Nghiên cứu bệnh nấm hại một số cây rau họ bầu bí (cucurbitaceae) tại hà nội và vùng phụ cận năm 2013 - 2014 - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
************************* PHẠM LÊ HÀ NGHIÊN CỨU BỆNH NẤM HẠI MỘT SỐ CÂY RAU
HỌ BẦU BÍ (CUCURBITACEAE) TẠI HÀ NỘI
VÀ VÙNG PHỤ CẬN NĂM 2013 - 2014

CHUYÊN NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ : 60.62.01.12 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS. TS ĐỖ TẤN DŨNG
HÀ NỘI – 2014


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS. Đỗ Tấn Dũng - Bộ
môn Bệnh cây - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam người đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Nông học - Học
viện Nông nghiệp Việt Nam.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè và đồng
nghiệp đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn

Phạm Lê Hà

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi

3.6 Xử lý số liệu 29
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Điều tra thành phần bệnh nấm hại một số cây rau họ bầu bí tại Hà
Nội năm 2013 - 2014 30
4.1.1 Bệnh phấn trắng hại dưa chuột, bí đỏ 32
4.1.2 Bệnh giả sương mai hại dưa chuột 33
4.1.3 Bệnh thán thư hại dưa chuột, bí đỏ 35
4.1.4 Bệnh đốm vòng hại mướp đắng, bí đỏ 36
4.1.5 Bệnh đốm lá hại mướp đắng 38
4.1.6 Bệnh lở cổ rễ hại dưa chuột 38
4.2 Điều tra diễn biến một số bệnh nấm hại cây rau họ bầu bí tại Hà
Nội và vùng phụ cận vụ xuân hè năm 2014 39
4.2.1 Điều tra diễn biến bệnh giả sương mai Pseudoperonospora
cubensis hại cây dưa chuột tại xã Văn Đức, Gia Lâm vụ xuân hè
năm 2014 39
4.2.2 Điều tra diễn biến bệnh giả sương mai Pseudoperonospora
cubensis hại dưa chuột tại xã Nam Hồng, Đông Anh vụ xuân hè
năm 2014 41
4.2.3 Điều tra diễn biến bệnh phấn trắng Erysiphe cichoracearum hại dưa
chuột tại xã Văn Đức, Gia Lâm vụ xuân hè năm 2014 43
4.2.4 Điều tra diễn biến bệnh phấn trắng Erysiphe cichoracearum hại dưa
chuột tại xã Nam Hồng, Đông Anh vụ xuân hè năm 2014 45
4.2.5 Điều tra diễn biến bệnh đốm lá Cercospora citrullina hại mướp
đắng tại xã Văn Đức, Gia Lâm vụ xuân hè năm 2014 46
4.2.6 Điều tra diễn biến bệnh đốm lá Cercospora citrullina hại mướp
đắng tại xã Vân Côn, Hoài Đức năm 2014 48
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

4.2.7 Điều tra diễn biến bệnh thán thư Colletotrichum lagenarium và

E. cichoracearum: Erysiphe cichoracearum
P. cichoracearum: Pseudoperonospora cubensis
C. lagenarium : Colletotrichum lagenarium
C. citrullina: Cercospora citrullina
R. solani: Rhizoctonia solani
A. alternata: Alternaria alternata Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

4.1 Thành phần bệnh nấm hại một số cây rau bầu bí tại Hà Nội vụ hè
thu và thu đông năm 2013 30
4.2 Thành phần bệnh nấm hại một số cây rau bầu bí tại Hà Nội vụ xuân
hè năm 2014 31
4.3 Diễn biến bệnh giả sương mai Pseudoperonospora cubensis hại cây
dưa chuột tại xã Văn Đức, Gia Lâm vụ xuân hè năm 2014 40
4.4 Diễn biến bệnh giả sương mai Pseudoperonospora cubensis hại dưa
chuột tại xã Nam Hồng, Đông Anh vụ xuân hè năm 2014 41
4.5 Diễn biến bệnh phấn trắng Erysiphe cichoracearum hại dưa chuột
tại xã Văn Đức, Gia Lâm vụ xuân hè năm 2014 44
4.6 Diễn biến bệnh phấn trắng Erysiphe cichoracearum hại dưa chuột
tại xã Nam Hồng, Đông Anh vụ xuân hè năm 2014 45
4.7 Diễn biến bệnh đốm lá Cercospora citrullina hại mướp đắng tại xã
Văn Đức, Gia Lâm vụ xuân hè năm 2014 47
4.8 Diễn biến bệnh đốm lá Cercospora citrullina hại mướp đắng tại xã

4. 1 Triệu chứng bệnh phấn trắng Erysiphe cichoracearum hại dưa chuột 32
4.2 Triệu chứng bệnh phấn trắng Erysiphe cichoracearum hại bí đỏ 32
4.3 Bào tử nấm phấn trắng Erysiphe cichoracearum 33
4.4 Triệu chứng bệnh giả sương mai Pseudoperonospora cubensis trên
lá của cây dưa chuột 34
4.5 Cành bào tử phân sinh và bào tử phân sinh nấm Pseudoperospora
cubensis 34
4.6 Triệu chứng bệnh thán thư Colletotrichum lagenarium trên cây bí đỏ 35
4.7 Đĩa cành nấm Collectotrichum lagenarium 36
4.8 Triệu chứng bệnh đốm vòng Alternaria alternata trên cây mướp đắng 37
4.9 Bào tử phân sinh nấm Alternaria alternata 37
4.10 Triệu chứng bệnh đốm lá Cercospora citrullina hại mướp đắng 38
4.11 Cành bào tử phân sinh và bào tử phân sinh nấm Cercospora citrullina 38
4.12 Triệu chứng bệnh lở cổ rễ 39
4.13 Sợi nấm Rhizoctonia solani 39
4.14 Đặc điểm tản nấm Alternaria alternata trên môi trường PGA 54
4.15 Đặc điểm tản nấm Alternaria alternata trên môi trường PCA 54
4.16 Triệu chứng lây nhiễm nấm Erysiphe cichoracearum trên lá dưa chuột 56
4.17 Lây nhiễm nấm Erysiphe cichoracearum trên lá bí đỏ có sát thương 58
4.18 Lây nhiễm nấm Erysiphe cichoracearum trên lá bí đỏ không sát thương 58
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page x

DANH MỤC ĐỒ THỊ

STT Tên đồ thị Trang


1. MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Rau xanh là cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng, kinh tế cao và không thể
thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người. Diện tích trồng rau ở nước ta đã
không ngừng tăng lên trong những năm gần đây. Năm 1997, diện tích trồng rau ở
nước ta là 297,3 nghìn ha, năm 2000 là 340 nghìn ha, đến năm 2004 diện tích
trồng rau đã lên tới 614,5 nghìn ha, chiếm xấp xỉ 7% đất sản xuất nông nghiệp và
10% đất trồng cây hàng năm (Trần Khắc Thi, 2005).
Trong các loại rau được gieo trồng, cây rau họ bầu bí được trồng phổ biến
ở các địa phương trên cả nước với diện tích lớn như: dưa chuột, bí xanh, bí đỏ,
mướp, mướp đắng Ngoài việc tác dụng làm thực phẩm thì cây họ bầu bí còn
có tác dụng làm thuốc. Đây cũng là một trong những mặt hàng xuất khẩu của
nhiều nước trên thế giới.
Canh tác cây rau họ bầu bí cũng như các cây rau khác ở Việt Nam gặp
phải rất nhiều vấn đề ảnh hưởng tới năng suất và phẩm chất. Do cây rau họ bầu
bí thích hợp trong điều kiện thời tiết nóng ẩm nhưng điều kiện này cũng thuận lợi
cho các loại sâu bệnh phát triển. Một số bệnh hại như phấn trắng, giả sương mai,
đốm lá, khảm lá gây hại nặng ở tất cả các vùng trồng cây rau họ bầu bí, làm
giảm năng suất, thậm chí gây thất thu. Việc phòng chống bệnh hại cây họ bầu bí
hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều biện pháp phòng chống đã được đưa ra,
nhưng cho đến nay biện pháp hóa học vẫn là chủ yếu.
Từ nhiều năm qua, các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đã nghiên
cứu khá kỹ một số bệnh do nấm hại trên một vài cây rau họ bầu bí, tuy nhiên lại
thiếu những nghiên cứu tổng hợp, đầy đủ các bệnh nấm hại các cây rau họ bầu bí.
Xuất phát từ thực tế sản xuất, được sự phân công của Khoa Nông học, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Tấn Dũng chúng tôi
tiến hành đề tài: “Nghiên cứu bệnh nấm hại một số cây rau họ bầu bí
(Cucurbitaceae) tại Hà Nội và vùng phụ cận năm 2013 - 2014”
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

chuột (Cucumis sativus), bí đỏ (Cucurbita pepo, Cucurbita mixta, Cucurbita
maxima, Cucurbita moschata), bí đao (Benincasa hispida), dưa hấu (Citrullus
lanatus), mướp hương (Luffa aegyptiaca), mướp đắng (Momordica charantia)…
Phần lớn cây trong họ bầu bí đều có dạng thân leo, sống 1 năm (Wikipedia, 2013).
Cây dưa chuột (Cucumis sativus) có nguồn gốc ở Ấn Độ và đã được người
Ấn Độ trồng để sử dụng làm thực phẩm từ cách đây khoảng 3000 năm. Từ Ấn
Độ dưa chuột được đưa đến Hy Lạp và Italia và nó nhanh chóng trở thành cây
trồng chủ lực trong nền nông nghiệp của đế chế La Mã. Từ Rome dưa chuột
được lan truyền sang Trung Quốc và phía nam nước Nga sau đó được đưa ra
khắp thế giới bởi chủ nghĩa thực dân và thương mại bản địa (Wikipedia, 2013).
Theo thống kê của FAO (2013) diện tích trồng dưa chuột trên toàn thế
giới đạt 2,1 triệu ha với sản lượng khoảng 65,3 triệu tấn. Năng suất trung bình
cũng tăng liên tục qua các năm, nếu như năng suất trung bình năm 2000 chỉ là 17
tấn/ha thì đến năm 2011 năng suất trung bình của dưa chuột trên thế giới đã đạt
31,3 tấn/ha.
Cây bí đao (Benincasa hispida) là cây rau trong họ bầu bí được trồng làm
thực phẩm sớm nhất. Có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng cây bí đao được
trồng ở Florida khoảng 10.000 năm trước công nguyên, ở nam Mexico khoảng
7000 năm trước công nguyên và cũng lan truyền ra khắp thế giới bằng con đường
thương mại (Kuntal Ghosh et al., 2011). Ngoài tác dụng làm thực phẩm thì bí đao
cũng được dùng như là một vị thuốc trong Đông y. Bí đao có tác dụng kiện tỳ,
ích khí, tiêu thủy. Trường kỳ ăn bí đao có thể tiêu trừ nước thừa trong cơ thể,
giảm cân, chống béo phì. Bí đao thích hợp cho người bị khí hư tỳ yếu, béo bệu,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

phù thũng cục bộ hoặc toàn thân. Bí đao được ghi trong các phương thuốc bí
truyền làm đẹp của các mỹ nhân, cung phi, ngoài ra bí đao có tác dụng giải khát,
thanh tâm hư nhiệt phiền, tiêu úng thủy trướng và lợi thủy (Minh Phúc, 2012).
Cây dưa hấu (Citrullus lanatus) hoang dã phân bố rộng rãi ở châu Phi và

thảo, họ đậu và họ cà là những cây trồng quan trọng nhất trong sản xuất nông
nghiệp tại Việt Nam. Các cây rau họ bầu bí được trồng phổ biến ở Việt Nam là:
dưa chuột, dưa hấu, mướp hương, mướp đắng, bí ngô, bí xanh…
Dưa chuột là cây rau trong họ bầu bí được trồng với diện tích lớn nhất tại
Việt Nam. Năm 2009 diện tích trồng dưa chuột ở nước ta đạt 31.570 ha với năng
suất trung bình khoảng 182,8 tạ/ha, cao hơn so với năng suất trung bình của toàn
thế giới (Tổng cục thống kê, 2010). Dưa chuột được trồng ở tất cả các tỉnh phía
Bắc và phía Nam, nhưng diện tích dưa chuột được trồng tập trung với diện tích
lớn ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Các vùng
trồng dưa chuột tập trung như ở Vĩnh Phúc, Hưng Yên và Hà Nam đạt năng suất
trên 230 tạ/ha cao hơn nhiều so với trung bình cả nước. Hiện nay, ở các vùng
trồng dưa chuột chỉ một phần diện tích được trồng bằng các giống dưa địa
phương, còn lại hầu hết sử dụng các giống dưa chuột lai F
1
được nhập nội, tuy có
năng suất cao hơn nhưng khả năng kháng các loài dịch hại lại kém hơn so với các
giống địa phương.
Diện tích trồng dưa hấu ở Việt Nam tăng khá nhanh qua các năm, nếu như
năm 2000 diện tích canh tác dưa hấu chỉ là 19.000 ha thì đến năm 2011 diện tích
canh tác dưa hấu tại Việt Nam đã đạt 31.000 ha (FAO 2011), năng suất trung
bình cũng tăng từ 10,5 tấn/ha năm 2000 tới 15,4 tấn/ha năm 2011 tuy nhiên năng
suất này cũng chỉ bằng 50% của năng suất trung bình của toàn thế giới.
Diện tích trồng mướp đắng ở Việt Nam theo AVRDC (năm 2007) là
khoảng 12.000 ha. Một số địa phương đang tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng
từ trồng lúa sang trồng mướp đắng tại những vùng khô hạn không chủ động được
nguồn nước. Một số xã như: Sơn A, Thạch Lương, huyện Văn Chấn (Yên Bái)
nhờ chuyển đổi từ trồng lúa sang mướp đắng đã góp phần cải thiện đáng kể thu
nhập của nông dân. Nếu chăm sóc tốt, phòng trừ sâu bệnh kịp thời thì 1 ha mướp
đắng có thể cho thu nhập tới 80 triệu đồng (Nguyễn Viết Tôn, 2008).
Hiện nay, ở tỉnh Tiền Giang nông dân đang phát triển mô hình trồng

màu đen, đường kính khoảng 80 - 160 µm. Bên trong các quả thể chứa 5 - 25 túi,
mỗi túi chứa 2 bào tử túi đơn bào, hình trứng, kích thước khoảng 8 - 30 × 11 - 20
µm (Braun. U, 1987).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Nấm Erysiphe cichoracearum là nấm ký sinh chuyên tính, nấm hình thành
các vòi hút xâm nhập vào tế bào biểu bì của cây để hấp thu chất dinh dưỡng. Bào
tử túi nảy mầm ở nhiệt độ 4° - 34°C, nhiệt độ tối thích 10° - 18°C. Ống mầm được
hình thành sau khi nảy mầm khoảng 2 giờ (Koike. S. T and Saenz. G. S, 1996).
Bào tử phân sinh nấm Erysiphe cichoracearum được hình thành cả ở trong
điều kiện thiếu ánh sáng. Bào tử phân sinh nảy mầm ở nhiệt độ 7º - 32°C, nhiệt độ
tối thích 23° - 25°C, độ ẩm từ 60% - 80%. Bào tử phân sinh nấm Erysiphe
cichoracearum có thể tồn tại ở nhiệt độ -3ºC (Wankhade. S. V and Peshney.
N. L, 1992).
Nấm Erysiphe cichoracearum có thể phát tán nhờ gió, tàn dư thực vật và tồn
tại trong đất. Các bào tử túi của nấm Erysiphe cichoracearum rất hiếm khi có mặt
trong tự nhiên do đó ít có vai trò trong việc phát tán bệnh (Ivancia et al., 1992).
Để phòng trừ bệnh phấn trắng do nấm Erysiphe cichoracearum hại cây
rau họ bầu bí có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Biện pháp cơ giới: loại
bảo tàn dư cây bệnh, vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, luân canh cây trồng, bón phân
cân đối đặc biệt không bón thừa đạm (Ivancia et al., 1992). Biện pháp hóa học: có
thể sử dụng các loại thuốc Flutriafol và carbendazim (Meeus and Wittouck, 1999),
Flutriafol + carbendazim và benalaxyl + mancozeb (Vulsteke et al., 1996). Biện
pháp sinh học: có thể sử dụng một số loại nấm đối kháng như Macroilleis hauseri
(Wu XB and Guo XL, 1987) và Ampelomyces quisqualis (Rankovic B, 1997).
2.2.1.2. Tình hình nghiên cứu bệnh giả sương mai
Bệnh giả sương mai trên cây bầu bí được Berkeley và Curtis phát hiện và
nghiên cứu đầu tiên ở Cuba vào năm 1868 (Berkeley MS and Curtis A, 1868). Tác
nhận gây bệnh là nấm Pseudoperonospora cubensis (Berk. & M.A. Curtis)

của 465 mẫu nấm Pseudoperonospora cubensis được thu thập từ 5 ký chủ phổ
biến của 13 quốc gia thuộc 3 châu lục trên thế giới. Quesada-Ocampo. L. M sử
dụng 6 clusters nhằm kiểm tra sự đa dạng cũng như phân bố của các chủng thu
thập được. Kết quả phân tích cho thấy các chủng nấm phân lập từ dưa chuột có
mức độ đa dạng di truyền thấp hơn so với các chủng nấm phân lập từ các cây họ
bầu bí khác. Kết quả của nghiên cứu này có thể ứng dụng để xây dựng các công
cụ chuẩn đoán, phát triển các loại thuốc BVTV mới cũng như ứng dụng trong sử
dụng và chọn tạo giống kháng.
Salati. M et al. (2008) đã công bố những nghiên cứu về bệnh sương mai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

trên cây mướp khía tại Malaysia. Tác giả đã mô tả triệu chứng bệnh: xuất hiện
vết đốm màu vàng sáng. Kích thước của bào tử: dài 19 µm - 36 µm, chiều rộng
11µm - 23µm, cành bảo tử phân sinh dài 310 µm - 450 µm. Salati. M sử dụng kỹ
thuật PCR với cặp mồi ITS5-P2 và ITS4 để kiểm tra tác nhân gây bệnh, kết quả
100% mẫu kiểm tra là nấm Pseudoperonospora cubensis (mã genbank
EU876603, EU876584 và AY198306).
Sợi nấm Pseudoperonospora cubensis hình ống, đơn bào, đường kính
khoảng 5,5 - 7,0 µm. Sợi nấm được hình thành trong các tế bào vật chủ để hấp
thu các chất dinh dưỡng. Cành bào tử đơn bào, không màu, phân nhánh dạng
cành cây, dài khoảng 80 - 400 µm, rộng 5 - 7 µm. Các bọc bào tử được sinh ra
đơn lẻ trên cành bào tử, hình trứng hoặc elip một đầu hơi nhú ra, kích thước 20 -
40 x 14 - 25 µm. Bọc bào tử chứa 2 - 15 bào tử động, các bào tử động có hai lông
roi, đường kính 10 - 13 µm (Waterhouse GM and Brothers MP, 1981).
Giai đoạn sinh sản hữu tính của nấm Pseudoperonospora cubensis tạo bào
tử trứng hình elip, màu vàng nhạt, đường kính 22 - 42 µm. Tuy nhiên, hình thức
sinh sản hữu tính của nấm ít khi xảy ra trong tự nhiên (Hiura and Kawada, 1933).
Granke. L. L and Hausbeck. M. K (2011) nghiên cứu bệnh giả sương mai
hại dưa chuột tại bang Michigan, Mỹ từ năm 2006 - 2009. Kết quả nghiên cứu

sản xuất ngoài đồng ruộng, tuy nhiên việc kiểm soát Pseudoperonospora
cubensis bằng nấm đối kháng Trichoderma harzianum đã được thử nghiệm trong
điều kiện nhà kính (Elad Y et al., 2000)
Biện pháp hóa học: để phòng trừ nấm Pseudoperonospora cubensis có thể
sử dụng các loại thuốc hóa học có hoạt chất metalaxyl (Reuveni et al., 1980).
2.2.1.3. Tình hình nghiên cứu bệnh thán thư
Theo Thomas A. Zitter (1987), bệnh thán thư hại cây rau họ bầu bí do
nấm Colletotrichum lagenarium (Pass.) Ellis & Halst gây ra. Bệnh gây hại cây
rau họ bầu bí xảy ra trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Trong quá trình sản xuất
nếu không có biện pháp phòng trừ bệnh kịp thời thì bệnh sẽ gây hại nặng và có
thể dẫn đến mất mùa cho cây rau họ bầu bí. Bệnh phổ biến nhất ở miền Nam,
miền Tây, và các tiểu bang miền Trung Tây nước Mỹ.
Nấm Colletotrichum lagenarium (Pass.) Ellis & Halst gây hại trên dưa
hấu, dưa thơm, dưa đỏ, bí mùa đông (Cucurbita maxima) và mướp đắng (Bitter
melon) ở Hawaii. Tất cả các bộ phận của cây trên mặt đất đều bị ảnh hưởng. Đầu
tiên xuất hiện đốm lá màu vàng nhạt và mọng nước ở rìa, rồi chuyển sang màu
nâu và trở nên giòn. Trên cây dưa hấu vết đốm trên lá có màu đen. Vết bệnh trên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

cuống lá và thân cây kéo dài và có màu đen với một vết sáng ở giữa (Stephen A.
Ferreira, 1992).
Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum lagenarium có thể hại nhiều cây rau
trong họ bầu bí như: dưa hấu, dưa bở, dưa chuột, bí đao, bí ngồi… Nấm
Colletotrichum lagenarium có thể gây hại trên lá, quả và thân của cây rau họ bầu
bí. Triệu chứng bệnh trên lá xuất hiện những vết đốm (đường kính > 10 mm)
màu vàng, rìa vết bệnh có chấm màu nâu hoặc đen. Triệu chứng bệnh trên quả là
những vết đốm, đường kính 20 - 30 mm, hơi trũng xuống. Đĩa cành nấm
Colletotrichum lagenarium màu nâu sẫm. Bào tử phân sinh hình trụ kích thước
10 - 15 x 4,5 - 6 µm (Sutton BC, 1980).

xanh…(Cabi, 2013).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

Bệnh đốm lá hại cây rau họ bầu bí gây hại nhiều nhất cho dưa hấu, dưa
chuột và các loại dưa khác. Bệnh lan truyền nhờ gió hoặc theo nước mưa. Chu kỳ
bệnh bắt đầu khi bào tử tiếp xúc được lá hoặc cuống lá. Bào tử hình thành và bắt
đầu chu kỳ xâm nhiễm mới sau khoảng từ 7 đến 10 ngày trong điều kiện thời tiết
ấm áp, ẩm ướt (Howard F. Schwartz and David H. Gent, 2007).
Bệnh đốm lá hại cây rau họ bầu bí được đặc trưng bởi các vết đốm nâu
nhạt, với các viền vết bệnh màu nâu sẫm trên cả hai mặt của lá. Triệu chứng biểu
hiện chủ yếu trên lá, cuống lá và thân cây. Trên lá già, vết bệnh là những đốm
nhỏ, tròn hoặc hình dạng bất định màu nâu nhạt. Số lượng và kích thước của vết
đốm tăng lên, cuối cùng lan ra toàn bộ lá làm rụng lá.
Trên dưa hấu các đốm lá xảy ra đầu tiên trên lá nhỏ. Vết bệnh ban đầu là
các chấm nhỏ màu xám hoặc trắng, phần tiếp giáp giữa vết bệnh và mô khỏe của
lá có màu đen. Cây bị nhiễm bệnh nặng thì các vết bệnh tăng dần tăng về số
lượng và trải rộng trên bề mặt lá. Vết bệnh hình thành trên lá non nhiều hơn trên
lá già. Bệnh có thể làm giảm kích cỡ quả và chất lượng quả.
Trên dưa chuột, dưa xạ hương và các loại bí, các vết bệnh lớn hơn, đường
kính khoảng 0,5 - 10 mm, màu xám - màu vàng nâu. Trung tâm của vết bệnh
cuối cùng trở nên trong suốt và giòn.
Cành bào tử thẳng hoặc hơi cong kích thước 3 - 5 × 50 - 300 µm, màu
vàng nâu hoặc vàng nhạt. Bào tử là đơn bào, trong pha lê, có 1 - 16 vách ngăn,
kích thước 2,5 - 4 × 20 - 270 µm. Bào tử nảy mầm tốt nhất trong khoảng nhiệt độ
22º - 32ºC với độ ẩm cao. (Howard F. Schwartz et al., 2007).
Nấm C.citrullina có khả năng lan truyền thông qua hạt giống, vì vậy biện
pháp kiểm soát hạt giống có vai trò quan trọng trong kiểm soát sự lan truyền của
bệnh (Lee et al., 1984).
Biện pháp phòng trừ bệnh đốm vòng do nấm C.citrullina hại cây rau họ

Bào tử phân sinh Alternaria alternata ngắn có mỏ, bào tử đa bào. Bào tử
phân sinh hình quả lựu đạn, màu nâu hoặc nâu nhạt với nhiều vách ngăn ngang,
chiều dài trung bình là 39 µm (khoảng 17 - 80 µm) và chiều rộng 14 µm (từ 7 -
20 µm) (X.G.Zhou, 2008).
Huang. J. S et al. (2011), bào tử phân sinh nấm Alternaria alternata f. sp.
cucurbitae gây hại trên cây dưa bở tại Đài Loan có màu nâu, chiều dài từ 9,4 -
38,5 µm (trung bình 25,9 µm), chiều rộng 6,2 - 11,6 µm (trung bình 9,0 µm).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

Bào tử có từ 1 - 4 vách ngăn ngang và 1 - 2 vách ngăn dọc.
Theo Vakalounakis (2008), nấm Alternaria alternata phát triển tốt trên
môi trường PDA ở nhiệt độ từ 5°C - 40°C và bào tử nảy mầm xảy ra trong phạm
vi từ 10°C đến 37°C. Nhiệt độ tối ưu là khoảng 26°C.
Nấm Alternaria alternata có thể lan truyển theo hạt giống, do đó biện
pháp xử lý hạt giống trước khi trồng có ý nghĩa rất quan trọng. Khi xử lý hạt
giống với hỗn hợp thuốc Ekorast và Bordeaux có thể làm giảm sự gây hại của
bệnh tới 33,8% (Seweta Srivastava, 2011); ngoài ra khi xử lý hạt giống với thuốc
Ridomil gold cũng cho hiệu quả phòng trừ tốt (Shakoor et al., 2011).
2.2.1.6. Tình hình nghiên cứu bệnh lở cổ rễ
Nấm Rhizoctonia solani được xác định là tác nhân gây bệnh trên nhiều
loại cây trồng bao gồm cỏ linh lăng, lạc, đậu tương, đậu lima, dưa chuột, đu đủ,
cà tím, ngô, cây họ bầu bí, bệnh gây hại phổ biến ở trên tất cả các đảo của Hawaii
và trên toàn thế giới (Uchida. Janice Y, 1992).
Nấm Rhizoctonia solani thuộc nhóm nấm Mycelia sterilia. Nấm là nguyên
nhân ngăn cản sự nảy mầm và gây bệnh ở cây con. Sợi nấm của Rhizoctonia
solani có màu vàng hoặc vàng nâu, sợi nấm nhiều nhân thường 4 - 8 nhân mỗi tế
bào. Hạch nấm màu nâu với các hình dạng, với các kích cỡ khác nhau. Hạch
thường hình thành trên bề mặt kí chủ, các mô thực vật hay trên các bộ phận của
cây trồng (Uchida. Janice Y, 1992).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status