đề cương môn Kinh doanh quốc tế - Pdf 28

1. Khái niệm, bản chất của KDQT (dưới góc độ chung và góc độ doanh nghiệp), các phương
thức tham gia KDQT chủ yếu của doanh nghiệp
2. Các động cơ chủ yếu thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia KDQT (lực đẩy – lực kéo)
3. Các chủ thể liên quan đến KDQT
4. DN nhỏ và KDQT (cơ hội, điều kiện, khả năng và cách thức tham gia KDQT của các DN
nhỏ)
5. Khái niệm, các cấp độ của toàn cầu hóa (TCH), các nhân tố thúc đẩy TCH (không chỉ nêu mà
cần lý giải các nhân tố này thúc đẩy quá trình TCH thị trường và TCH sản xuất như thế nào!)
6. Lý giải sự cần thiết về tầm nhìn chiến lược toàn cầu đối với các DN
7. Khái niệm, đặc trưng và các nhân tố cấu thành văn hóa. Vai trò của văn hóa đối với DN
KDQT.
8. Văn hóa định hướng nhóm: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
9. Văn hóa định hướng cá nhân: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
10. Khái niệm, nguồn gốc, hình thức và tác động của rủi ro chính trị đối với các DN KDQT
11. Ngăn ngừa, hạn chế rủi ro chính trị đối với DN KDQT: các bước và các công cụ áp dụng
12. Đặc điểm của các dòng luật chính trên thế giới: Thông luật, dân luật, thần luật.
13. Một số vấn đề luật pháp quốc tế quan trọng đối với DN KDQT (Giải quyết tranh chấp, bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ, an toàn, trách nhiệm sản phẩm)
14. Liên hệ tình hình rủi ro chính trị đối với: i) các DN nước ngoài trên thị trường Việt Nam; ii)
đối với các DN Việt Nam trên thị trường Mỹ
15. Liên hệ thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
16. Liên hệ thực trạng vấn đề an toàn sản phẩm ở Việt Nam
17. Các đặc trưng và ưu, nhược điểm của các hệ thống kinh tế thị trường, kinh tế chỉ huy và kinh
tế hỗn hợp.
18. Nội dung và ưu nhược điểm của các chỉ tiêu thu nhập và chỉ số HDI trong việc phản ánh
trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia.
19. Chu kỳ kinh tế: đặc trưng của các pha trong chu kỳ kinh tế và tác động đến doanh nghiệp.
20. Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo: nội dung và khả năng giải thích thực tiễn thương mại
quốc tế
21. Lý thuyết H-O: nội dung và khả năng giải thích thực tiễn thương mại quốc tế
22. Lý thuyết Porter về năng lực cạnh tranh quốc gia của các ngành công nghiệp: nội dung và

trao quyền sử dụng những tài sản vô hình của mình cho một DN khác trong một thời gian nhất định
và người được cấp giấy phép phải trả cho người câó giấy phép một số tiền nhất định
+ Hợp đồng đại lý độc quyền: là một hợp đồng hợp tác kinh doanh thông qua đó alf ng đưa
ra đặc quyền trao và cho phép ng nhận đặc quyền sử dụng tên cty rồi trao cho họ nhãn hiệu mẫu mã
và tiếp tục thực hiên sự giúp đỡ hoạt động kinh doanh của đối tác, ngc lại cty nhận được một khoản
tiền mà đối tác trả cho công ty
+ Hợp đồng quản lý: là hợp đồng qua đó một doanh nghiệp thực hiện sự giúp đỡ của mình
đối với một doanh nghiệp khác quốc tịch bằng việc đưa những nhân viên quản lý của mình để hỗ trợ
cho DN kia thực hiện các chức năng quản lý
+ Hợp đồng theo đơn đặt hàng: là loại hợp đồng thhường diễn ra với các dự án vô cùng lớn,
đa dạng, chi tiết với những bộ phận rất phức tạp cho nên các vấn đề về vốn, công nghệ và quản lý,
họ ko tự đảm nhận được mà pahỉ kí hợp đồng theo đơn đặt hàng từng khâu từng gia đoạn cảu dự án
đó.
+ Hợp đồng xây dựng và chuyển giao: là nhứng hợp đồng đc áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực
xd cơ sở hạ tầng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn ra xây dựng công trình, kinh daonh trong 1
khaongr thời gian nhất định sau đó chuyển giao lại cho nước sỏ tại trong tình trạng công trình còn
đang hoạt động tốt mà nước sở tại ko phải bồi hoàn tài sản cho bên nước ngoài
+ Hợp đồng phân chia sản phẩm: là loại hợp đồng mà hai bên hoặc nhiều bên ký kết với
nhau góp vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh và sản phẩm thu đc sẽ đc chia cho bên theo tỷ
lệ góp vốn hoặc thỏa thuận
- Nhóm hình thức kinh doanh thông qua đầu tư nước ngoài:
Đầu tư nước ngoài là một quá trình trong đó hai hay nhiều bên có quốc tịch khác nhau cùng nhau
góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư nào đó nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các
bên. Nói cách khác, đầu tư nước ngoài là quá trình di chuyển vốn giữa các quốc gia nhằm tìm kiếm
lợi ích thông qua các hoạt động sử dụng vốn ở nước ngoài.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài: là hình thức chủ đầu tư mang vốn hoặc tài sản sang nước
khác để đầu tư kinh doanh và trực tiếp quản lý và điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn, đồng thời chịu
trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh củ dự án
+ Đầu tư gián tiếp: là hình thức chủ đầu tư mang vốn hoặc tài sản sang nước khác để đầu tư
nhưng không trực tiếp tham gia quản lý và điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư thông qua việc

Câu 3: Các chủ thể liên quan đến KDQT
Các chủ thế liên quan tới hoạt động KDQT: doanh nghiệp, người tiêu dùng, tổ chức tài chính tiền tệ,
chính phủ.
Về phía doanh nghiệp
Các công ty thuộc tất cả các loại hình, các loại quy mô và ở tất cả các ngành đều tham gia
vào hoạt động kinh doanh quốc tế.Tất cả các công ty sản xuất, công ty dịch vụ và công ty bán lẻ đều
tìm kiếm khách hàng ngoài biên giới quốc gia mình.
Công ty quốc tế là một công ty tham gia trực tiếp vào bất kỳ hình thức nào của hoạt động
kinh doanh quốc tế.Vì vậy sự khác nhau của các công ty là ở phạm vi và mức độ tham gia vào kinh
doanh quốc tế.Chẳng hạn, mặc dù một công ty nhập khẩu chỉ mua hàng từ các nhà nhập khẩu nước
ngoài, nhưng nó vẫn được coi là một công ty quốc tế.
Tương tự, một công ty lớn có các nhà máy phân bổ trên khắp thế giới cũng được gọi là công ty quốc
tế, hay còn gọi là công ty đa quốc gia (MNC)- một công ty tiến hành đầu tư trực tiếp (dưới hình
thức các chi nhánh sản xuất hoặc marketing) ra nước ngoài ở một vài hay nhiều quốc gia. Như vậy.
mặc dù tất cả các công ty có liên quan đến một hay một vài khía cạnh nào đó của thương mại hay
của đầu tư quốc tế đều được coi là công ty quốc tế, nhưng chỉ có các công ty đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài mới được gọi là công ty đa quốc gia.
- Các doanh nhân và doanh nghiệp nhỏ:
Các công ty nhỏ đang ngày càng tham gia tích cực vào hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế.
Một nghiên cứu gần đây đã cho thấy các công y nhỏ tham ia vào hoạt động xuất khẩu nhiều hơn và
tăng nhanh chóng, sự đổi mới công nghệ đã gỡ bỏ nhiều trở ngại thực tê đối với các DN nhỏ. Trong
khi kênh phân phối truyền thống thường chỉ cho phép các công ty lớn thâm nhập thi trường thì với
mạng điện tử lại là giải pháp ít tốn kém và có hiệu quả với các DN nhỏ
- Các công ty đa quốc gia: là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở
ít nhất hai quốc gia. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc
gia.Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của
các quốc gia.Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa; một
số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí
nghiệp liên hợp toàn cầu.
Quyền sở hữu tập trung: các chi nhánh, công ty con, đại lý trên khắp thế giới đều thuộc quyền sở

nghiệp nhỏ và vừa được hưởng những hỗ trợ cụ thể về cải tiến quá trình chế tác, quản lý kinh doanh
các hoạt động sản xuất thủ công thông qua dự án ” nghiên cứu phát triển ngành thủ công phục vụ
công nghiệp hoá ở nông thôn Việt nam ” do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng cơ quan
hợp tác quốc tế nhật bản ( JICA) thực hiện….
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã bước đầu tạo dựng được thế và lực trong kinh doanh nội
địa; và từng bước tham gia vào thị trường quốc tế, thu hút đầu tư vốn và công nghệ của nước ngoài.
Gần đây, Việt nam được đánh giá là quốc gia có môi trường kinh doanh an toàn nhất ở châu Á –
đây là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hợp tác với nước ngoài.
Điều kiện:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật cần phải được tiếp tục hoàn thiện phù hợp với quá trình chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường. Xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng cho tất
cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận với nguồn vốn, đất đai, lao
động, công nghệ và thông tin thị trường theo hướng: cơ chế chính sách phải đồng bộ; xoá bỏ những
phân biệt đối xử về tín dụng, thuế, giá thuê đất và các ưu đãi khác… Thực hiện nghiêm túc theo
Luật Doanh nghiệp, ban hành Luật Khuyến khích đầu tư áp dụng chung cho cả các doanh nghiệp
nhỏ và vừa của Việt Nam và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, phát triển thị trường lao động và có chính sách thích hợp đối với thị trường bất động
sản. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được mở rộng quyền thuê và tuyển dụng lao động. Có chính sách
khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiến hành các hoạt động đào tạo, dạy nghề nâng cao
trình độ chuyên môn của người lao động. Nhà nước có thể cấp lại một phần hay toàn bộ số tiền thuế
thu nhập mà các cơ sở đào tạo, dạy nghề đã nộp vào ngân sách để dùng vào đầu tư phát triển. Xem
xét sửa thuế thu nhập đối với người Việt Nam. Nghiên cứu xây dựng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp
để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cơ cấu lại các doanh nghiệp nhỏ và vừa… Chuyển việc yêu
cầu các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải trích lập quỹ phúc lợi, trợ cấp mất việc làm sang tham gia
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Thị trường bất động sản và chính sách đất đai phải xây dựng được hệ thống đăng ký, khắc phục sự
bất bình đẳng trong việc giao, cấp đất cho sản xuất kinh doanh. Hình thành loại hình dịch vụ chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, bảo đảm cho việc kinh doanh quyền sử dụng đất được thuận lợi, trôi
chảy. Mở rộng quyền của doanh nghiệp tư nhân trong việc chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm
cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp…

doanh nghiệp được tự do đăng ký kinh doanh, thay đổi sản phẩm và xuất nhập khẩu hàng hóa theo
quy định của pháp luật.
Để xuất khẩu có hiệu quả, cần khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân trực tiếp xuất khẩu,
cũng như gián tiếp tham gia vào hoạt động xuất khẩu.Hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ và vừa trực
tiếp tham gia vào các hợp đồng xuất khẩu, không phân biệt mặt hàng xuất khẩu; mở rộng các nghiệp
vụ bảo hiểm xuất khẩu. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong quá trình đẩy mạnh xuất khẩu
cần chú ý đến thương hiệu sản phẩm…
Thứ năm, nâng cao hơn nữa vai trò của các hiệp hội, câu lạc bộ giám đốc và tổ chức chuyên
môn đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa .
Ở các nước có nền kinh tế phát triển, các hiệp hội chuyên ngành, các câu lạc bộ…. có vai trò to lớn
trong việc xúc tiến thương mại, giao lưu, trao đổi thông tin và hỗ trợ phát triển chuyên môn.Ở Việt
Nam, cũng có một số hiệp hội ngành hàng, tổ chức chuyên môn đã tích cực hoạt động nhưng hiệu
quả và vai trò còn hạn chế. Các hiệp hội, các câu lạc bộ chuyên ngành cần nâng cao chất lượng và
hiệu quả trong việc tổ chức sinh hoạt, giao lưu, giới thiệu kinh nghiệm trong nước và quốc tế, cập
nhật thông tin về ngành và về hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ
và vừa phát triển .
Thứ sáu, tăng cường đào tạo về nghiệp vụ kinh doanh quốc tế cho cán bộ quản lý của các
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đã xuất hiện những doanh nhân Việt Nam thành công trên thương trường
quốc tế, tuy nhiên con số này không phải là nhiều và phát triển còn mang tính tự phát, trình độ kinh
doanh quốc tế còn thấp. Những kinh nghiệm từ sự thành công của Hàn Quốc, Đài Loan, Trung
Quốc trong lĩnh vực này cần được chọn lọc và áp dụng.
Câu 5: Khái niệm, các cấp độ của toàn cầu hóa (TCH), các nhân tố thúc đẩy TCH (không
chỉ nêu mà cần lý giải các nhân tố này thúc đẩy quá trình TCH thị trường và TCH sản xuất như
thế nào!)
=> Toàn cầu hóa kinh tế vừa là trung tâm, vừa là động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa các lĩnh
vực khác. Về bản chất, toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt
qua mọi biên giới quốc gia và khu vực, tạo ra sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự
vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới hội nhập và thống nhất.
Các cấp độ
a. Toàn cầu hóa thị trường nhằm chỉ tiến trình liên tục hội nhập và sự phụ thuộc lẫn nhau

Có 2 nhân tố chính:
- Giảm bớt các trở ngại đối với thương mại và đầu tư:
• Hiệp định GATT là 1 hiệp định quốc tế có chức năng thiết lập những quy tắc cụ thể đối với
thương mại quốc tế nhằm mở cửa các thị trường quốc gia thông qua việc cắt giảm thuế quan
và các trở ngại phi thuế quan
• Thuế suất TB đối với thương mại hàng hóa sẽ giảm hơn nữa
• Trợ cấp (trợ giá) đối với nôg sản được giảm đáng kể
• Quyền sở hữu trí tuệ đc định nghĩa ró ràng và thưucj hiện bảo hộ đối với bản quyền, nhãn
hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụ và bằng sáng chế
• Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đc thành lập với chức năg tăng cường hiệu lực của Hiệp
đinh GATT
• Các khối thương mại đc sáng lập làm tăng tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế nhanh
hơn nhiêì tốc độ tăng trưởng của sx trên toàn thế giới
- Sự phát triển của công nghệ thông tin
Trong khi việc giảm bớt các trở ngại đối với thương mại và đầu tư kích thích quá trình toàn cầu hóa
thì sự phát triển của công nghệ thông tin đang thúc đẩy mạnh hơn quá trình đó
• Các công ty sử sụng mạng toàn cầu, mạng nội bộ, mạng mở rộng để tiếp cận các hoạt động
sản xuấtf và các hoạt động phân phối quốc tê
• Nhiều hoạt động kinh doanh như quản lý lao động, lập kế hoạch sx, truyền tải dữ liệu … trở
nên dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn
• Làm tăng khẳ năng cạnh tranh của các công ty nhỏ thông qua việc giảm chi phí tiếp cân thi
trường quốc tế
Ngoài ra còn có các nhân tố khác như:
- Sự phát triển của giao thông vận tải
Những tiến bộ trong phương thức vận tải cũng đang giúp cho quá trnhf toàn cầu hóa thi
trường và hoạt động sản xuất.Tiến bộ trong vận tải hàng không cho phép các nhà quản trị đi lại
nhanh chóng và rẻ hơn tới các địa điểm ở các nước khác.Sự ra đời cuẩ tầu chở hàng khổng lồ có thể
chuyên chở được một lượng hàng hóa cực lớn đã giảm bớt chi phí vận tải đươg biển.
Sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất
Thực tiển của nền kinh tế thế giới đang cho thấy bước quá độ từ nền kinh tế công nghiệp

Như vậy có thể thấy sư phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường chínhlà cơ sở, điều kiệncho
quá trình quốc tế hoá. Nhìn chung các quốc gia trên thế giới ngày nayđèu dựa trên cơ chế thị trường,
sử dụng các phương tiện và công cụcủa kinh tế thị trường trong hoạt động kinh doanh, đưa lại một
không gian rộng lớn, không gian toàn cầu cho các hoạt động sản xuất và lưu chuyểncác yếu tố của
chính quá trình sản xuất ấy,
Sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới kết thúc chiến tranh lạnh
bước vào thời kì hoà bình hợp tác và phát triển.
Trong vài thập niên trở lại đây nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ nhưng kéo theo đó là
những vấn đề mang tính chất toàn cầunhư sự phân hoá giàu nghèo, sự ô nhiễm môi trường, dịch
bệnh Những vấn đề này liên quan đến mọi quốc gia, có tác động trên phạm vi toàn thế giới, nó
quyết định sự phát triển tồn vong của toà thể cộng đồng nhân loại.
Do đó khi giải quyết các vấn đề mang tính chất toàn cầu phải có sự nỗ lực của mọi quốc gia,
sự liên kết sức lực của cả cộng đồng. Bản thân mỗi quốc gia cho dù tiềm lực mạnh đến đâu cũng
không thể giải quyết nổi vấn đề liên quan đến toàn thế giới. Đây chính là cơ sở khách quan qui
định , thúc đẩy cho việc tiến tới thống nhất những qui phạm chung cho quá trình phát triển kinh tế.
Sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia
Với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong chủ nghĩa tư bản tất yếu dẫn đến sự tâp trung
sản xuất và dẫn đến độc quyên. Trong lịch sử của nền sản xuất thế giớivào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ
20 và những năm đầu của thế kỷ 21 này dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuậtđã
đưa lại sự phát triển chưa từng có của các công ti xuyên quốc gia.
Đến nay có gần khoảng 60000 công ti xuyên quốc gia đang kiểm soát 2/3 nền thưong mại thế
giới, 4/5 nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu và chuyển giao công
nghệ thế giới. Với sức mạnh như vậy các công ti xuyên quốc gia không những có ưu thế trong phân
phối tài nguyên trên phạm vi thế giới giúp cho việc thúc đẩy phân công lao động quốc tếđi vào chi
tiết hoá mà còn thông qua việc toàn cầu hoá sản xuất và kinh doanh để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu
hoá kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ti xuyên quốc gia trên địa phận toàn cầu đã tạo ra mạng
lưói liên kết kinh tế quốc tế.Các quốc gia có thể tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất quốc tế và
cũng vì vậy mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau gia tăng.
Các công ty xuyên quốc gia đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăng mức xuất khẩu, gia tăng

Vai trò của chính phủ và sự chuyển đổi trong chính sách phát triển.
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song tốc độ của toàn cầu hoá phụ thuộc rất nhiều vào
chính sách của các quốc gia. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất thì việc đóng cửa đất nước không
giao lưu thông thương với nước ngoài của các quốc gia đã làm cho lưu thông quốc tế bị hạn chế nền
kinh tế thế giới suy thoái mạnh.Nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ haithì các quốc gia phát triển
đã nhận thấy vấn đề cần phải tự do háo thương mại, giảm các hàng rào thuế quan nhằm bành trướng
thế lực ra bên ngoài. Và cho đến naythì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiến hành cải cách mở
cửa, thực hiện tư nhân hoá và tự do hoá mở ra không gian mới cho sự gia tăng xu thế toàn cầu hoá.
Đặc biệt trong quá trình cải cách nhiều quốc gia đã chuyển hướng phát triển kinh tế từ hướng nội
sang hướng ngoại mà cốt lõi là chuyển từ công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hoá
hướng về xuất khẩu.
Với chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu buộc các quốc gia phải thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế không chỉ phải dựa vào nhu cầu bên trong mà phải căn
cứ vào nhu cầu thị trường thế giới, sản xuất sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu chuẩn mực
của thị trường quốc tế. Muốn vậy đòi hỏi các quốc gia phải mở cửa nền kinh tế, cho nhập các thành
tựu công nghệ, thu hút vốn đầu tư để xây dựng và phát triển một cơ cấu ngành kinh tế phù hợp. Như
vậy với chiến lược hướng về xuất khẩu, trên thực tế đã đẩy đến xu thế gắn bó phụ thuộc lẫn nhau
giữa các quốc gia, giữa các nền kinh tế thông qua thực hiện phân công lao động quốc tế dựa trên thế
mạnh của từng nền kinh tế đân tộc.
Ngoài những nhân tố đã nêu trên thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá trong những năm
gần đây chúng ta còn có thể kể đến một số nhân tố khác xem như xung lực đẩy mạnh thêm cho xu
thế toàn cầu hoá. Đó là sự phát triển về dân chủ, văn hoá
Câu 6: Lý giải sự cần thiết về tầm nhìn chiến lược toàn cầu đối với các DN
Các công ty không còn có thể chỉ chú ý đến thị trường nội địa của mình, cho dù nó lớn đến
đâu đi nữa.Nhiều ngành toàn cần và những công ty dẫn đầu ngành đó đã đạt được chi phí thấp hơn
và mức độ nhận biết nhãn hiệu cao hơn.Các biện pháp bảo hộ chỉ có thể làm chậm lại mức độ xâm
nhập của hàng hoá siêu hạng.Nên cách phòng thủ tốt nhất của công ty là tấn công toàn cầu trên cơ
sở đúng đắn.
Trong khi đó kinh doanh toàn cầu cũng có rất nhiều rủi ro, bởi vì tỷ giá hối đoái thăng giáng,
chính phủ không ổn định, có các hàng rào bảo hộ mậu dịch, chi phí thích nghi sản phẩm và thông

• Tính đặc thù
• Tính học hỏi
• Tính kế thừa
• Tính tiến hóa
Các nhân tố cấu thành nên văn hóa:
Bao gồm: Thẩm mỹ, các giá trị và thái độ, phong tục và tập quán, cấu trúc xã hội, niềm tin,
giao tiếp cá nhân, giáo dục, môi trường vật chất và môi trường tự nhiên
1. Thẩm mỹ: là những gì mà một nền văn hóa cho là đẹp khi xem xét đến các khía cạnh như
nghệ thuật (bao gồm âm nhạc, hội họa, nhảy múa, kịch nói và kiến trúc); hình ảnh thể hiện gợi cảm
qua các biểu hiện và sự tượng trưng của các màu sắc.
2. Giá trị và thái độ:
- Giá trị: là những gì thuộc về quan niệm, niềm tin và tập quán gắn với tình cảm con người.
Các giá trị bao gồm những vấn đề như trung thực, chung thủy, tự do và trách nhiệm
- Thái độ: là những đánh giá tình cảm và khuynh hướng tích cực hay tiêu cực của con người
đối với một khái niệm hay một hiện tượng nào đó
 Thái độ đối với thời gian
 Thái độ đối với công việc và sự thành công
 Thái độ đối với sự thay đổi văn hóa
3. Tập quán và phong tục
- Phong tục: Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành
trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng
không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày.Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền
vững và tương đối thống nhất.
Có 2 loại phong tục : phong tục phổ thôg và phong tục dân gian
+ Phong tục dân gian thường là cách cư xử bắt đầu tư nhiều thế hệ trc đã taoọ thành thông lệ
trong 1 nhóm ng đồng nhất
+ Phong tục phổ thông: là cách cư xử chung của nhóm không đồng nhất hoặc nhiều nhóm
- Tập quán: Tập quán là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã
thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng. Tập quán gần gũi với thói

+ Hệ thống giai cấp: là 1 hệ thống phân tầng xh trong đó khả năng cá nhân và hành động cá
nhân quyết định địa vị xh và tính linh hoạt của xh
5. Tôn giáo: là 1 hệ thống các tín ngưỡng và nghi thức liên quan tới yếu tố tinh thần của con
người
Tôn giáo không giới hạn theo biên giới quốc gia và nó có thể tồn tại ở nhiêu vùng khác nhau
trên thế giới đông thời cùng 1 lúc.
Các tôn giáo chình: Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Hindu giáo, Phật giáo , Khổng giáo, Do Thái
giáo, Shinto giáo
6. Giao tiếp cá nhân;
Con người trong mỗi nền văn hóa có một hệ thống giao tiếp để truyền đật thông tin, ý nghĩ, tình
cảm, kiến thức qua các lời nói, hành động và chữ viết
Các hình thức:
• Ngôn ngữ thông thường là một bộ phận trong hệ thống truyền đạt tin của một nền văn hóa
đc thể hiện thông qua lời nói hoặc chữ viết
• Ngôn ngữ chung (ngôn ngữ quốc tế) là ngôn ngữ thứ 3 hoặc là ngôn ngữ liên kết đc 2 bên
cùng hiểu mà cả hai bên này đều nói những thứ ngôn ngữ bản địa khác nhau.
• Ngôn ngữ cử chỉ:sự truyền tin qua ám hiệu không âm thanh bao gồm điệu bộ tay chăn thể
hiện nét mặt ánh mắt trong phạm vi cá nhân
7. Giáo dục:
Giáo dục thông quá các yếu tố truyền thống tập quán và các giá trị
Các quốc gia có chương trình giáo dục cơ bản tốt thường là nơi hấp dẫn đối với các ngành
công nghiệp có thu nhập cao. Và thực tế hiển nhiển là các nước với lực lượng lđ đc giáo dục tốt có
kỹ năng sẽ thu hút các công việc có thu nhập cao và ngc lại
Hiện tượng “chảy máu chất xám” là việc ra đi của những ng có trình độ giáo dục cao từ một
nghề nghiệp, một khu vực hoặc một quốc gia mày đến một nghề nghiệp, một khu vực hay một quốc
gia khác
8. Môi trường tự nhiên và môi trường vật chất
- Môi trường tự nhiên: địa hình và khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống và công việc, tới tập
quán văn hóa
- Văn hóa vật chất: là tất cả các công nghệ áp dụng trong một nền văn hóa để sản xuất hàng hóa và

có thể được giải thích bằng việc họ được lớn lên , sinh sống trong sự bao bọc của tập thể , rủi ro
được chia sẻ từ đó dẫn đến xu hướng chia sẻ lợi ích. Ví dụ : con trai cả các gia đình ở Trung Quốc,
Việt Nam, Hàn Quốc thường chọn những công việc gần nhà, tiện chăm sóc cha mẹ và các anh em
trong gia đình, cũng như có thói quen phụng dưỡng người già và duy trì mối quan hệ họ hàng.
Trong khi đó ở phương Tây, khi đủ 18 tuổi các thanh niên đều ra ở riêng và rất hiếm khi về thăm lại
cha mẹ. Các viên chức Nhật Bản thường rất trung thành và thái độ làm việc chăm chỉ hết mình với
công ty, cũng như các công ty luôn chú trọng việc phụng sự đất nước. Thêm nữa, con người trong
nền văn hóa này có xu hướng quan tâm đến các vấn đề xã hội , môi trường, sức khỏe cũng như việc
từ thiện.
- Đề cao sự ổn định: Văn hóa định hướng nhóm khác biệt hoàn toàn với văn hóa định hướng
cá nhân, đó là sự hạn chế dành cho khác biệt cá thể . Các cá nhân trong văn hóa định hướng nhóm
có xu hướng hành động, sinh sống, suy nghĩ theo trường giá trí, chuẩn mực như nhau , có thái độ kỳ
thị với các cá thể khác biệt. Ví dụ : việc mặc đồng phục và xử lý vi phạm ở các trường phổ thông ở
Hàn Quốc rất nghiêm ngặt, cũng như việc phân biệt chủng tộc cũng có nguy cơ lớn nhất ở các quốc
gia này. Tính ổn định ngoài việc đồng nhất giữa các cá thể, còn thể hiện trong việc ra quyết định
thường ưu tiên phương án ít rủi ro, đề cao sự an toàn trong công việc. Đó là nguyên do tại sao các
viên chức Nhật Bản và Hàn Quốc có năm làm việc cho một công ty trung bình cao nhất thế giới.
- Đề cao tính hợp tác : dưới ảnh hưởng của đặc điểm đề cao lợi ích tập thể và tính ổn định,
các cá thể trong văn hóa nhóm cũng quan tâm đến tính hợp tác. Theo quan niệm này, các cá nhân có
mối tương tác chặt chẽ với nhau mới tạo ra khối tập thể mạnh , và sức mạnh tập thể lớn hơn nhiều
so với sức mạnh các cá nhân. Biểu hiện cho việc này đó là trên bàn đàm phán các doanh nhân
phương đông thường đưa ra phương án có lợi đôi bên, hướng tới hợp tác lâu dài khác với các doanh
nhân từ Mỹ hay Châu Âu. Ở Việt Nam, đó còn là sự đề cao các mối quan hệ khác nhau trong trường
học, công việc, gia đình, làng xóm, xã hội …
Ý nghĩa và tác động:
1. Nội bộ doanh nghiệp có sự liên kết chặt chẽ, thống nhất trong các khâu công việc. Tận
dụng triệt để được lợi thế phát triển kinh tế nhờ quy mô lớn.
- Cơ cấu tổ chức: Phân công theo nhóm, tổ làm việc, tăng cường sự hợp tác giữa các cá nhân
cùng giải quyết một công việc, giảm áp lực công việc, hường tới sự phát triển ổn định của doanh
nghiệp. Phương pháp làm việc theo nhóm thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ trong nhóm và các công

cách nói năng cư xử của một nền văn hoá nào đó mà các nhà hoạt động thị trường chịu ảnh hưởng
sẽ đựơc họ mang theo và sử dụng trong quá trình giao tiếp, đàm phán, thương lượng với khách
hàng.
Văn hoá ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề có tính chất chiến lược trong marketing như: lựa
chọn lĩnh vực kinh doanh, lựa chọn thị trường mục tiêu, lựa chọn các chiến lược marketing chung,
các quyết định về nhiệm vụ mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp và hoạt động marketing.
Văn hoá cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các chiến thuật, các sách lược, các biện pháp cụ thể,
các thao tác, hành vi cụ thể của nhà hoạt động thị trường trong quá trình làm marketing.Văn hoá hầu
như ảnh hưởng một cách toàn diện đến các công cụ khác nhau của hệ thống marketing- mix của
doanh nghiệp trong đó đặc biệt đáng lưu ý là ảnh hưởng đến công cụ sản phẩm, phân phối và xúc
tiến hỗn hợp.
Chiến lược Marketing mix(4p):
+ Sản phẩm: có chất lượng, độ bền cao do mọi người làm việc có kỷ luật cao, phân công tổ chức rõ
ràng. Trong các nền văn hóa nhóm, sự chấp nhận giá trị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn thái độ và giá
trị. Thái độ và giá trị thể hiện rõ bởi những yếu tố tạo nên bản sắc của con người của quốc gia,
doanh nghiệp.
Ví dụ: Sự chấp nhận sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn thái độ và giá trị. Nhật
Bản, quốc gia có xu hướng hướng đến sự hoàn thiện về hình thức, họ hướng tới thể hiện sự giàu có
và hiểu biết. Người Nhật Bản sẵn sàng bỏ ra giá cao để sở hữu sản phẩm mà họ cho là thể hiện giá
trị bản thân.
+Phân phối: nếu thị trường mục tiêu có văn hóa định hướng nhóm, kênh phân phối không cần phức
tạp vì thông tin được lan truyền nhanh do mọi người hay chia sẻ thông tin( tính cộng đồng, xã hội
cao), tận dụng được hiệu ứng “đám đông”.
+Xúc tiến: quảng cáo hướng tới lợi ích chung xã hội dễ được người tiêu dùng đón nhận, thiết lập
mối quan hệ tốt với khách hàng, như vậy dễ phát triển sản phẩm do dễ dàng tiếp thu được nhu cầu,
thị hiếu của khách hàng.
+Giá cả: dễ dàng đưa ra được giá sản phẩm cuối cùng hợp lý do tuy có nhiều ý kiến về giá, việc
định giá tuy có mất nhiều thời gian hơn nhưng sẽ tìm được mức giá trung bình của cả nhóm, đảm
bảo tính khách quan cao, tính khả thi cao.
- Đàm phán: tạo lập được nhiều mối quan hệ dựa trên mức độ tin cậy lẫn nhau do các đối tác

Vì vậy, thiết kế công việc dù là đúng đắn và là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suất, kết quả công
việc vẫn chưa thực sự phát huy được ưu điểm của mình trong nền văn hóa định hướng nhóm.
b) Đánh giá thực hiện công việc
Đây là hoạt động giúp các cán bộ nhân sự hay các nhân viên có cơ hội để xem xét lại những
phẩm chất liên quan đến công việc mà một công nhân cần thiết phải có. Thế nhưng trong nghiên
cứu (1) P.C.Earley đã thấy rằng “trong các nền văn hóa định hướng nhóm, điển hình là Trung
Quốc thường đánh giá thực hiện công việc cũng như khen thưởng nhân viên dựa trên tính hợp lí
hơn là sự công bằng” . Nghĩa là, họ lấy kết quả chung mà cả nhóm đạt được để định hiêu suất công
việc cho mỗi thành viên trong nhóm mà không đánh giá dựa trên thành tích cá nhân của mỗi người
trong nhóm. Điều này dẫn đến sự cào bằng và gây tâm lí ức chế cho những thành viên trong nhóm
khí công việc bị ảnh hưởng bởi cá nhân nào đó trong nhóm.
Trong nghiên cứu (1), Earley có đề cập tới 3 tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá thực hiện
công viêc. Đó là:
- Sự hợp lí
- Sự công bằng
- Sự cần thiết
Ông cũng chỉ ra rằng, trong các nền văn hóa định hướng nhóm luôn nhấn mạnh tiêu chí
hợp lí thì những nền văn hóa định hướng cá nhân lại nhấn mạnh đến sự công bằng và tỷ lệ
đóng góp của cá nhân trong toàn bộ công việc. Trong những nền văn hóa như Nhật Bản hay
Trung Quốc, họ nhấn mạnh đến tiêu chí này bởi họ quan tâm nhiều hơn đến sự hài hòa lợi ích
của các thành viên trong nhóm hơn là những mục tiêu sẽ đạt được. Trong việc khen thưởng, tại
các quốc gia có văn hóa định hướng nhóm, các cá nhân không có xu hướng tự tôn mình lên
trước người khác và thường hướng tới sự ngang bằng giữa các thành viên. Bên cạnh đó, trong
nền văn hóa định hướng nhóm, con người thường tiết chế rất tốt khi đóng góp bất cứ y kiến gì
trong nhóm và luôn tránh làm mất mặt người khác. Chính điều này vô hình đã làm sự mất công
bằng và minh bạch trong công việc. Nhóm sẽ không có những ý tưởng tốt trong công việc do
cá nhân không muốn thể hiện mình.
c) Khả năng làm việc nhóm
Theo một nghiên cứu của Lobel & McLeod vào năm 1991 được đề cập trong nghiên cứu (1), thì
giữa hai nhóm đến từ Mĩ và Nhật Bản, sau khi được chọn giữa cạnh tranh và hợp tác thì nhóm Nhật

nhóm và thụ động trong nhiều việc, trách nhiệm cũng là một vấn đề cần đề cập khí người trưởng
nhóm được mặc định là người “hứng mũi chịu sào”.
d) Khả năng sáng tạo
Sáng tạo là những ý tưởng mới mẻ và có ích trong công việc. Những người có khả năng sáng là
những người luôn độc lập với sự phán xet của người khác, và là người tự tin, năng động. Sự sáng
tạo giúp con người bước khỏi lối mòn suy nghĩ và luôn công hiến nhiều hơn cho xã hội. Tuy nhiên,
trong nghiên cứu (2) “Individualism – collectivism and group creativity” của J.A.Goncalo và

Trích đoạn Giai đoạn sản phẩm mới: Giai đoạn sản phẩm chớn muồi: Giai đoạn sản phẩm chuẩn húa:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status