BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Họ và tên sinh viên : Bùi Thị Ngân
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN MB ( MBS).
Chuyên ngành : Kinh doanh chứng khoán
Mã số : 17
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS.CAO MINH TIẾN.
HÀ NỘI – 2014
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Họ và tên sinh viên: Bùi Thị Ngân
Lớp: CQ48/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN MB ( MBS).
Chuyên ngành : Kinh doanh chứng khoán.
Mã số : 17.
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS. CAO MINH TIẾN
HÀ NỘI – 2014
Luận văn tốt nghiệp 3 Học viện tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế
của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
1.2. Hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán.
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 5 Học viện tài chính
1.2.1. Khái niệm tư vấn.
1.2.2. Khái niệm hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán.
1.2.3. Phân loại hoạt động tư vấn.
1.2.4. Nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn.
1.2.5. Nội dung hoạt động tư vấn.
1.2.5.1. Tư vấn tài chính doanh nghiệp ( tư vấn cho người phát hành).
1.2.5.2. Tư vấn đầu tư chứng khoán.
1.3. Hiệu quả hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán.
1.3.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động tư vấn.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tư vấn.
1.3.2.1. Doanh thu hoạt động tư vấn.
1.3.2.2. Tỷ trọng doanh thu hoạt động tư vấn trong tổng doanh thu.
1.3.2.3. Lợi nhuận hoạt động tư vấn.
1.3.2.4. Tỷ trọng lợi nhuận hoạt động tư vấn trong tổng lợi nhuận.
1.3.2.5. Thị phần hoạt động tư vấn.
1.3.2.6. Quy trình hoạt động tư vấn.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tư vấn của CTCK.
1.3.3.1.Nhân tố chủ quan.
1.3.3.2. Nhân tố khách quan.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
TƯ VẤN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN MB TRONG NHỮNG NĂM
QUA.
2.1. Khái quát về công ty cổ phần chứng khoán MB.
2.1.1. Giới thiệu về công ty.
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban.
2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức.
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI PHẢN BIỆN
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 7 Học viện tài chính
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 8 Học viện tài chính
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
BLĐ Ban lãnh đạo
CTCK Công ty chứng khoán
CVTV Chuyên viên tư vấn
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
TPTV Trưởng phòng tư vấn
TTCK Thị trường chứng khoán
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
Luận văn tốt nghiệp 9 Học viện tài chính
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 10 Học viện tài chính
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 11 Học viện tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Thị trường chứng khoán nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam
nói riêng luôn luôn đặt ra câu hỏi: “ Làm thế nào để thu hút được nhà đầu tư,
tạo điều kiện cho họ tham gia thị trường và đặc biệt là làm sao giữ được họ
lâu dài”. Đây là một câu hỏi rất khó mà mọi chủ thể tham gia thị trường
công ty chứng khoán.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Đề tài này được thực hiện với mục đích nghiên cứu lý luận hoạt động tư
vấn chứng khoán tại công ty chứng khoán nói chung và nghiên cứu thực trạng
hoạt động này đang diễn ra, phương hướng kinh doanh tại MBS nói riêng để
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hoạt động này tại công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả hoạt động tư vấn của công ty cổ phần
chứng khoán MB.
Phạm vi nghiên cứu là kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần
chứng khoán MB trong 4 năm 2010, 2011, 2012, 2013.
4. Kết cấu của đề tài.
Đề tài được chia thành 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về công ty chứng khoán và hiệu quả hoạt động
tư vấn của công ty chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tư vấn và hiệu quả hoạt động tư vấn tai
công ty cổ phần chứng khoán MB trong những năm qua.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn tại MBS.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ( CTCK).
1.1. Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán.
1.1.1. Khái niệm và mô hình tổ chức của CTCK.
1.1.1.1. Khái niệm CTCK.
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 13 Học viện tài chính
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của
nền kinh tế hiện đại. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán trên
thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đang phát triển theo quy luật
này. Cho đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua gần 14 năm
trong lịch sử phát triển của mình, 14 năm làm quen với hoạt động của thị
- Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam.
- Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam.
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam.
- Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Viêt Nam.
1.1.1.2. Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán.
Hiện nay trên thế giới tồn tại hai mô hình tổ chức của công ty chứng
khoán là mô hình công ty chứng khoán đa năng và mô hình công ty chứng
khoán chuyên doanh.
Mô hình công ty chứng khoán đa năng.
Theo mô hình công ty đa năng, công ty chứng khoán là một bộ phận cấu thành
của ngân hàng thương mại.Mô hình này được biểu hiện dưới hai hình thức:
- Đa năng một phần:
Theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh
doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động
tách rời với kinh doanh tiền tệ.
- Đa năng hoàn toàn:
Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh
bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác.
Ưu điểm của mô hình này là:
- Các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi
ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hóa đầu tư.
- Tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị
trường tài chính. Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình
là kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về
khách hàng cũng như các doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín
dụng và tài trợ dự án.
Hạn chế của mô hình này:
- Vừa là tổ chức tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán, do đó khả
năng chuyên môn không sâu như các công ty chứng khoán chuyên doanh.
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
vốn của các thành viên, vào các khoản vay của ngân hàng hoặc thỏa thuận cho
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 16 Học viện tài chính
thuê khác. Việc huy động vốn và cơ cấu vốn của các chủ thể kinh doanh
chứng khoán có một số đặc điểm sau:
+ Tổ chức kinh doanh chứng khoán phụ thuộc nhiều vào các khoản vay ngắn hạn.
+ Chứng khoán có thể mua bán trao đổi trên thị trường thường chiếm phần lớn
trong tổng giá trị tài sản ( khoảng 40 – 60%) và tổng giá trị cổ phiếu ( khoảng
90%).
+ Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản ròng phải duy trì ở mức độ nhất định.
- Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: Các nguyên tắc này khác nhau tùy theo
đặc điểm của từng nghiệp vụ mà các tổ chức kinh doanh chứng khoán thực
hiện. Các nguyên tắc về sử dụng vốn mà pháp luật đặt ra đối với các tổ chức
kinh doanh chứng khoán thường bao gồm: cơ cấu vốn ( tỷ lệ nợ so với vốn
chủ sở hữu), mức vốn khả dụng phải duy trì, trích lập quỹ bù đắp rủi ro, quỹ
dự trữ bổ sung vốn điều lệ,…
1.1.2.2. Nguyên tắc đạo đức.
Các chủ thể kinh doanh chứng khoán phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức sau:
- Tổ chức kinh doanh chứng khoán phải hoạt động trên nguyên tắc trung thực,
tận tụy, bảo vệ và vì quyền lợi, lợi ích hợp pháp của khách hàng, ưu tiên bảo
vệ lợi ích của khách hàng trước lợi ích của chính mình.
- Tổ chức kinh doanh chứng khoán có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng và chỉ
được tiết lộ thông tin của khách hàng trong trường hợp cơ quan nhà nước có
thẩm quyền yêu cầu.
- Tổ chức kinh doanh chứng khoán phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng,
không được sử dụng bất kỳ hành động lừa đảo phi pháp nào, có trách nhiệm
thông báo cho khách hàng biết đầy đủ các thông tin khi có những trường hợp
có thể xảy ra xung đột lợi ích .
- Tổ chức kinh doanh chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng làm
nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ
khoán nên bất kỳ một biến động nào của thị trường chứng khoán nói riêng và
thị trường tài chính nói chung đều tác động sâu sắc đến chuyên môn, sản
phẩm, dịch vụ và doanh thu của công ty chứng khoán.
- Thị trường tài chính, thị trường chứng khoán càng phát triển càng tạo ra nhiều
công cụ tài chính, có thêm nhiều dịch vụ, mở rộng phạm vi kinh doanh, tạo cơ
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 18 Học viện tài chính
hội thu lợi nhuận cho công ty chứng khoán. Mặt khác, công ty chứng khoán
không ngừng cải tiến, không ngừng sáng tạo để thích nghi môi trường hoạt
động.
• Về cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán.
Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phụ thuộc vào quy mô kinh
doanh và các nghiệp vụ mà công ty được phép hoạt động. Theo thông lệ quốc
tế, cơ cấu tổ chức của một công ty chứng khoán chia thành hai khối chủ yếu:
khối nghiệp vụ và khối phụ trợ.
Khối nghiệp vụ:
Khối này thực hiện các giao dịch chứng khoán và tạo ra phần lợi nhuận
chủ yếu cho công ty. Khối này gồm có các phòng ban:
+ Phòng tự doanh.
+ Phòng môi giới.
+ Phòng bảo lãnh phát hành.
+ Phòng tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán.
+ Phòng ký quỹ.
Khối phụ trợ:
Khối này không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh mà có chức
năng phụ trợ cho các nghiệp vụ này. Khối này gồm các phòng ban:
+ Phòng nghiên cứu và phát triển.
+ Phòng phân tích và thông tin thị trường.
+ Phòng kế hoạch công ty.
+ Phòng phát triển sản phẩm mới.
một tổ chức độc lập, bằng chính nguồn vốn của công ty, chứ không phải bằng
tài khoản của khách hàng.
Tuy nhiên đây là một hoạt động khó khăn và phức tạp, hoạt động này có
thể mang lại cho CTCK những khoản lợi nhuận lớn nhưng cũng có thể gây ra
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 20 Học viện tài chính
những tổn thất không nhỏ. Để thực hiện nghiệp vụ này thành công, ngoài đội
ngũ nhân viên phân tích thị trường có nghiệp vụ giỏi và nhanh nhạy với
những biến động của thị trường, CTCK còn phải có một chế độ phân cấp
quản lý và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý, trong đó việc xây dựng chế
độ phân cấp quản lý và ra quyết định đầu tư là một trong những vấn đề then
chốt, quyết định sự sống còn của CTCK.
Nghiệp vụ tự doanh của CTCK có thể chia thành 2 lĩnh vực:
Thứ nhất: Các CTCK thực hiện việc mua, bán chứng khoán niêm yết cho
chính công ty mình. Do CTCK với lợi thế về nghiệp vụ có thể dự đoán trước
diễn biến của thị trường nên để đảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong
quá trình giao dịch chứng khoán, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh giao dịch
của khách hàng trước lệnh tự doanh của công ty.
Thứ hai: Các CTCK thực hiện hoạt động tự doanh bằng hình thức mua
chứng khoán chưa niêm yết trên thị trường OTC. Tuy nhiên hoạt động này
phải tuân thủ những hạn mức do pháp luật quy định.
Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động
quan trọng nhất của các CTCK tại Việt Nam trong việc nâng cao lợi nhuận.
Tuy nhiên, do nghiệp vụ tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi ích
nên các nước thường quy định các CTCK phải tổ chức thực hiện hai nghiệp
vụ ở hai bộ phận riêng biệt nếu CTCK đó thực hiện cả hai nghiệp vụ.
1.1.4.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức
phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua
một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua
phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác
liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng. CTCK sẽ
nhận được phí hoa hồng cho công việc tư vấn của mình.
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 22 Học viện tài chính
• Tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư là những hoạt động tư vấn về giá trị của chứng khoán nhằm
mục đích thu phí.
Nguyên tắc của hoạt động tư vấn đầu tư
* Không bảo đảm chắc chắn về giá trị của chứng khoán.
* Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình có thể là không
hoàn toàn chính xác và khách hàng cần biết rằng nhà tư vấn không chịu trách
nhiệm về những lời khuyên đó.
* Không được dụ dỗ,mời gọi khách hàng mua một loại chứng khoán nào
đó,những lời tư vấn phải xuất phát từ cơ sở khách quan là sự phân tích tổng
hợp một cách logic, khoa học.
• Tư vấn tài chính doanh nghiệp.
Tư vấn tài chính doanh nghiệp là hoạt động trong đó công ty chứng khoán
đóng vai trò như một tổ chức chuyên nghiệp giúp các doanh nghiệp huy động
vốn thuận lợi nhất, đồng thời tư vấn cho họ phương thức quản lý tài chính
một cách hiệu quả nhất.
Tư vấn tài chính doanh nghiệp bao gồm các nghiệp vụ cơ bản sau:
- Tư vấn niêm yết.
- Tư vấn cổ phần hóa.
- Tư vấn mua bán sáp nhập doanh nghiệp ( M&A).
Đối với các loại hình tư vấn khác, ví dụ như tư vấn pháp luật thì tính
chính xác của lời khuyên là cần thiết và có khả năng diễn ra đúng trên thực tế.
Tuy nhiên, đối với hoạt động tư vấn chứng khoán, do đặc điểm riêng trong
ngành là giá cả thường luôn biến động nên việc tư vấn về giá trị chứng khoán
rất khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về lợi ích. Đặc biệt là
vay tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng.
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01
Luận văn tốt nghiệp 24 Học viện tài chính
• Cho vay bảo chứng: Là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để
mua chứng khoán, sau đó dùng số chứng khoán mua được từ tiền vay để làm
tài sản cầm cố cho khoản vay.
• Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: là việc CTCK ứng trước tiền bán
chứng khoán cho khách hàng ngay sau khi lệnh bán chứng khoán của khách
hàng được thực hiện tại SGDCK hoặc TTGDCK.
Ngoài các nghiệp vụ kể trên, công ty chứng khoán còn có thể thực hiện
một số hoạt động khác như: cho vay chứng khoán, quản lý số cổ đông…
1.1.5. Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán.
1.1.5.1. Chức năng của công ty chứng khoán.
Trên thị trường chứng khoán, CTCK có 3 chức năng cơ bản sau:
• Tạo cơ chế huy động vốn bằng cách làm cầu nối gặp gỡ giữa những người có
tiền nhàn rỗi với những người cần vốn.
• Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch.
• Tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán.
1.1.5.2. Vai trò của công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công
ty chứng khoán mà thị trường hoạt động liên tục, hàng hóa của thị trường (cổ
phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh,…) được lưu thông buôn bán trao đổi
từ nhà phát hành tới các nhà đầu tư. Theo cơ chế này mà lượng vốn khổng lồ
đã được huy động từ nguồn nhàn rỗi của công chúng để đem đầu tư sinh lời .
Đối với mỗi chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, vai trò của các CTCK
cũng được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau
• Đối với các tổ chức phát hành.
Các tổ chức phát hành khi tham gia vào thị trường chứng khoán đều với
mục đích là huy động vốn từ việc phát hành chứng khoán. Công ty chứng
thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh. Nhà đầu tư hoàn toàn có thể chủ
động đặt giá một cách khách quan. Với các nguồn thông tin có được về thị
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01