Cơ cấu của quy phạm pháp luật và quy phạm pháp luật hình sự - Pdf 28

Cơ cấu của quy phạm pháp luật và quy phạm pháp luật hình sự
8:11' 5/11/2009
Trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về cơ cấu của quy phạm pháp luật (QPPL) nói
chung và QPPL hình sự (QPPLHS) nói riêng. Theo quan điểm truyền thống được đề cập đến trong Giáo trình Lý luận chung
về Nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo luật học, thì QPPL có thể có ba bộ phận cấu thành là: giả định, quy định và
chế tài. Ngoài ra, còn có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này như: QPPL có hai bộ phận cấu thành là giả định và chỉ
dẫn (1); QPPL có hai bộ phận cấu thành là quy tắc và bảo đảm (2); QPPL có ba bộ phận cấu thành là giả định, quy định và
bảo đảm (3)... Vậy, QPPL nói chung và QPPLHS nói riêng có mấy bộ phận cấu thành?
Bài viết đưa ra quan điểm của tác giả về cơ cấu của QPPL nói chung và QPPL hình sự nói riêng.
QPPL là quy tắc xử sự chung nên thông thường nó phải chứa đựng những nội dung: thứ nhất, dự kiến
những điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống mà chủ thể sẽ gặp phải; đồng thời chỉ ra chủ
thể là tổ chức, cá nhân nào sẽ ở vào điều kiện, hoàn cảnh đó; thứ hai, quy định cách xử sự mà Nhà nước
cho phép hoặc bắt buộc hoặc cấm tổ chức, cá nhân ở vào điều kiện, hoàn cảnh đó thực hiện; thứ ba,
hình thức khen thưởng mà tổ chức, cá nhân có thể được hưởng nếu thực hiện tốt các quy định của pháp
luật hoặc những biện pháp xử phạt mà tổ chức, cá nhân có thể phải gánh chịu nếu không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng, không đủ những cách xử sự mà Nhà nước đưa ra.
QPPL rất phong phú và đa dạng nên có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ vào mức
độ phổ biến của QPPL nói chung và QPPLHS nói riêng trong các văn bản QPPL, có thể chia chúng thành
hai loại là QPPL thông thường (phổ biến) và QPPL xung đột (đặc biệt). Cơ cấu của hai loại QPPL này có
những điểm khác biệt nhau.
1. Quy phạm pháp luật thông thường (phổ biến)
Cơ cấu của QPPL thông thường (phổ biến) - chiếm đa số tuyệt đối trong hệ thống pháp luật Việt Nam -
có ba bộ phận là giả định, quy định và biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật (các hình thức thưởng,
phạt).
1.1. Giả định của quy phạm pháp luật
Giả định là bộ phận của QPPL dự kiến trước những điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống
mà chủ thể sẽ gặp phải hoặc dự kiến trước những điều kiện, hoàn cảnh, để áp dụng các biện pháp tác
động của Nhà nước. Bộ phận này còn chỉ rõ chủ thể là tổ chức, cá nhân nào cần phải xử sự trong điều
kiện, hoàn cảnh đó hoặc tổ chức, cá nhân nào sẽ là đối tượng để áp dụng các hình thức khen thưởng
hoặc các biện pháp xử phạt của Nhà nước. Vì vậy, phần giả định của QPPL nói chung và QPPLHS nói
riêng thường trả lời cho các câu hỏi: ai? tổ chức, cá nhân nào? khi nào? trong điều kiện hoàn cảnh nào?

cả các điều kiện, hoàn cảnh đó, tổ chức, cá nhân được đề cập mới chịu sự tác động của quy phạm (4) .
Ví dụ 3: Điều 19 của Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật Hôn nhân và gia đình: “Trong trường hợp người được cấp dưỡng một lần lâm vào tình trạng khó
khăn trầm trọng do bị tai nạn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà người đã thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có
khả năng thực tế để cấp dưỡng cao hơn, thì phải cấp dưỡng bổ sung theo yêu cầu của người được cấp
dưỡng”. Giả định của QPPL trong quy định này là giả định phức tạp bởi nó nêu lên hai điều kiện, hoàn
cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống: một là, người được cấp dưỡng một lần lâm vào tình trạng khó khăn
trầm trọng, yêu cầu cấp dưỡng bổ sung; hai là, người đã thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có khả năng thực
tế để cấp dưỡng cao hơn. Tuy nhiên, trên thực tế, loại giả định đơn giản được quy định tương đối phổ
biến, còn loại giả định phức tạp thường ít gặp hơn.
QPPLHS cũng có thể có hai loại giả định như trên, cụ thể: Giả định của quy phạm trong Ví dụ 2 là giả
định đơn giản, còn giả định phức tạp được thể hiện trong Ví dụ 4 sau đây: khoản 1, Điều 192 của BLHS
quy định về Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý như sau: “Người nào
trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy, đã được giáo
dục nhiều lần, đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống và đã bị xử phạt hành chính về hành vi này
mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Giả định của QPPL trong quy định này là giả
định phức tạp vì nó nêu lên bốn điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra với người phạm tội là: trồng cây
thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy; đã được giáo dục nhiều
lần; đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống; đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi
phạm. Chỉ khi nào có đủ bốn điều kiện này họ mới bị coi là người phạm Tội trồng cây thuốc phiện hoặc
các loại cây khác có chứa chất ma túy. Như vậy, căn cứ vào khái niệm về bộ phận giả định của QPPL thì
tất cả các cụm từ người nào trong các quy phạm thuộc Phần các tội phạm của BLHS đều thuộc bộ phận
giả định của QPPLHS. Cụm từ người nào ở đây phải được hiểu là người đủ điều kiện chủ thể của tội
phạm (có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và có thể có thêm đặc điểm đặc biệt khác
như: quốc tịch, độ tuổi, giới tính, chức vụ quyền hạn) và cho đến hiện tại, đây vẫn chỉ là cá nhân mà
không phải là tổ chức.
Trong các QPPL được trình bày ở Phần các tội phạm của BLHS, giả định là bộ phận không thể thiếu vì
nếu thiếu nó thì không thể xác định được ai và khi nào có thể bị coi là tội phạm và có thể bị áp dụng
hình phạt.
1.2. Quy định của quy phạm pháp luật

của QPPL được trình bày trong Điều 151 của BLHS lại được trình bày trong Điều 4 của Luật Hôn nhân và
gia đình.
Sở dĩ có trường hợp đặc biệt như trên là vì luật hình sự không có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ xã hội
như các ngành luật khác mà có nhiệm vụ bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi sự xâm hại của tội phạm. Vì
vậy, các QPPL của luật hình sự thường không nêu lên quy tắc xử sự hay cách xử sự cho các chủ thể như
quy phạm của các ngành luật khác, mà chỉ xác định những hành vi bị coi là tội phạm và quy định những
hình phạt cần áp dụng đối với người phạm tội. Do đó, cơ cấu của các QPPLHS thường chỉ có hai bộ phận
là giả định và biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật - chủ yếu là biện pháp trừng phạt.
1.3. Biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật
Biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật là bộ phận của QPPL nêu lên các biện pháp tác động mà Nhà
nước dự kiến sẽ áp dụng đối với các chủ thể được nêu trong phần giả định của quy phạm khi họ có
thành tích trong học tập, công tác, lao động, phục vụ, trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ hoặc trong
việc thực hiện pháp luật (các hình thức khen thưởng); hoặc khi họ vi phạm pháp luật, không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ những nghĩa vụ pháp lý được nêu trong phần quy định của
QPPL (các biện pháp xử phạt).
Khen thưởng và xử phạt đều là các biện pháp nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh
và tự giác. Bởi vì, Nhà nước quy định các hình thức khen thưởng nhằm động viên, khuyến khích các chủ
thể tự giác, nhiệt tình thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật liên quan tới hoạt động của
mình, phấn đấu đạt được thành tích cao trong hoạt động để có thể được khen thưởng. Bên cạnh đó, Nhà
nước còn quy định các biện pháp xử phạt nhằm trừng phạt các chủ thể vi phạm pháp luật, không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình để thông qua đó giáo dục,
răn đe, phòng ngừa sự vi phạm pháp luật xảy ra trong thực tế, góp phần làm cho pháp luật được thực
hiện nghiêm minh.
Trong Ví dụ 1, bộ phận biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật bao gồm các từ “thì phải bồi hoàn học
bổng, chi phí đào tạo”. Đây là biện pháp trừng phạt được quy định nhằm làm cho những sinh viên đã tốt
nghiệp đại học vì sợ phải bồi thường học bổng, chi phí đào tạo mà chấp hành nghiêm chỉnh sự điều động
làm việc của Nhà nước.
Các biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với các chủ thể có thể là cố định, tức là chỉ
nêu lên một biện pháp tác động, ví dụ “thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo”; song cũng có thể là
không cố định - nêu lên nhiều biện pháp tác động rồi cho phép chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể

các hình thức khen thưởng và các biện pháp trừng phạt còn được quy định rải rác trong nhiều văn bản
QPPL khác; song nhìn chung, trong số các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật được quy định trong
hệ thống pháp luật thì số các biện pháp trừng phạt thường được quy định nhiều hơn. Thêm vào đó, xét
về mặt tâm lý, trong điều kiện ý thức pháp luật của nhân dân ta còn thấp như hiện nay, mọi người thực
hiện nghiêm chỉnh pháp luật chủ yếu là do sợ bị phạt chứ không phải là mong được thưởng (thực trạng ở
nước ta trong thời gian quy định bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe máy
mới có hiệu lực pháp luật đã chứng minh cho điều này). Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà quan điểm
truyền thống lại cho rằng, bộ phận thứ ba của QPPL là chế tài. Song, quan niệm như vậy là chưa đầy đủ,
vì bên cạnh chế tài thì các hình thức khen thưởng được quy định ngày càng nhiều hơn và có vai trò ngày
càng quan trọng hơn.
Riêng đối với các quy phạm trong Phần các tội phạm của BLHS, do tính chất và nhiệm vụ của mình mà
chúng không bao giờ nêu lên các hình thức khen thưởng mà chỉ nêu chế tài. Đây là loại chế tài nghiêm
khắc nhất - chế tài hình sự hay hình phạt. Tuy nhiên, trong Phần này cũng có những QPPL quy định việc
không trừng phạt hay miễn trách nhiệm hình sự cho chủ thể trong một số trường hợp nhất định, mặc dù
rất ít. Ví dụ 9: khoản 6, Điều 289 của BLHS quy định Tội đưa hối lộ như sau: “Người bị ép buộc đưa hối
lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của
đã dùng để đưa hối lộ. Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị
phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng
để đưa hối lộ”; hoặc khoản 3, Điều 314 của BLHS hiện hành quy định: “Người không tố giác nếu đã có
hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách
nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt…”.
Từ sự phân tích và những ví dụ trên, có thể thấy, bộ phận biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật của
QPPL không chỉ nêu lên các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích, các biện pháp xử
phạt đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, mà đôi khi còn nêu lên các biện pháp miễn xử phạt đối với
các chủ thể nhất định. Bởi vì đó cũng là một loại biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng
đối với các chủ thể vi phạm pháp luật trong trường hợp họ chủ động ngăn chặn hoặc giảm bớt những
hậu quả xấu xảy ra cho xã hội. Việc nêu lên các biện pháp tác động này có tác dụng khuyến khích các
chủ thể thực hiện những hành vi có lợi cho bản thân và cho xã hội, giảm bớt hoặc ngăn chặn những hậu
quả nguy hiểm cho xã hội để có thể được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước. Nói chung, loại biện
pháp tác động này thường ít được quy định hơn so với các hình thức khen thưởng và các biện pháp xử

(1) Xem Nguyễn Minh Đoan, Bàn thêm về cơ cấu QPPL, Tạp chí Luật học số 3/2000 và Một cách tiếp cận
đối với QPPL, Tạp chí Luật học số 4/2004.
(2) Xem Nguyễn Quốc Hoàn, Bàn về cơ cấu của QPPL, Tạp chí Luật học số 01/2000 và Vấn đề tiếp cận
về cơ cấu của QPPL, Tạp chí Luật học, số 02/2004.
(3) Xem Nguyễn Thị Hồi và Lê Vương Long (đồng chủ biên), Nội dung cơ bản của môn học Lý luận nhà
nước và pháp luật, Nxb. Giao thông Vận tải, Hà Nội, 2008, tr. 245-246.
(4) Xem “Nội dung cơ bản của môn học Lý luận nhà nước và pháp luật”, sđd, tr. 247.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status