BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN VŨ HOÀNG LIÊN
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT,
TỈNH ĐẮK LẮK Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng, Năm 2015
Công trình được hoàn thành tại
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành
và phát triển nhân cách của trẻ em nói riêng và con người nói chung.
Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định
giáo dục mầm non là một mục tiêu quan trọng của giáo dục. Theo ông
Sheldon Shaeffer, Giám đốc Văn phòng Giáo dục UNESCO khu vực
châu Á - Thái Bình Dương, giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển
tình cảm cũng như các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức và thể chất của
trẻ, chính những kỹ năng mà đứa trẻ tiếp thu được qua các chương trình
chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho hoạt động học tập sau
này của trẻ, bởi đây là giai đoạn phát triển đặc biệt quan trọng của bộ
não trẻ. Còn ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng giáo
dục mầm non. Trong buổi lễ giới thiệu và giao nhiệm vụ cho tân Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân, Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng đã lưu ý: “So với các bậc học khác, đến nay chúng
ta chưa lo được nhiều cho giáo dục mầm non. Đây là một mảng còn yếu
của giáo dục Việt Nam mà Bộ trưởng và toàn ngành cần cố gắng khắc
phục trong thời gian ngắn nhất”.
Phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập góp phần hiện
thực hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục của Chính phủ nhằm hai mục
tiêu lớn:
Thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân,
huy động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục;
Thứ hai là điều kiện để toàn xã hội được thụ hưởng thành quả
giáo dục ở mức độ ngày càng cao.
Thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên;
đồng thời cũng là một trong những trung tâm công nghiệp, khoa học kỹ
thuật, giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao của vùng; là đầu mối giao
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung đề tài: Những điều kiện và các chính sách phát triển
giáo dục mầm non tại các trường ngoài công lập ở TP. Buôn Ma Thuột.
+ Về không gian: Trên địa bàn TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk
Lắk và một số địa phương khác để so sánh.
3
+ Về thời gian: Các số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn năm
2007 – 2013; định hướng phát triển và tầm xa của các giải pháp đến
năm 2020.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, điều tra, thu thập số liệu (Số liệu tình hình
kinh tế - xã hội, số liệu về giáo dục mầm non của TP. Buôn Ma Thuột).
- Phương pháp thống kê (Phân tổ thống kê, phương pháp đồ thị
thống kê, phương pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian và
phương pháp phân tích tương quan).
- Phương pháp tổng hợp, so sánh và khái quát hóa.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, kiến nghị và tài liệu
tham khảo thì nội dung của đề tài được chia làm ba chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển giáo dục mầm non ngoài
công lập.
- Chương 2: Thực trạng phát triển giáo dục mầm non ngoài công
lập trên địa bàn TP. Buôn Ma Thuột.
- Chương 3: Giải pháp phát triển giáo dục mầm non ngoài công
lập trên địa bàn TP. Buôn Ma Thuột.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP
mở rộng và phân bố mạng lưới cung cấp, cơ sở vật chất trường lớp với một
đội ngũ giáo viên, nhân viên và cán bộ quản lý có trình độ phù hợp nâng cao
chất lượng giáo dục, đáp ứng ngày càng nhiều và đa dạng các nhu cầu chăm
sóc, nuôi dưỡng, hỗ trợ người học ngoài các hoạt động giáo dục cơ bản (dạy
học, cung cấp kiến thức, chăm sóc cho trẻ) như chăm sóc trẻ ngoài giờ, đưa
đón tận nhà, tư vấn tâm lý, dinh dưỡng cho phụ huynh học sinh,…
Phát triển GDMNNCL phải tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn
GDMN của Chính phủ. Nội dung bao gồm:
a) Phát triển loại hình, chủng loại dịch vụ GDMNNCL
Loại hình nhà trẻ: Tùy vào độ tuổi, trẻ được phân vào các
nhóm lớp tương ứng với chủng loại dịch vụ đặc thù phù hợp với yêu
cầu chăm sóc và giáo dục của tâm lý lứa tuổi như sau:
- Nhóm 3 tháng – 6 tháng: chăm sóc và nuôi dưỡng đòi hỏi sự
cẩn trọng và sự phối hợp của các bà mẹ.
5
- Nhóm 6 tháng – 12 tháng: chủ yếu là dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Nhóm 1 tuổi – 1,5 tuổi bao gồm các dịch vụ chăm sóc, nuôi
- Nhóm 1,5 tuổi – 2 tuổi dưỡng và giáo dục.
- Nhóm 2 tuổi – 3 tuổi
b) Phát triển đội ngũ giáo viên, nhân viên, cán bộ quản lý
Phát triển đội ngũ giáo viên:
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên nhà trường:
c) Phát triển cơ sở vật chất giáo dục, công nghệ quản lý
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá phát triển GDMNNCL
Nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng loại hình, chủng loại
GDMNNCL:
Nhóm tiêu chí phản ánh sự phát triển số lượng và mở rộng
mạng lưới GDMNNCL:
Nhóm tiêu chí về phát triển đội ngũ giáo viên, nhân viên, cán
bộ quản lý:
hội, trong đó có GDMNNCL.
TP. Buôn Ma Thuột - diện tích tự nhiên 377,18 km
2
(trong đó
diện tích đã đô thị hóa là 100 km
2
), chiếm khoảng 2,87% diện tích tự
nhiên của tỉnh, có các Quốc lộ 14, 26, 27 nối liền với các tỉnh trong cả
nước, nhất là với TP. HCM, Nha Trang, Đà Nẵng và các tỉnh lân cận như
Lâm Đồng, Đăk Nông, Gia Lai, với Campuchia. Hệ thống đường quốc lộ,
liên tỉnh và hệ thống đường giao thông nội tỉnh được nối liền với trung tâm
tất cả các huyện trong tỉnh Đắk Lắk. Đặc biệt, TP. Buôn Ma Thuột có cảng
hàng không nối liền với Thủ đô Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,
Vinh. Như vậy, hệ thống giao thông đường bộ và đường hàng không nêu
trên rất thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội; đặc biệt là cho
phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch và văn hoá với các vùng miền trong
cả nước. Do đó, Buôn Ma Thuột có nhiều tiềm năng để phát triển
GDMNNCL.
b) Địa hình, khí hậu
TP. Buôn Ma Thuột nằm trên cao nguyên Đắk Lắk rộng lớn ở
phía Tây dãy Trường Sơn, có địa hình dốc thoải từ 0,5 – 10% (cá biệt
có nhiều đồi núi có độ dốc hơn 30%), độ cao trung bình 500 mét so với
mặt biển, bị chia cắt bởi một số dòng suối thượng nguồn của sông
Sêrêpok.
7
Thời tiết khí hậu vừa chịu chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa
vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên. Trong năm có 2 mùa rõ rệt:
mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (tháng 10 đến tháng 4
năm sau).
Sự phong phú về địa hình và khí hậu đã mang lại cho Buôn Ma
mạnh công tác mở rộng mạng lưới, quy mô trường, lớp mầm non công
lập theo hướng chuẩn và trên chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiện
nay, trên địa bàn thành phố, trong tổng số 37 trường mầm non có 23
trường công lập. Tuy nhiên, số cán bộ quản lý và giáo viên tại các
trường mầm non công lập hiện nay đạt chuẩn trở lên chỉ khoảng 67%.
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TP. BUÔN MA THUỘT
2.2.1. Tình hình phát triển loại hình, chủng loại dịch vụ
GDMNNCL, nâng cao chất lƣợng giáo dục
Qua số liệu ở Bảng 2.1, có thể thấy hiện nay GDMN công lập
trên địa bàn TP. Buôn Ma Thuột chưa cung cấp loại hình dịch vụ nhà
trẻ (dành cho trẻ từ 3 tháng đến dưới 3 tuổi), đặc biệt là trẻ em 6 tháng
tuổi, độ tuổi mẹ trẻ phải đi làm. Chính vì vậy, GDMN khu vực ngoài
công lập đang tạo ra và tăng thêm cơ hội học tập và tỷ lệ huy động trẻ
đến trường với cả hai loại hình dịch vụ GDMN là nhà trẻ và mẫu giáo.
Bảng 2.1: Các loại hình trƣờng mầm non trên địa bàn TP. Buôn
Ma Thuột năm học 2012-2013
Loại
hình
Số trƣờng
Tỷ lệ
(%)
Số lớp
Số trẻ đi
học
Nhà trẻ
Mẫu
giáo
Công lập
23
thể: năm học 2011-2012 tăng 01 trường so với năm học 2010-2011 và
tăng thêm 03 trường nữa vào năm học 2012-2013. Số trẻ do các cơ sở
GDMNNCL đảm trách cũng tăng dần. Đến năm học 2012-2013, các cơ
sở GDMNNCL tuy chỉ chiếm tỷ trọng 38% trong tổng số trường mầm
non trên địa bàn, nhưng đảm nhận việc chăm sóc, giáo dục đến 46%
tổng số học sinh mầm non.
Bảng 2.2: Mạng lƣới GDMNNCL trên địa bàn TP. Buôn Ma Thuột
giai đoạn 2010-2013
Năm học
Số trƣờng mầm non
Số trẻ mầm non đi học
Công lập
Ngoài
công lập
Công lập
Ngoài công
lập
2010-2011
23
10
8.733
6.624
2011-2012
23
11
8.849
6.818
2012-2013
23
14
2012
2012-
2013
Giáo
viên
302
341
389
408
423
440
Cán
bộ
quản
lý
125
136
142
168
170
193
Tổng
427
477
531
576
593
633
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Lắk
Những năm gần đây, ngành GD&ĐT đã phối hợp với các
2009-
2010
2010-
2011
2011-
2012
2012-
2013
Kiên
cố
25
27
33
34
40
49
Bán
kiên
cố
104
108
117
121
128
134
Tạm
6
7
9
11
nhu cầu phát triển của xã hội.
2.3.2. Hạn chế
Sự phát triển GDMNNCL vẫn còn chưa đáp ứng đủ mục tiêu
xã hội hóa GDMN mà chính quyền thành phố đặt ra. Đối với loại hình
nhà trẻ, chưa có nhiều cơ sở tham gia cung cấp dịch vụ thật sự đạt chất
lượng, một số cơ sở GDMN chưa có sự đầu tư nghiêm túc, nên chưa
đảm bảo yêu cầu về nhiều mặt.
Vẫn còn tồn tại các cơ sở GDMNNCL đang hoạt động chui.
Việc quản lý, cấp phép ở đối tượng này chưa được quan tâm đúng mức,
thiếu tính pháp lý trong việc cung cấp các dịch vụ GDMN.
Chất lượng của các cơ sở GDMNNCL không đồng đều, điều
này sẽ tạo ra khoảng cách giữa người giàu và người nghèo trong xã hội.
2.3.3. Nguyên nhân những hạn chế
- Chính sách vĩ mô thiếu sự ổn định cần thiết.
- Thành phố cũng chưa quyết liệt trong việc thực hiện chủ trương
xã hội hóa GDMN hoặc thực hiện chưa đồng bộ, chưa tập trung
đầu tư kinh phí vào các vùng khó khăn.
- Sự đồng thuận của xã hội không cao.
- Văn bản hướng dẫn thực hiện chưa cụ thể.
- Nguồn vốn ưu đãi, chính sách khuyến khích không đảm bảo
gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào GDMNNCL.
- Việc huy động vốn của cá nhân, tổ chức còn lúng túng về cơ
chế, cách làm.
- Quỹ đất khu vực nội thành còn ít hoặc cơ chế giao, thuê đất còn
nhiều bất cập, chưa thu hút. 13
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI
lập hay ngoài công lập đều phải được đánh giá trên một chuẩn yêu cầu
14
và mục tiêu giáo dục. Do đó, TP. Buôn Ma Thuột cần phải có các chính
sách:
- Khuyến khích sự phát triển của các loại hình, chủng loại
GDMNNCL để khu vực ngoài công lập có thể chia sẻ gánh
nặng cho chính quyền thành phố cũng như cho ngành GDMN,
đặc biệt là sự phát triển của các loại hình GDMNNCL dành cho
trẻ ở độ tuổi dưới 12 tháng (Phân khúc này có nhu cầu rất lớn).
- Thành lập trung tâm kiểm định chất lượng GDMN độc lập để
đánh giá, xếp loại các loại hình, chủng loại của các cơ sở
GDMN để người sử dụng dịch vụ có thể tham khảo, đồng thời
cũng giúp cho các cơ sở GDMNNCL có thái độ nghiêm túc
hơn trong việc tổ chức dịch vụ giáo dục, đặc biệt là GDMN.
- Tổ chức triển khai đổng loạt và kiểm tra chất lượng, đánh giá
xếp loại công tác chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non theo bốn lĩnh
vực thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, nhận thức cụ thể trong 28
chuẩn, 120 tiêu chí chuẩn mầm non 5 tuổi của bộ GD&ĐT.
3.2.2. Giải pháp phát triển mạng lƣới GDMNNCL
Để GDMNNCL phát triển và phát triển tốt theo định hướng
giáo dục của ngành, đảm bảo chất lượng, yêu cầu phát triển của thành
phố và được xã hội đồng thuận cần phải:
- Quy hoạch mạng lưới đi cùng quá trình đô thị hóa, vận động và
thu hút đầu tư, có yêu cầu bắt buộc với các quy hoạch khu dân
cư, khu công nghiệp, có chính sách ưu đãi từng khu vực, tạo
điều kiện đa dạng hóa các loại hình GDMN.
- Tăng cường kiểm tra giám sát việc thực hiện chiến lược, kế
hoạch phát triển, rà soát, chỉnh sửa. Có chính sách hỗ trợ kịp
thời, cần sớm tổng kết kết việc thực hiện để thực hiện đề án xã
hội hóa GDMN.
nghĩa rất lớn với các đơn vị hoạt động trong hình thức xã hội
hoá, hình thành đơn vị ngoài công lập.
+ Nhận thức nhà đầu tư: Đầu tư giáo dục là một lĩnh vực giáo
dục khá đặc biệt, cần phải xem trọng trách nhiệm xã hội của
các tổ chức. Do vậy cạnh việc kiểm tra giám sát hoạt động cần
phải tuyên truyền vận động các tổ chức giáo dục đảm bảo hoạt
động theo đúng quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng
dịch vụ và đa dạng các hình thức cung cấp, gắn quyền lợi với
trách nhiệm.
+ Nhận thức người học: cần tuyên truyền chủ trương xã hội hóa
cụ thể là dịch vụ GDMNNCL nhằm đáp ứng sự đa dạng dịch
16
vụ lựa chọn, đáp ứng nhiều phân khúc, tiện lợi, tiện nghi cho
người học, nâng cao chuẩn giáo dục. Sự chấp nhận, chi trả của
người dân cũng được xem là sự chung tay của mọi người để
nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển xã
hội.
- Phân bố chỉ tiêu, giám sát việc thực hiện đến các UBND
phường, cấp quản lý trực tiếp các cơ sở giáo dục bậc mầm non.
Đôn đốc việc tạo điều kiện khuyến khích các cơ sở
GDMNNCL cung cấp các dịch vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi
dưỡng đa dạng hoá loại hình phục vụ cho nhiều đối tượng cộng
đồng. Tránh phân biệt đối xử giữa cơ sở công lập và ngoài công
lập.
3.2.3. Giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo
viên
- Quy hoạch tổng thể đội ngũ giáo viên, nhân viên, cán bộ quản
lý đáp ứng yêu cầu phát triển (Cả về số lượng và chất lượng)
- Có chính sách đảm bảo và thu hút nguồn nhân lực có chất
lượng tham gia GDMN trong cũng như ngoài công lập.
Xây dựng lộ trình hoàn thiện điều kiện cơ sở vật chất đối với
các trường, nhóm trẻ gia đình. Áp dụng điều kiện cấp mới theo chuẩn
trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đối với các cơ sở giáo dục.
Tổ chức triển khai đồng loạt và kiểm tra chất lượng, đánh giá
xếp loại công tác chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non theo bốn lĩnh vực thể
chất, trí tuệ, ngôn ngữ, nhận thức cụ thể trong 28 chuẩn, 120 tiêu chí
chuẩn mầm non 5 tuổi của bộ GD&ĐT.
Hỗ trợ cho các cơ sở GDMN nhận hợp đồng chuyển giao công
nghệ quản lý, công nghệ giảng dạy của các tổ chức có chất lượng trong
và ngoài nước.
3.2.5. Các giải pháp khác
Ngoài các giải pháp trên, để phát triển GDMNNCL cũng cần
thực hiện các giải pháp như:
a) Đổi mới quản lý Nhà nước đối với GDMNNCL
Trước hết phải thay đổi nhận thức đối với giáo dục mầm non
ngoài công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đây là một bộ phận
trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và giáo dục mầm non nói
riêng, góp phần đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong
điều kiện giáo dục công lập không đáp ứng được, do những hạn chế về
nguồn lực từ nhà nước và thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục
hiện nay. Từ đó xác định sự bình đẳng giữa nó với giáo dục mầm non
18
công lập để thay đổi cơ chế quản lý. Nghĩa là xác định đúng đối tượng
quản lý trước khi đưa ra quyết định quản lý mới đảm bảo các quyết
định được thực thi.
Đổi mới quản lý nhà nước với giáo dục mầm non ngoài công
lập sau khi đã xác định rõ đối tượng quản lý thì vấn đề tiếp theo là xác
định mục tiêu quản lý, phương thức và công cụ quản lý.
Mục tiêu quản lý nhà nước với giáo dục mầm non nhằm hướng
tới sự phát triển đúng hướng của lĩnh vực nà góp phần thoả mãn nhu
Hay nói rõ những gì trẻ được hưởng như: a) Được chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục theo mục tiêu, kế hoạch giáo dục mầm non của
Bộ giáo dục và Đào tạo; b) Được chăm sóc sức khoẻ ban đầu: Khám
bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập; c) Được
tham gia các hoạt động nhằm phát triển năng khiếu. Trẻ khuyết tật được
chăm sóc và giáo dục hoà nhập theo quy định; d) Trang phục sạch sẽ,
gọn gàng, phù hợp lứa tuổi, phù hợp lứa tuổi, thuận tiện cho các hoạt
động vui chơi và học tập.
Ngoài ra việc kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ sở này
cũng thường xuyên được tiến hành để đảm bảo sự chấp hành nghiêm
túc của họ.
b) Cải cách thủ tục hành chính trong hỗ trợ phát triển
GDMNNCL
Về thể chế hành chính trên cơ sở Hiến pháp đã sửa đổi, các
Luật mới và các văn bản dưới Luật về tổ chức bộ máy nhà nước; Pháp
lệnh cán bộ, công chức và các nghị định để cụ thể hoá Pháp lệnh, cán
bộ, công chức… quán triệt thực hiện tốt trong bộ máy hành chính của
thành phố và ngành giáo dục.
Về bộ máy hành chính về giáo dục của thành phố tiếp tục giảm
dần các đầu mối quản lý giáo dục, số lượng các cơ quan quản lý nhà
nước đã giảm xuống đáng kể, tiếp tục đẩy nhanh thủ tục hành chính
được cải cách theo hướng “một cửa”, mẫu hoá các văn bản hành chính,
giấy tờ, công khai các thủ tục hành chính về giáo dục. Chính việc cải
cách thủ tục hành chính này đã góp phần hạn chế sự sách nhiễu, phiền
hà, tham nhũng của các công chức mầm non ngoài công lập. Đây là
điểm căn bản nhất của cải cách hành chính về giáo dục góp phần trong
xây dựng nhà nước pháp quyền ở thành phố.
Một vấn đề đang được quan tâm trong cải cách hành chính ở
lĩnh vực giáo dục hiện nay là vấn đề phân cấp trong quản lý nhà nước.
Phân cấp thực chất là việc chuyển dần các công việc, nguồn lực do
quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là
khách hàng của nền hành chính, là người đánh giá khách quan nhất về
mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính.
c) Giải quyết tốt mối quan hệ giữa GDMN công lập và ngoài
công lập
21
Để phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập thì phải giải
quyết tốt mối quan hệ giữa giáo dục mầm non công lập. Phải nhận thức
đúng vai tro của các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trong hệ
thống giáo dục nói chung và hệ thống cơ sở giáo dục mầm non nói
riêng. Cần khẳng định cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập là bộ
phận cấu thành của hệ thống giáo dục Việt Nam để bảo đảm cung cấp
dịch vụ giáo dục mầm non cho nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Trong thực tế hiện nay vẫn còn định kiến nhất định với cơ sơ giáo dục
mầm non ngoài công lập, ví dụ khi giáo viên mẫu giáo giỏi chuyển từ
các trường công lập sang cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập được
coi là “Chảy máu chất xám”. Đây chính là tư tưởng phân biệt đối xử
giữa hai loại hình này.
Chỉ có nhận thức đúng như vậy mới giải quyết tốt mối quan hệ
này trong quá trình quản lý và hoạch định chính sách giáo dục của
thành phố. Khi đó không chỉ là sự tạo dựng môi trường thuận lợi cho
phát triển cũng của các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập mà còn
có thể triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ như: vốn đầu tư, mặt
bằng; nhất là đạo tạo cán bộ và giáo viên…
Để giải quyết tốt mối quan hệ này cần phải:
- Trong các văn bản nên thống nhất chung giáo dục mầm non
của thành phố gồm hai bộ phận công lập và dân lập, gọi chung
là giáo dục mầm non.
- Nên định hướng các mỗi cơ sở công lập mạnh dạn tham gia
giúp đỡ hay đầu tư cho một cơ sở ngoài công lập mới trong tư
hoạch phát triển mạng lưới giáo dục ngoài công lập của thành
phố đã có.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Buôn Ma Thuột đang trong giai đoạn phát triển nhanh về chất
lẫn về lượng, đề trở thành “Thành phố đáng sống”, Buôn Ma Thuột cần
đầu tư tập trung những giá trị sống mà giá trị giáo dục vừa là nền tảng
vừa là động lực cho sự phát triển. Chủ trương xã hội hoá giáo dục cùng
y tế, văn hoá thể thao của chính phủ với mục tiêu thu hút nhiều nguồn
lực xã hội để nâng cao chất lượng là hết sức đúng đắn. Thành phố đã
xây dựng đề án xã hội hoá giáo dục mà đối tượng chính là trẻ ở độ tuổi
mầm non chiếm tỉ trọng cao nhất song cho đến nay việc thực hiện chưa
23
đảm bảo mục tiêu đề án đặt ra, thành phố cần nghiêm túc nhìn nhận và
đánh giá, đúc rút những việc cần phải làm ngay để đảm bảo nhu cầu
phát triển.
Phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập không chỉ thực
hiện tốt mục tiêu của thành phố, của Chính phủ mà còn đáp ứng nhu
cầu của người dân trong việc nâng cao mức sống và chất lượng cuộc
sống. “Nền móng của giáo dục cho trẻ trước 5 tuổi chiếm 90% cả quá
trình giáo dục của một đời người” là khẳng định của tác giả Thu Hoa
trên báo Đà Nẵng, số ra ngày 17/07 trong chuyên mục xã luận, điều này
chắc hẳn cho chúng ta có những suy nghĩ, đặt vấn đề giáo dục mầm non
đang nằm ở đâu trong hệ thống giáo dục quốc dân, sự cần thiết phải đáp
ứng đầy đủ và đảm bảo chất lượng dịch vụ giáo dục mầm non cho trẻ
em là việc người lớn chúng ta cần phải làm, sự chung tay của giáo dục
mầm non ngoài công lập là hết sức cần thiết bởi thế hệ mầm non lớn
lên với trí lực dồi dào là kho vàng của đất nước.
Phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập là phát triển các