trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk, nhu cầu dịch vụ mầm non chất lượng cao
đang không ngừng gia tăng ở địa phương, nắm bắt xu hướng này ngày càng
có nhiều cơ sở mầm non tư thục với chất lượng ngày càng cao ra đời, tiêu
biểu trong số đó là trường mầm non tư thục Quốc Tế, trường mầm non tư thục
giáo viên, chất lượng đào tạo… còn nhiều bất cập; các nhóm trẻ gia đình tự
phát tràn lan với quy mô nhỏ, lẻ tẻ, thiếu ổn định và không đủ các điều kiện
tối thiểu. Điều này cho thấy, việc chăm sóc cho trẻ em lứa tuổi mầm non chưa
thật sự chu đáo khiến chúng ta cần xem xét lại chiến lược phát triển giáo dục
và công tác chăm sóc đối với trẻ em.
Trên đây là một trong những lý do tôi chọn đ
địa bàn tỉnh ĐăkLăk hiện nay, từ đó đề xuấ
4
công lập trong thời gian đến, góp phần trong việc phát triển kinh tế - xã hội
theo quy hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh ĐăkLăk trở thành trung tâm kinh tế
của khu vực 5 tỉnh Tây nguyên.
2. Mục tiêu của đề tài
- Khái quát lý luận về phát triển dịch vụ giáo dục mầm non
- dịch vụ giáo dục mầm non ngoài
công lập trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk hiện nay;
-
giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk đến
năm 2020.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
- Các tổ chức cung cấp dịch vụ GDMNNCL.
- Các loại hình, chủng loại dịch vụ GDMN nói chung và dịch vụ
GDMNNCL nói riêng.
- Nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em độ tuổi từ 3 tuổi đến
dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk.
- Công tác quản lí GDMNNCL trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk.
3.2. Phạm vi
phát triển có tính chất quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát
triển trí tuệ trong tương lai. Trẻ được tiếp cận với giáo dục mầm non càng
sớm càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển của các giai đoạn tiếp theo.
Hiện nay, các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và
thành phố Đà Nẵng đã xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục ngoài công
lập nói chung và hệ thống giáo dục mầm non ngoài công lập nói riêng. Có thể
khẳng định rằng, việc phát triển dịch vụ giáo dục mầm non ngoài công lập sẽ
6
góp phần giảm được áp lực quá tải cho hệ thống trường mầm non công lập,
đồng thời tranh thủ được nguồn vốn từ các tổ chức, cá nhân để đầu tư đồng bộ
về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại, thu hút đội ngũ giáo viên và
cán bộ quản lí chất lượng cao… thúc đẩy nhanh quá trình hợp tác quốc tế, đa
dạng hóa các sản phẩm hỗ trợ giáo dục, chăm sóc và nuôi dưỡng; tạo môi
trường cạnh tranh nâng cao chất lượng giáo dục; ưu tiên ngân sách cho các
địa phương, vùng khó khăn, rút ngắn khoảng cách về điều kiện tiếp cận giáo
dục Từ đó, mở ra những cơ hội học tập cho trẻ em trong một môi trường
hiện đại, thân thiện, năng động và hội nhập quốc tế.
Lê Hoàng Thu Thủy (2012), Luận văn thạc sĩ kinh tế (Đại học Đà
Nẵng), “Phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh
Bình Định”. Đề tài đề cập đến phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành
phố Quy nhơn, đưa ra những lý luận cơ bản về giáo dục mầm non, phân tích
thực trạng và đưa ra một số giải pháp phát triển giáo dục mầm non trong
phạm vi nghiên cứu. Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu phát triển chung và
hoàn thiện hệ thống giáo dục mầm non công lập trên địa bàn thành phố Quy
Nhơn. Đề tài chưa chú trọng đi sâu nghiên cứu vấn đề giáo dục mầm non
ngoài công lập.
Lê Thị Nam Phương (2012), Luận văn thạc sĩ kinh tế (Đại học Đà
Nẵng), “Phát triển dịch vụ giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn
trí thức khoa học và công nghệ) của mỗi nước, từ đó nêu ra những bài học
kinh nghiệm về chính sách nhằm xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam.
Những nghiên cứu của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và một số
trường đại học đã đóng góp phần cơ bản trong việc xây dựng chương trình
8
giáo dục mầm non và biên soạn các tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình
giáo dục mầm non; xây dựng các bộ tài liệu, học liệu phục vụ cho cô giáo và
trẻ thực hiện các hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp chủ đề; xây dựng hệ
thống tiêu chí để kiểm định chất lượng các trường mầm non. Nghiên cứu giáo
dục mầm non vùng khó khăn, chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ mầm non ở vùng
dân tộc thiểu số Có thể nói, việc hoàn thành bộ chương trình và sách hướng
dẫn giáo viên thực hiện chương trình giáo dục mầm non là thành công lớn,
thực sự góp phần thực hiện Quyết định 161/2002/TTg của Thủ tướng Chính
phủ về phát triển giáo dục mầm non và Nghị quyết 40/2000/QH của Quốc hội
về đổi mới chương trình giáo dục, thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục mầm
non trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010. Tuy nhiên để áp dụng
thành công đại trà trên toàn quốc trong bối cảnh kinh tế - xã hội của nước ta
hiện nay thì chương trình giáo dục mầm non cần phải có một lộ trình, chính
sách cụ thể và lâu dài.
PGS.TS Bùi Quang Bình trong cuốn “Giáo trình Kinh tế phát triển”
năm 2012 đã chỉ ra những vấn đề trong phát triển giáo dục ở các nước đang
phát triển, trong đó có Việt Nam. Đó là sự phân bố mạng lưới dịch vụ giáo
dục không hợp lí giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn. Trong khi
đó, giáo viên giỏi có trình độ lại thường tập trung ở đồng bằng và thành thị. Ở
các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa vừa thiếu giáo viên, nhất là giáo
viên giỏi vừa thiếu thốn trong cuộc sống. Trong nghiên cứu cũng khẳng định
những lợi ích to lớn mà xã hội nhận được khi phát triển các bậc giáo dục dưới
trung học, đồng thời cần thiết phải có sự can thiệp từ phía chính phủ để giải
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC
MẦM NON
1.1. DỊCH VỤ GIÁO DỤC MẦM NON
1.1.1. Khái niệm dịch vụ
Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao
đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại
hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác
nhau. Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ được phát biểu dưới
những góc độ khác nhau:
Adam Smith từng định nghĩa rằng, “Dịch vụ là những nghề hoang phí
nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ
công Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra”. Từ
định nghĩa này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh
đến khía cạnh “không tồn trữ được” của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản
xuất và tiêu thụ đồng thời.
C. Mác cho rằng : “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng
hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông
suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người
thì dịch vụ ngày càng phát triển”. Với định nghĩa này, C. Mác đã chỉ ra nguồn
gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì
dịch vụ càng phát triển mạnh.
Giáo sư Philip Kotler định nghĩa: “Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi
Như vậy, dịch vụ giáo dục mầm non ngoài công lập được hiểu là: Kết
quả từ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ giáo dục mầm
non ngoài công lập (nhà trẻ và mẫu giáo) và khách hàng (trẻ em từ 3 tháng
12
tuổi tới 72 tháng tuổi) để đáp ứng nhu cầu về chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo
dục.
1.2. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC MẦM NON
1.2.1. Khái niệm phát triển dịch vụ giáo dục mầm non
Khái niệm “Phát triển” đã xuất hiện từ những ngày đầu của lịch sử triết
học, tồn tại và không ngừng hoàn thiện cùng với sự tồn tại và hoàn thiện của
hệ thống triết học nhân loại. Trên thế giới hiện nay có một vài khái niệm, định
nghĩa mô tả sự phát triển, tuy nhiên một định nghĩa thống nhất và hoàn chỉnh
về sự phát triển vẫn chưa được ngã ngũ. Theo tác giả Nguyễn Trần Bạt trong
cuốn sách “Cải cách và sự phát triển” cho rằng: Sự phát triển là trạng thái cho
phép chúng ta thỏa mãn những nhu cầu tốt đẹp của con người. Ở đâu con
người có năng lực nhận thức tốt hơn, có năng lực và điều kiện hưởng thụ tốt
hơn, có điều kiện để tư duy một cách tự do và sáng tạo hơn, có sức cạnh tranh
tốt hơn, tóm lại, ở đâu con người cảm thấy hạnh phúc thì ở đó có sự phát
triển. Phát triển, suy cho cùng, chính là sự tăng trưởng những giá trị của con
người chứ không phải là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế
là một yếu tố để biểu thị - có lẽ là tập trung nhất - năng lực thỏa mãn nhu cầu
của con người, nhưng không phải là tất cả.
Phát triển theo quan niệm của triết học Mác – Lênin là một trường hợp
đặc biệt của vận động. Trong quá trình phát triển, sự vật hiện tượng chuyển
hóa sang chất mới, cao hơn, phức tạp hơn làm cho cơ cấu tổ chức, phương
thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn.
Theo quan điểm phát triển là sự lớn lên về quy mô, tăng trưởng về số
lượng, hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế và chất lượng. Như vậy, Phát triển
+ Tinh tương tác: Dịch vụ giáo dục được sản xuất và tiêu thụ đồng thời
nên cung cầu dịch vụ không thể tách rời, tiến hành đồng thời, không có thời
gian giữa sản xuất và tiêu dùng để kiểm tra sản phẩm hỏng.
14
+ Tính không đồng nhất và khó định lượng: Người học là một bộ phận
của cả quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tính đặc thù này được quy
định bởi sản xuất và tiêu thụ dịch vụ giáo dục diễn ra trong một thời gian và
không gian nhất định nên không tạo ra khoảng cách giữa người học và người
sản xuất dịch vụ - nhà trường. Nói cách khác, người tiêu dùng không chỉ
hưởng thụ một cách thụ động sản phẩm dịch vụ được cung ứng, mà họ còn
trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất thông qua việc phản hồi của họ với
nhà cung cấp về chất lýợng và mức độ hoàn thiện của sản phẩm. Vì vậy,
không có sự đồng nhất trong việc thụ hưởng sản phẩm, mỗi khách hàng có sự
cảm thụ riêng của mình dẫn đến khó định lượng đối với cùng một sản phẩm.
+ Tính không lưu trữ: Quyền sở hữu không được chuyển giao khi mua
và bán. Đây là một đặc thù riêng có của loại hình sản phẩm dịch vụ khi đem
trao đổi trên thị trường. Vì là sản phẩm không thể di chuyển trong không
gian, không thể lưu trữ, cất giữ, là sản phẩm phi vật thể có tính đồng nhất
trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nên khách hàng chỉ đang mua quyền sử
dụng sản phẩm chứ không hề mua được quyền sở hữu sản phẩm dịch vụ đó.
Khi quyền sử dụng của du khách không còn thì cũng là lúc nhà cung cấp toàn
quyền sở hữu đối với sản phẩm dịch vụ đó.
- Ngoài những đặc điểm chung trên thì dịch vụ giáo dục mầm non còn
có những đặc điểm riêng:
+ Khách hàng của dịch vụ giáo dục mầm non là trẻ em từ 3 tháng tuổi
đến 72 tháng tuổi, nhưng người quyết định lựa chọn dịch vụ không phải là trẻ
mà chính là phụ huynh của trẻ.
+ Cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục mầm non không chỉ là một ngôi
cơ sở giáo dục mầm non nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng và
giáo dục trẻ ngày càng cao, đặc biệt ở các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn,
vùng sâu vùng xa, ở các cụm khu công nghiệp. Nó còn góp phần tạo ra nhiều
16
việc làm mới, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở các địa
phương, góp phần làm tăng ngân sách của nhà nước đóng góp vào đà tăng
trưởng chung của nền kinh tế. Đầu tư theo chiều rộng có hiệu quả càng nhiều
thì các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục mầm non càng có nhiều điều kiện về
vốn, lao động, tài nguyên để phát triển thêm dịch vụ hỗ trợ cung cấp cho
người học.
- Phát triển dịch vụ giáo dục mầm non theo chiều sâu:
Phát triển dịch vụ giáo dục mầm non theo chiều sâu là quá trình phát
triển được thực hiện trên cơ sở cải tạo, nâng cấp, đồng bộ hoá, hiện đại hoá cơ
sở vật chất kĩ thuật hiện có, hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế, chính sách và
chất lượng dịch vụ; nâng cao năng lực của cán bộ quản lý, nhân viên, giáo
viên; đầu tư mua sắm thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, áp dụng công nghệ
mới nhằm đáp ứng, nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục được cung cấp tại
các cơ sở giáo dục mầm non.
Phát triển dịch vụ giáo dục mầm non theo chiều sâu là điều kiện không
thể thiếu trong xu hướng xã hội hóa phát triển hệ thống giáo dục quốc dân
hiện nay. Đối với các cơ sở kinh doanh lĩnh vực giáo dục, phát triển theo
chiều sâu là chiến lược tồn tại và phát triển lâu dài của các cơ sở. Phát triển
các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng dịch vụ, gia tăng
các dịch vụ tăng thêm… các cơ sở
1.2.3. Mục tiêu phát triển dịch vụ giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non là quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ từ khi sinh ra
đến dưới 6 tuổi, trước khi trẻ bước vào lớp 1. Mục tiêu phát triển dịch vụ giáo