vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn 0 6 tuổi - Pdf 28

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THÚY
Vai trß cña cha mÑ trong viÖc gi¸o dôc
con
Giai ®o¹n 0 - 6 tuæi
(Nghiên cứu trường hợp tại quận Gò Vấp và huyện
Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THÚY
VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC GIÁO DỤC CON
GIAI ĐOẠN 0 - 6 TUỔI
(Nghiên cứu trường hợp tại quận Gò Vấp và huyện Hóc Môn,
thành phố Hồ Chí Minh)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Mã số: 62.31.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS. TS. Lê Ngọc Văn
2. TS. Trương Xuân Trường
HÀ NỘI, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu của tôi nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả

ii
suy nghĩ, cách thức họ chăm sóc nuôi dạy con cái để từ đó tôi có được những hiểu
biết hữu ích cho nghiên cứu này.
Và tôi không thể không cảm ơn Hội quán Các bà mẹ, từ năm 2007 đã mời tôi
chia sẻ nhiều chuyên đề về thai giáo, kỹ năng làm cha mẹ. Đây là nơi giúp tôi có cơ
hội trực tiếp trò chuyện với các bậc cha mẹ, những người khao khát học cách nuôi
dạy con mình. Họ mang đến chia sẻ với tôi rất nhiều kinh nghiệm, những trăn trở,
những băn khoăn thắc mắc, từ đó giúp tôi hiểu thực tế vấn đề nuôi dạy con hiện
nay. Ngoài ra, chuyên mục “Tư vấn dành cho cha mẹ” của báo Phụ nữ Tp.HCM
trong vài năm gần đây đã giúp tôi được tâm tình cùng các cha/mẹ về việc nuôi dạy
con với bao nỗi niềm, bao khó khăn. Và còn nhiều nơi tương tự như hai nơi này đã
giúp tôi được học hỏi, được chia sẻ những vấn đề thực tế, thời sự nhất về thiên chức
làm cha mẹ.
Sau cùng, nhưng là những người mà tôi luôn thầm cảm ơn mỗi ngày, đó
chính gia đình và bạn bè đã luôn cổ vũ, thúc đẩy tôi phải cố gắng.
Trân trọng cảm ơn và tri ân tất cả!
Phạm Thị Thúy
iii
MỤC LỤC
LỜi cam đoan i
LỜi cẢm ơn ii
Danh mục các biểu đồ x
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 3
4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 4
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 4
6. Điểm mới của luận án 5
7. Những hạn chế của luận án 5

3.2. Thực trạng thực hiện vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con 72
3.2.1. Nội dung giáo dục 72
3.2.2. Phương pháp giáo dục 84
3.2.3. Phương tiện giáo dục 97
3.2.4. Tự đánh giá về bổn phận của cha mẹ trong việc nuôi dạy con 101
Tiểu kết 102
v
CHƯƠNG 4. MỘT SỐ TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC 104
THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC 104
GIÁO DỤC CON TỪ 0 ĐẾN 6 TUỔI 104
4.1. Tác nhân bên trong gia đình 104
4.2. Tác nhân bên ngoài gia đình 118
4.3. Những vấn đề đặt ra 126
Tiểu kết 134
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 136
HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHẦN PHỤ LỤC 155
Phụ lục 1: Bảng phỏng vấn hộ gia đình 155
Phụ lục 2: Hệ thống câu hỏi gợi ý phỏng vấn sâu 169
Phụ lục 3: Các bảng dùng trong luận án 170
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTQG : Chính trị quốc gia
ĐHQG : Đại học Quốc gia
GD : Giáo dục
GD-ĐT : Giáo dục đào tạo
GV : Gò Vấp
HCM : Hồ Chí Minh

tính NTL
Bảng 3.11: Những kiến thức đã dạy cho con trong độ tuổi từ 0-6 tuổi chia theo trình
độ học vấn của NTL
Bảng 3.12: Những việc đã dạy bảo/giải thích cho bé về cách tự chăm sóc sức khỏe
bản thân chia theo giới tính NTL
Bảng 3.13: Những việc làm giúp bé phát triển trong độ tuổi từ 0-6 tuổi chia theo
giới tính NTL
Bảng 3.14: Phương pháp giáo dục con
Bảng 3.15: Những cách để giáo dục con khi bé ở lứa tuổi 0-6 tuổi chia theo nhóm
tuổi NTL
Bảng 3.16: Những cách giáo dục con khi bé ở lứa tuổi 0-6 tuổi chia theo trình độ
học vấn NTL
Bảng 3.17: Những cách dạy con trong độ tuổi từ 0-6 tuổi chia theo mức sống hộ gia
đình của NTL
Bảng 3.18: Những hoạt động cha mẹ đã cho con tham gia bên ngoài nhà chia theo
giới tính NTL
viii
Bảng 3.19: Những hoạt động đã cho con tham gia bên ngoài nhà chia mức sống hộ
gia đình của NTL
Bảng 3.20: Biện pháp cư xử khi con phạm lỗi (chỉ tính những gia đình có cả con trai
và con gái)
Bảng 3.21: Hình thức xử phạt khi con sai lỗi (chỉ tính những gia đình có cả con trai
và con gái)
Bảng 3.22: Hình thức khen thưởng khi con ngoan chia theo giới tính NTL
Bảng 3.23: Người chăm sóc, dạy dỗ con nhiều nhất chia theo giới tính NTL
Bảng 3.24: Các phương tiện được bố mẹ sử dụng để hỗ trợ bé phát triển trong độ
tuổi 0-6 tuổi chia theo trình độ học vấn của NTL
Bảng 3.25: Các phương tiện đã sử dụng để hỗ trợ việc giáo dục con khi bé ở độ tuổi
từ 0 đến 6 tuổi chia theo mức sống hộ gia đình của NTL
Bảng 3.26: Tự đánh giá về bổn phận của cha mẹ trong việc dạy con khi con ở giai

của NTL (%)
Biểu đồ 4.1: Thời gian trung bình (giờ/ngày) dành chăm sóc con cái chia theo nhóm
tuổi NTL
Biểu đồ 4.2: Thời gian chăm sóc con (theo nghề nghiệp)
x
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội loài người, gia đình là nơi con người được sinh ra, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục để lớn lên trở thành những công dân hữu ích cho xã hội. Đối với trẻ
em, gia đình là một thiết chế giáo dục, là môi trường xã hội hóa đầu tiên đặt nền móng
cho sự hình thành nhân cách trẻ và có ảnh hưởng lâu dài trong suốt cuộc đời trẻ.
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà xã hội học, tâm lý học, giáo dục
học về giáo dục sớm cũng khẳng định: Nhân cách của trẻ hình thành trước tuổi lên
6. Điều này cho thấy, việc giáo dục, xã hội hóa trẻ em giai đoạn 0-6 tuổi có một tầm
quan trọng đặc biệt. Và trong giai đoạn đặc biệt này, cha mẹ chứ không phải ai khác
là người dẫn dắt trẻ, từ lúc còn là bào thai, từng bước đi vào cuộc sống. Đứa trẻ sau
này sẽ trở thành một con người như thế nào phần lớn được quyết định bởi nội dung,
phương pháp giáo dục của cha mẹ đối với con cái từ thuở ấu thơ.
Do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tại nhiều nước công
nghiệp phát triển như Nhật Bản, Thụy Điển, Na Uy … chính phủ cho phép người
mẹ hoặc người cha được nghỉ nuôi con cho đến trước tuổi đi học, tức là từ 0- 6 tuổi,
để có điều kiện chăm sóc, giáo dục con.
Ở Việt Nam, kinh nghiệm “dạy con từ thuở còn thơ” cũng được ông cha ta
đề cao. Tuy nhiên, không phải cha mẹ nào cũng nhận thức đầy đủ về vai trò giáo
dục con trong giai đoạn trẻ 0 – 6 tuổi.
Hơn nữa, sự tham gia ngày càng nhiều của phụ nữ và nam giới vào thị
trường lao động bên ngoài gia đình cùng với sự chuyển đổi các giá trị, chuẩn mực
gia đình trong điều kiện công nghiệp hóa, toàn cầu hóa đang tước đi thời gian và
làm giảm sút vai trò của cha mẹ dành cho việc chăm sóc, giáo dục con cái. Do bận
làm ăn, không ít cha mẹ đã phó mặc việc chăm sóc giáo dục con cho các tổ chức

mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn từ 0- 6 tuổi, nghiên cứu trường hợp tại quận
Gò Vấp và Huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh” cho luận án của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nhận diện việc thực hiện vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai
đoạn 0-6 tuổi, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao nhận thức
của cha mẹ và hỗ trợ cha mẹ trong việc thực hiện chức năng xã hội hóa ban đầu đối
với trẻ em.
2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài có các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
• Tổng quan vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.
• Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu vai trò của cha mẹ trong việc
giáo dục con từ 0- 6 tuổi.
• Điều tra, khảo sát thực trạng thực hiện vai trò của cha mẹ trong việc giáo
dục con 0-6 tuổi, từ nhận thức đến thực hiện vai trò.
• Phân tích, tổng hợp số liệu điều tra nhằm chỉ ra sự khác biệt giữa các nhóm
xã hội khác nhau trong việc thực hiện vai trò giáo dục con từ 0- 6 tuổi và những tác
nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con từ 0-
6 tuổi.
• Đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao nhận thức và hành vi của cha
mẹ trong việc thực hiện chức năng xã hội hóa ban đầu đối với trẻ em.
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn 0-6 tuổi.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Các bậc cha mẹ đang có con trong độ tuổi 0-6 ở quận Gò Vấp và huyện Hóc
Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: khảo sát được tiến hành vào tháng 5 và tháng 6 năm 2012

tuổi đang gặp nhiều khó khăn nên cha mẹ có nhu cầu được trang bị kỹ năng làm cha
mẹ.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
5.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận án vận dụng lý thuyết vai trò xã hội và lý thuyết xã hội hóa vào
nghiên cứu “Vai trò của cha mẹ trong việc dạy con từ 0-6 tuổi” nhằm làm rõ nhận
thức và hành vi của cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con từ 0-6 tuổi ở Việt
Nam hiện nay.
4
- Luận án góp phần bổ sung khái niệm xã hóa ban đầu đối với trẻ em giai
đoạn 0-6 tuổi, đặc biệt là giai đoạn 0 tuổi.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án góp phần bổ sung thông tin cần thiết trong nghiên cứu vai trò của
cha mẹ trong giáo dục con từ 0-6 tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và ở Việt
Nam nói chung.
- Luận án cung cấp các luận cứ khoa học, gợi ra những suy nghĩ cho việc đề
xuất giải pháp, chính sách hỗ trợ gia đình và cha mẹ trong việc thực hiện chức năng
xã hội hóa giáo dục con từ 0-6 tuổi.
- Luận án có thể sử dụng là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu giảng dạy về
xã hội học gia đình và cho những ai quan tâm đến việc giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi.
6. Điểm mới của luận án
Chủ đề giáo dục con từ 0-6 tuổi còn rất ít được đề cập đến trong các công
trình nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam. Dựa trên các lý thuyết xã hội học về vai trò
và lý thuyết xã hội hóa, luận án tiến hành khảo sát thực nghiệm làm rõ vai trò không
thể thay thế được của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn 0-6 tuổi, đặc biệt là
giai đoạn 0 tuổi. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm thay đổi nhận thức
của các nhà quản lý, các nhà giáo dục, các bậc cha mẹ về việc giáo dục trẻ giai đoạn
0-6 tuổi.
7. Những hạn chế của luận án
- Do đây là nghiên cứu được thực hiện từ nguồn kinh phí riêng rất hạn hẹp,

phong phú, bao gồm các báo cáo khoa học, sách, bài viết, luận văn của các tác giả
trong và ngoài nước. Vấn đề tác giả đề tài quan tâm được các tác giả nhìn nhận dưới
nhiều góc độ: xã hội học, tâm lý học, giáo dục học.
Trong số 155 tài liệu mà tác giả tiếp cận được gồm có: 22 bài báo khoa học,
121 công trình nghiên cứu là báo cáo, sách, luận văn (trong đó xã hội học có 50, tâm
lý học - giáo dục học có 48 và các tài liệu khác), 04 tài liệu từ Internet, 10 tài liệu
bằng tiếng Anh, (trong đó tài liệu tâm lý là 3, xã hội học 7) (xem danh mục tài liệu
tham khảo).
Phần lớn các tài liệu này viết về chức năng giáo dục, xã hội hóa của gia đình,
cách giáo dục cụ thể, các tình huống giáo dục trong gia đình Các tài liệu xã hội
học đề cập đến lý thuyết xã hội hóa, chức năng xã hội hóa của gia đình. Các tài liệu
tâm lý học nghiên cứu tâm lý trẻ em, mối quan hệ cha mẹ con và cách giáo dục cụ
thể trong gia đình.
Tác giả nhận thấy ở Việt Nam chưa có tài liệu xã hội học nghiên cứu về vai
trò của cha mẹ trong việc giáo dục con ở giai đoạn 0 đến 6 tuổi, liên quan đến giai
đoạn trẻ 0- 6 tuổi chỉ có vài công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục
học. Ngoài một số ít những nghiên cứu mang tính lý luận, đa số tài liệu còn lại là
các công trình thực nghiệm, các loại sách phổ biến kiến thức nuôi dạy con.
Nguồn tài liệu trên đây đã giúp cho người viết tổng quan hiểu được những gì
các tác giả đi trước đã làm được, những gì chưa làm được, những gì cần bổ sung
thêm. Nói cách khác, đây chính là những tiền đề không thể thiếu để tác giả triển
khai đề tài nghiên cứu của mình là “Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai
đoạn từ 0 – 6 tuổi”. Dưới đây là những nội dung chính được các tác giả đi trước
nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
1.2. Về môi trường giáo dục gia đình và giáo dục tuổi ấu thơ
Theo nhà xã hội học John.J.Macionis (1987), xã hội hóa là tiến trình kéo dài
suốt đời dựa trên sự tương tác xã hội qua đó cá nhân phát triển khả năng con người
7
của mình và học các mẫu văn hóa của xã hội. Đây là quá trình biến đổi từ con người
sinh vật sang con người xã hội. Xã hội hóa là quá trình qua đó kinh nghiệm xã hội

đình là thiết chế giáo dục cơ sở, là trung tâm đào tạo đầu tiên giúp đứa trẻ tập sự đi
vào cuộc sống. Chính gia đình chuẩn bị cho trẻ có thể phát triển đầy đủ tiềm lực của
nó và đóng vai trò hữu ích trong xã hội khi đến tuổi trưởng thành. Giai đoạn từ lúc
sinh ra đến 6 tuổi là giai đoạn mấu chốt để hình thành sự thông minh, nhân cách và
cách cư xử xã hội của trẻ. Bà cho rằng quá trình xã hội hóa diễn ra đầu tiên ở môi
trường xã hội nhỏ trong gia đình (là nơi hình thành gốc nhân cách của đứa trẻ) dần
dần mở ra cả môi trường xã hội rộng lớn: nhà trường, bạn bè, đoàn thể, nhà nước và
cộng đồng xã hội [93].
Bàn về vấn đề này, tác giả Lê Ngọc Văn (2011) khẳng định gia đình là môi
trường vi mô có vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn xã hội hóa ban đầu. Nhưng
chức năng xã hội hóa gia đình không chỉ dừng lại ở giai đoạn xã hội hóa ban đầu
(cung cấp các kinh nghiệm xã hội, nuôi nấng, chăm sóc, rèn luyện các thói quen,
các kỹ năng từ khi còn nhỏ) mà còn diễn ra suốt cả cuộc đời con người với tư cách
là quá trình liên tục. Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của trẻ. Trẻ em
được tiếp thu giá trị văn hóa để hòa nhập vào xã hội. Vai trò cha mẹ là truyền thụ
những kiến thức đó cho trẻ em [129].
Như vậy, các tác giả đề cập ở trên khi nghiên cứu về chức năng xã hội hóa
đều có sự thống nhất ở quan điểm coi gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên và
quan trọng nhất, bên cạnh đó trẻ em còn chịu ảnh hưởng của các môi trường khác
như nhà trường, bạn bè, đoàn thể, nhà nước và cộng đồng xã hội.
Các nghiên cứu nước ngoài cũng như trong nước tập trung nghiên cứu vai trò
của cha mẹ trong việc thực hiện chức năng xã hội hóa, giáo dục con khá đầy đủ và
sâu sắc. Nhưng các nghiên cứu trong nước mới đề cập đến vai trò của cha mẹ trong
việc giáo dục con cái nói chung, chứ chưa có công trình nào đề cập đến vai trò của
cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn 0 đến 6 tuổi.
Các công trình đều không nói rõ lý thuyết được sử dụng để giải thích. Qua sự
tổng hợp, tác giả nhận thấy các nghiên cứu có sự dụng lý thuyết xã hội hóa và lý
9
thuyết vai trò xã hội. Các tác giả đề cập tới chức năng xã hội hóa của gia đình diễn
ra sau khi đứa trẻ được sinh ra. Chưa có công trình nghiên cứu nào nói về quá trình

theo giới ở Ấn Độ là do “nhu cầu sinh con trai ở các gia đình Ấn Độ là một nhu
cầu quan trọng nên trẻ em gái thường không nhận được sự quan tâm nhiều của gia
đình. Trẻ em gái bị gia đình bỏ bê đến nỗi nhiều em không còn có mong muốn gì
trong cuộc sống. Khi trưởng thành, chúng có xu hướng đánh mất giá trị của mình
hoặc không còn quan tâm đến bản thân”. Không chỉ là sự phân biệt đối xử giữa con
trai và con gái, ở nhiều nước, người cha rất ít tham gia vào công việc chăm sóc và
nuôi dưỡng con cái và dồn trách nhiệm này cho người mẹ. Ở Cuba, nhiều nam giới
hầu như không cùng vợ chăm sóc và nuôi dưỡng con cái hoặc thậm chí rất ít khi
gần gũi con. Người vợ đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy con cái [7].
Ở Việt Nam, năm 2002, dự án “Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai
trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” đã có những phân tích liên quan đến thực trạng dạy con của các cha mẹ.
Trong bài phân tích về chức năng của gia đình, tác giả Lê Ngọc Văn đánh giá vai
trò của gia đình trong chức năng giáo dục - xã hội hóa trẻ em đã rất được đề cao.
Tâm lý thụ động, phó mặc việc giáo dục con cho nhà trường và các tổ chức xã hội
trong thời kỳ bao cấp đã được khắc phục. Tuy nhiên có một mâu thuẫn nảy sinh là các
bậc cha mẹ thường không đủ thời gian dành cho việc chăm sóc, giáo dục con (13,6 %
người cha và 8,8% người mẹ cho biết họ không có thời gian dạy con). Mặt khác, gia
đình cũng không có đủ những điều kiện và tri thức cần thiết đáp ứng được nhu cầu phát
triển nhân cách toàn diện của trẻ em trong xã hội hiện đại (31,2%) [129].
Tác giả Lê Thi (2011) khi phân tích số liệu từ cuộc Tổng điều tra Dân số và
nhà ở 2009 đi đến kết luận cha mẹ hiện nay đã có những cách ứng xử phù hợp dựa
trên việc giảng giải khi con mắc lỗi (97,7% với con trai, 98% với con gái). Tuy
nhiên khó khăn chính của cha mẹ hiện nay vẫn tiếp tục là thiếu thời gian chăm sóc
con do áp lực kiếm sống. Tác giả cho rằng mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau giữa cha
mẹ và con cái đang là xu hướng của nhiều gia đình hiện nay [96].
Kết quả phân tích ở trên cho thấy, dù có sự tương đồng trong quan niệm về
tầm quan trọng của cha và mẹ trong việc giáo dục con cái, nhất là khi con cái ở lứa
11
tuổi 0-6 tuổi, song các vai trò này vẫn có sự khác biệt rất nhiều giữa các nền văn

Nhà tâm lý học người Anh là John Bowlby (1907 – 1990) đã có những
nghiên cứu về sự gắn bó giữa mẹ và con, về nhu cầu và khao khát được yêu thương
của trẻ. Ông khẳng định rằng tình cảm, sự chăm sóc gần gũi của người mẹ tạo cảm
giác an tâm giúp trẻ phát triển. Ngược lại những đứa trẻ sống trong môi trường
thiếu tình cảm yêu thương, bị tách rời khỏi mẹ sẽ sống trong cảm giác lo âu, dễ rơi
vào trầm cảm và dễ mắc một số chứng bệnh tâm lý.
Donald Winnicott (1969), nhà phân tâm học người Anh, một bác sĩ nhi khoa
kiêm chuyên gia tâm lý nổi tiếng đã nghiên cứu về tương tác sớm mẹ con và những
ảnh hưởng của mối quan hệ này đến đời sống tâm lý của đứa trẻ. Những xung đột
tâm lý mà sản phụ gặp phải trong suốt thai kỳ, sinh nở và sau khi sinh là nguồn gốc
của những rối nhiễu tâm lý xuất hiện sớm ở trẻ và có thể gây khó khăn trong giai
đoạn dậy thì của trẻ.
Trong công trình nghiên cứu về mối quan hệ mẹ con, Winnicott cho rằng đứa
trẻ từ lúc mới sinh ra đã cần đến sự chăm sóc nhẹ nhàng và tình cảm trìu mến của
người mẹ. Dù không hiểu được lời nói của mẹ nhưng trẻ vẫn cảm nhận được tình
yêu thương thông qua ánh mắt, lời nói, cử chỉ quan tâm sâu sắc của người mẹ. Ông
đã có những nghiên cứu đối với những đứa con của các bà mẹ bận rộn. Khi người
mẹ bị áp lực bởi công việc quá nhiều, khi chăm sóc con với với thái độ vội vã, thiếu
ân cần để tranh thủ lo việc khác thì đứa trẻ sẽ phản ứng bằng cách từ chối ăn, nôn
ói, bứt rứt, khóc đêm … Có những trẻ không biểu hiện ngay tức thì thái độ này
nhưng cảm xúc khó chịu sẽ dồn nén và trẻ sẽ bộc lộ vào một thời điểm khác bằng
một số hành vi bướng bỉnh. Ông cho rằng người mẹ đóng vai trò gương soi đối với
trẻ, trẻ luôn tìm cách đáp trả lại những tín hiệu giao tiếp của mẹ. Trẻ nhìn vào ánh
mắt mẹ trìu mến dành cho mình và phản ứng lại bằng sự thoải mái, dễ chịu. Trẻ
cười khi nhìn thấy nét mặt tươi cười của mẹ, trẻ cũng cảm nhận nỗi buồn khi mẹ
buồn bã … Và trẻ có thể có những phản ứng đáp trả khác như ngọ nguậy tay chân,
vùng vẫy, khóc lóc… Ông kết luận rằng, người mẹ có thể truyền tải trạng thái tinh
thần, tình cảm đến với con không chỉ bằng thị giác mà bằng tất cả các giác quan
khác như thính giác, khứu giác… và bằng chính tâm lý, trạng thái tinh thần của
người mẹ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status