BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ TRẦN CHIẾN
NGHIÊN CỨU BỆNH HÉO RŨ GỐC MỐC TRẮNG
(SCLEROTIUM ROLFSII SACC.) GÂY HẠI TRÊN MỘT SỐ
CÂY TRỒNG CẠN TẠI HÀ NỘI VÀ VÙNG PHỤ CẬN
NĂM 2014
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ: 60.62.01.12 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN NGUYỄN HÀ
HÀ NỘI – 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Nguyễn Hà – Học viện Nông
nghiệp Việt Nam, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực
hiện đề tài c&ũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi c&ũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Nông Học – Học Viện
Nông nghiệp Việt Nam.
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện mọi mặt cho
tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn ! Hà Nội, Ngày tháng năm
Tác giả luận văn
2
1.2.2. Yêu cầu
2
Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 3
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
3
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
8
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1. Địa điểm nghiên cứu
18
2.2. Thời gian nghiên cứu
18
2.3. Vật liệu nghiên cứu
18
2.4. Nội dung
18
2.5. Phương pháp nghiên cứu
19
2.5.1. Phương pháp điều tra ngoài đồng ruộng
19
2.5.2. Phương pháp phân lập nấm bệnh
19
2.5.3. Chuẩn bị môi trường
19
2.5.4. Nghiên cứu sự phát triển của nấm Sclerotium rolfsii trên các môi
trường dinh dưỡng khác nhau
20
2.5.5. Nghiên cứu sự phát triển của nấm Sclerotium rolfsii tại các ngưỡng
nhiệt độ khác nhau
42
3.2.4. Nghiên cứu khả năng gây bệnh của các nguồn nấm phân lập từ các
ký chủ khác nhau
45
3.2.5. Nghiên cứu khả năng bảo tồn hạch nấm S. rolfsii trong điều kiện đất
ngập nước
49
3.3. Khảo sát một số biện pháp phòng trừ nấm S. rolfsii bằng chế phẩm sinh
học và thuốc hóa học
54
3.3.1. Khảo sát hiệu quả của chế phẩm Ketomium trong việc phòng trừ
nấm S. rolfsii trong điều kiện chậu vại
54
3.3.2. Khảo sát hiệu quả của chế phẩm Ketomium xử lý hạt giống trong
việc phòng trừ nấm S. rolfsii trong điều kiện chậu vại
56
3.3.3. Khảo sát hiệu quả của chế phẩm Ketomium ở các liều lượng khác
nhau trong việc phòng trừ nấm S. rolfsii trong điều kiện chậu vại
57
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.3.4. Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại đậu tương,
cà chua, dưa chuột trên đồng ruộng bằng các chế phẩm hóa học
59
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64
1. Kết luận
64
2. Đề nghị
65
3.11 Kết quả lây nhiễm chéo nấm S. rolfsii trên một số cây trồng cạn 46
3.12 Ảnh hưởng của điều kiện ngập nước đến khả năng nảy mầm của hạch
nấm S. rolfsii phân lập từ đậu tương 50
3.13 Ảnh hưởng của điều kiện ngập nước đến khả năng nảy mầm của hạch
nấm S. rolfsii phân lập từ cà chua 51
3.14 Ảnh hưởng của điều kiện ngập nước đến khả năng nảy mầm của hạch
nấm S. rolfsii phân lập từ dưa chuột 52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
3.15 Hiệu quả phòng trừ của chế phẩm Ketomium đối với nấm S. rolfsii
gây hại trên cà chua 54
3.16 Hiệu quả phòng trừ của chế phẩm Ketomium đối với nấm S. rolfsii
gây hại trên đậu tương 56
3.17 Hiệu quả phòng trừ của chế phẩm Ketomium đối với nấm S. rolfsii
gây hại trên dưa chuột 58
3.18 Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại đậu tương
trên đồng ruộng bằng các chế phẩm hóa học 59
3.19 Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại cà chua
trên đồng ruộng bằng các chế phẩm hóa học 61
3.20 Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại dưa chuột
trên đồng ruộng bằng các chế phẩm hóa học 62
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
3.13 Nấm S. rolfsii nuối cấy trên 3 môi trường 41
3.14 Kết quả lây nhiễm chéo nấm S. rolfsii trên một số cây trồng cạn 46
3.19 Ảnh hưởng của điều kiện ngập nước đến khả năng nảy mầm của hạch
nấm S. rolfsii phân lập từ đậu tương 50
3.20 Ảnh hưởng của điều kiện ngập nước đến khả năng nảy mầm của hạch
nấm S. rolfsii phân lập từ cà chua 52
3.21 Ảnh hưởng của điều kiện ngập nước đến khả năng nảy mầm của hạch
nấm S. rolfsii phân lập từ dưa chuột 53
3.22 Hiệu quả phòng trừ của chế phẩm Ketomium đối với nấm S. rolfsii
gây hại trên cà chua 55Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix
3.23 Hiệu quả phòng trừ của chế phẩm Ketomium đối với nấm S. rolfsii
gây hại trên đậu tương 57
3.24 Hiệu quả phòng trừ của chế phẩm Ketomium đối với nấm S. rolfsii
gây hại trên dưa chuột 58
3.25 Hiệu lực của các chế phẩm hóa học đối với bệnh héo rũ gốc mốc trắng
hại đậu tương 60
3.26 Hiệu lực của các chế phẩm hóa học đối với bệnh héo rũ gốc mốc trắng
hại cà chua 61
hiện đề tài : “Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii Sacc.)
gây hại trên một số cây trồng cạn tại Hà Nội và vùng phụ cận năm 2014”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Tìm hiểu mức độ gây hại của nấm Sclerotium rolfsii trên một số cây
trồng cạn tại Hà Nội và một số vùng phụ cận vụ thu đông năm 2014. Nghiên cứu
một số đặc điểm hình thái và sinh học của nấm Sclerotium rolfsii và khảo sát một số
biện pháp phòng trừ.
1.2.2. Yêu cầu
- Điều tra tình hình bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây hại trên một số cây
trồng cạn tại Hà Nội và vùng phụ cận vụ thu đông năm 2014.
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học của nấm Sclerotium
rolfsii được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.
- Đánh giá khả năng bảo tồn của hạch nấm trong các điều kiện khác nhau.
- Nghiên cứu phạm vi ký chủ của nấm Sclerotium rolfsii trên một số cây
trồng cạn.
- Đánh giá khả năng phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng bằng chế phẩm
sinh học Ketomium vả một số thuốc hóa học.
hoa thập tự (cải bắp, súp lơ trắng, súp lơ xanh, cải dầu), họ đậu đỗ (đậu tương, lạc,
đậu xanh, đậu lăng), họ bầu bí (dưa chuột, dưa hấu, bí đao, bí ngô, bầu ngô). Thiệt
hại lớn nhất do nấm Sclerotium rolfsii gây ra trên toàn thế giới là ở cây lạc.
(Stephen, 2000).
Triệu chứng bệnh do Sclerotium rolfsii gây ra trên các cây ký chủ khác nhau
không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên có thể thấy nấm Sclerotium rolfsii chủ yếu
tấn công vào phần gốc thân cây tiếp giáp với mặt đất (Elizabeth, 2008).
Giai đoạn cây con nấm thường xâm nhập vào bộ phận cổ rễ, gốc thân sát mặt
đất tạo thành vết bệnh màu nâu đen, trên vết bệnh mọc ra lớp nấm trắng xốp như
bông bao quanh gốc và lan ra mặt đất xung quanh làm mô cây thối mục, cây khô
chết (Gulshan L. &CTV 1992).
Sợi nấm màu trắng phát triển đâm tia trên bề mặt vết bệnh, rồi lan cả xuống
mặt đất xung quanh gốc thân. Sau đó các sợi nấm đan kết với nhau hình thành hạch
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
nấm. Sợi nấm đa bào, không màu, phân nhánh, có mấu lồi. Bệnh lan truyền do quá
trình làm đất và do tồn dư bệnh trong đất, hoặc cây con bị nhiễm bệnh từ giai đoạn
vườn ươm. Sự xâm nhiễm của nấm Sclerotium rolfsii vào mô cây ký chủ xảy ra rất
dễ dàng do nấm tiết ra các enzyme và acid oxalic làm mềm yếu và giết chết mô cây
ký chủ (Smith and Lee, 1986).
Nấm Sclerotium rolfsii giai đoạn sinh sản hữu tính có tên là Athrium
rolfsii. Sợi nấm màu trắng, đa bào phát triển mạnh trên bề mặt mô bệnh. Từ sợi
nấm hình thành các hạch nấm, khi còn non hạch màu trắng về sau chuyển thành
màu nâu hoặc màu nâu đậm, đường kính hạch nấm biến động từ 1-2mm. Hạch
nấm có thể tồn tại từ năm này sang năm khác ở tầng đất mặt, tầng đất canh tác
(Gulshah và cộng sự, 1992).
Cây trồng khi bị nấm Sclerotium rolfsii xâm nhiễm thường tại chỗ gốc thân
sát mặt đất bị teo thắt tạo vết bệnh màu nâu hoặc màu đen. Trên vết bệnh có mọc ra
một lớp nấm trắng xốp như bông bao quanh gốc và lan ra mặt đất (Gulshah L và
thể được tạo ra với số lượng lớn và phát tán vào không khí (Stephen el al., 1992).
Nấm Sclerotium rolfsii có thể sống sót và phát triển mạnh mẽ trong phạm vi
môi trường rất rộng. nấm có thể sinh trưởng trong phạm vi pH rộng, nhất là trong
đất có tính acid. Nấm sinh trưởng thuận lợi nhất trong khoảng pH từ 3 - 5, hạch có
thể nảy mầm trong điều kiện pH từ 2 - 5. Khi pH > 7 sẽ kìm hãm sự nảy mầm của
hạch. Nhiệt độ thích hợp nhất từ 25
0
C - 35
0
C, ít hoặc ngừng phát triển ở nhiệt độ
dưới 10
0
C hoặc trên 40
0
C. ở nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng sợi nấm thì
khả năng hình thành hạch cũng lớn nhất. Sợi nấm bị tiêu diệt ở 0
0
C, nhưng hạch có
thể sống sót ở -10
0
C. Sợi nấm phát triển thuận lợi nhất cần có độ ẩm cao. Khi độ ẩm
dưới bão hòa thì hạch nấm không thể nảy mầm (Stephen, 2000).
Năm 2000, Rangeshwaran & Prasad đã tiến hành thí nghiệm lây bệnh nhân
tạo bằng hạch nấm S. rolfsii trên cây cà chua ở giai đoạn quả xanh, quả chín. Sau đó
quan sát thời gian và tỷ lệ nhiễm bệnh ở các ngưỡng nhiệt độ 20
o
C, 25
o
C, 30
o
di truyền được phân thành hai chủng Sclerotium rolfsii và Sclerotium delphinii
Nấm Sclerotium rolfsii có khả năng gây hại ở hầu hết các nước trồng lạc trên
thế giới và làm giảm năng suất từ 10-25%, ở những vùng bị nhiễm nặng, mức độ
thiệt hại lên đến 80% . Vào năm 1959, ngành nông nghiệp My ước tính mất khoảng
10-20 triệu USD liên quan đến Sclerotium rolfsii gây hại ở các vùng trồng lạc phía
nam, khiến cho năng suất lạc giảm từ 1-6% (Elizabeth, 2008).
Với phạm vi ký chủ rộng, khả năng phát triển nhanh, có khả năng sản sinh
hạch nấm chống chịu điều kiện môi trường khắc nghiệt, đã góp phần làm gia
tăng thiệt hại kinh tế. Trên phạm vi toàn cầu nói chung cũng như ở Bắc Carolina
nói riêng, thiệt hại do nấm S. rolfsii gây ra trên cây lạc là lớn nhất. Theo tính
toán thống kê của Bộ Nông nghiệp liên bang Hoa Kỳ, riêng năm 1959, thiệt hại
do nấm S. rolfsii gây ra trên lạc ở đồng bằng duyên hải miền trung khoảng 10 -
20 triệu đôla Mỹ, thiệt hại năng suất trên các cánh đồng dao động từ 1% - 60%.
(Agrios, 2001).
Nhiều nghiên cứu về nấm S.rolfsii cho thấy nấm này có khả năng sinh ra một
lượng lớn acid oxalic. Độc tố này xâm nhập làm biến đổi màu trên hạt và gây nên
những vết đốm chết hoại trên lá ở giai đoạn đầu phát triển bệnh. (Kokalis, 1984).
Ở vùng Georgia Mỹ thiệt hại do bệnh này gây ra hàng năm ước tính lên tới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
43 triệu USD. Ở Nepan bệnh héo rũ trắng gốc là bệnh hại rất nguy hiểm, nguồn nấm
tồn tại trong đất từ năm này sang năm khác và gây thiệt hại nhiều loại cây trồng cạn
ở vùng này.
Thiệt hại về năng suất của cây trồng còn cao hơn khi nấm Sclerotium rolfsii
cùng gây hại với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne sp. Những nghiên cứu về mối
quan hệ giữa nấm Sclerotium rolfsii với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne
incognita và biện pháp phòng trừ chúng cũng được nhiều tác giả đề cập tới. Phổ ký
chủ của nấm Sclerotium rolfsii được mở rộng thêm khi có mặt tuyến trùng cùng tấn
công, xâm nhiễm và gây hại. Sản xuất đỗ xanh gặp nhiều khó khăn do sự gây hại
đất, pH và nguồn dinh dưỡng khác nhau. Nhưng nấm sinh trưởng kém thuận lợi trên
đất thịt nhiều mùn có pH = 7,96. (Rodriguez-Kabana va CTV,1987)
Nấm Chaetomium là một trong những nhóm nấm lớn nhất trong hệ vi sinh
vật đất. Chúng phân bố rất rộng rãi trong tự nhiên. Sự phân bố của Chaetomium
trong đất cũng tuân theo những quy luật chung của mọi vi sinh vật đất khác. Số
lượng của nấm Chaetomium chủ yếu nằm trong các tầng đất dưới. Đặc biệt ở tầng
đất sâu 25-30 cm số lượng của Chaetomium có nhiều nhất.
Nấm Chaetomium được tìm thấy ở các nước ôn đới như Đức, Nhật bản, một
số vùng ôn đới của Trung quốc, đến tận các vùng có khí hậu nhiệt đói như: Thái lan,
Philippine, Việt nam Nấm Chaetomium có khả năng sản sinh ra một lượng cơ chất
ergosterol do vậy chúng vẫn có thể sinh trưởng phát triển tốt và tạo ra nhiều khuẩn
lạc trong điều kiện khô hạn. Chính ergosterol đã cải tạo đất làm cho đất thêm màu
mỡ, tăng độ phì của đất, kích thích sự phát triển của cây. Tuy nhiên Chaetomium
phát triển và có khả năng canh tranh manh hơn so với nấm bệnh khi trong điều kiện
đất có nhiều mùn hơn. (Soytong và cs. 1989).
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Bệnh héo rũ trắng gốc còn gọi là bệnh héo gốc mốc trắng, bệnh thối trắng do
nấm Sclerotium rolfsii Sacc. gây ra, nấm gây hại không những trên cà chua mà còn
ký sinh phá hại trên hàng trăm loài cây trồng khác bao gồm nhiều loài cây có giá trị
kinh tế quan trọng như khoai tây, đậu tương, lạc, ớt, đậu đỗ, bầu bí, hoa, cây cảnh
(Đỗ Tấn Dũng, 2001).
Nấm tồn tại trong đất và tàn dư cây bệnh, lan truyền do quá trình làm đất,
cây giống nhiễm bệnh từ vườn ươm. Nấm xâm nhập vào gốc cây con, cây trưởng
thành, sử dụng chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng, sản sinh ra axit oxalic và men
làm phân hủy mô cây chủ. Trên ruộng sản xuất bệnh thường xuất hiện nhiều sau khi
trồng khoảng 50 ngày (khi cây có quả). (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng,2003)
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng là một trong những loại bệnh hại phổ biến, phát
sinh gây hại trên nhiều loại cây trồng cạn khác nhau, ở các giai đoạn sinh trưởng
khác nhau của cây. Tác hại chủ yếu của bệnh là gây nên hiện tượng héo rũ, chết cây
và làm ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng phát triển của cây và đến năng suất.
và vàn thấp nhẹ hơn (Ngô Thị Xuyên, 2004).
Với điều kiện thời tiết ấm, nóng, độ ẩm cao rất thuận lợi cho bệnh phát triển.
Nấm S. rolfsii có thể sống sót qua nhiều năm nhờ có hạch nấm tồn tại trong đất hoặc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
trên tàn dư cây bệnh. Nấm sinh trưởng thuận lợi nhất ở 30
0
C, kém phát triển khi
nhiệt độ dưới 15
0
C hoặc trên 37
0
C. Những hợp chất dễ bay hơi được sản sinh bởi
các mô già cỗi của cây ký chủ sẽ kích thích hạch nảy mầm. Nấm sau đó có thể xâm
nhiễm trực tiếp vào mô cây ký chủ, sản sinh enzyme cellulolytic và enzyme
pectinolytic và cả acid oxalic. Nấm có thể phát tán nhờ các nông cụ, dụng cụ làm
đất hoặc dòng nước chảy hoặc lây nhiễm ngay từ giai đoạn cây con đưa từ vườn
ươm ra trồng ngoài đồng ruộng. Cách thức gieo hạt cũng có thể có tác động đến sự
phân bố của bệnh ngay trong một khu đồng.
Nấm có thể tồn tại trong đất và tàn dư cây bệnh dưới dạng hạch nấm và sợi
nấm. Bệnh truyền lan do quá trình làm đất hoặc vật liệu giống nhiễm bệnh. Bệnh
phát sinh gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng nhưng mức độ khác nhau. Bệnh
phá hại ở tất cả các thời vụ gieo trồng nhưng thời kỳ gây hại nặng vào các tháng 4, 5
trong vụ xuân và tháng 8, 9, 10 trong vụ mùa trên hầu hết các giống cà chua, đậu
tương, lạc, đang trồng ngoài sản xuất đều có thể bị nhiễm bệnh, mức độ tác hại của
bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố sinh thái như: điều kiện ngoại cảnh, thành phần cơ
giới đất, chế độ chăm sóc, chế độ canh tác, phân bón (Đỗ Tấn Dũng, 2001).
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng thường phát sinh vào hai thời kỳ trong năm: thời
kỳ thứ nhất khoảng 11/4 - 1/6 bệnh hại cà chua xuân hè cuối vụ, thời kỳ thứ 2
tới hơn 60%, ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng suất quả.
Cây bị héo rũ, xanh hoặc hơi vàng. Cổ rễ và đoạn thân ngầm bị bệnh có vết
màu nâu, thối mục, khô xác, nhổ cây dễ bị đứt gốc, trên gốc thân cây bệnh mọc lớp
nấm trắng đâm tia lan rộng ra mặt đất, hình thành nhiều hạch nấm hình tròn như hạt
cải màu trắng, về sau có màu nâu hạt chè. (Vũ triệu Mân, 2007).
Triệu chứng đặc trưng của bệnh trên các cây trồng cạn đó là vết bệnh xuất hiện
trên gốc, thân cây sát mặt đất, lúc đầu vết bệnh nhỏ, có màu nâu tươi, hơi lõm, sau đó
vết bệnh lan rộng có thể dài tới 2-4 cm bao quanh gốc cây và lan xuống cổ rễ dưới mặt
đất (Đỗ Tấn Dũng, 2001). Mô bệnh bị thối hỏng. Lá phía dưới héo khô, vàng, sau toàn
bộ cây héo rũ chết (Lê Lương Tề, 2001). Cây bị bệnh gốc, thân hóa nâu và mục rã ở
phần tiếp cận với mặt đất làm cây chết héo. Nấm còn gây hại trên quả phần tiếp giáp
với mặt đất (Lê Lương Tề, 2007). Trên vết bệnh ở gốc, thân xuất hiện lớp nấm trắng,
sợi nấm đâm tia lan dần ra mặt đất xung quanh tạo thành một đám trắng xốp như bông,
từ đó hình thành nên các hạch nấm, lúc đầu hạch nấm có màu trắng, sau màu vàng,
cuối cùng có màu nâu đậm (Nguyễn Văn Viên và Vũ Triệu Mân, 1998).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
Sợi nấm Sclerotium trực tiếp xâm nhập qua biểu bì, qua vết thương mà phát
triển thành đám sợi trắng ở cổ rễ, gốc thân làm mô bệnh thối mục, cây khô chết.
Nấm phá hại tia củ lạc trong đất làm tóp thối củ, hạt mốc mất sức nảy mầm hoặc khi
gieo mầm mọc yếu, cây sẽ bị bệnh. Trên đồng ruộng những loại nấm trên đều nhờ
nước tưới, mưa gió mà truyền lan.
Bệnh phát sinh, phát triển trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, ẩm ướt,
cây sinh trưởng kém. Trên đất trồng độc canh, đất cát thô bệnh tương đối nặng hơn.
Bệnh xuất hiện trong suốt quá trình sinh trưởng của cây nhưng ở mỗi giai đoạn sinh
trưởng mức độ bệnh khác nhau, các loại bênh héo rũ phá hại cũng khác nhau. (Vũ
triệu Mân, 2007).
Nấm Sclerotium rolfsii là loại nấm đa thực, phát sinh phát triển thuận lợi
trong điều kiện nhiệt độ thích hợp nhất là: 25
Khi cây cà chua bị bệnh héo rũ gốc mốc trắng ở giai đoạn vườn ươm hoặc từ
khi trồng đến giai đoạn ra chùm hoa đầu nở thì cây sẽ bị chết héo. Nếu cây nhiễm
bệnh muộn ở giai đoạn chớm ra quả lứa đầu, sau trồng 60 - 70 ngày thì cây cũng bị
héo rũ, quả chín ép không sử dụng được. Còn nếu cây bị nhiễm muộn vào giai đoạn
quả non thì cây thường chết héo, năng suất có thể giảm 61,6% so với cây khỏe
(Nguyễn Văn Viên, 1999).
Bệnh chết héo lạc do nấm S. rolfsii gây ra là một trong những bệnh phổ biến
và là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất. ở vùng Đông Nam Bộ,
trước khi thu hoạch tỷ lệ bệnh có nơi lên đến 8% - 10%. ở miền Bắc Việt Nam đ6
phát hiện có những ruộng cục bộ tỷ lệ bệnh héo rũ gốc mốc trắng lên tới 20% -
25% (Nguyễn Thị Ly, Phan Bích Thủy, 1991).
Ngô Quốc Luật và CTV (2005) nghiên cứu nấm S. rolfsii hại cây bạch truật
và nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ đặc biệt chú ý đến biện pháp sinh học sử
dụng nấm đối kháng T. viride. Đây là một trong ba bệnh hại quan trọng trên cây
bạch truật. Tỷ lệ bệnh tăng cao khi nhiệt độ 29
0
C - 30
0
C, hại chủ yếu ở phần rễ và
thân. Kết quả khảo sát hiệu lực của một số thuốc hoá học trong việc phòng trừ nấm
cho thấy thuốc Ridomil 68WP có hiệu lực cao (>90%). Tác giả cũng cho biết bệnh
bắt đầu gây hại vào thời kỳ phát triển củ (tháng 4), gây hại mạnh vào tháng 5 - 6 khi
chuẩn bị thu hoạch.
Các tác giả Nguyễn Văn Viên và Vũ Triệu Mân (1998) khi nghiên cứu bệnh
chết héo cây cà chua do nấm S. rolfsii Sacc., tác giả có nhận xét: ở cà chua vụ đông
sớm (tỷ lệ cây bị bệnh từ 10,5% - 14,5%, cá biệt có ruộng lên tới 20%) và vụ đông
xuân bị bệnh nặng hơn vụ đông chính vụ (9% - 14,5%). Vụ đông xuân, bệnh xuất
hiện vào cuối tháng tư, đầu tháng 5 khi 1, 2 chùm quả đã được thu hoạch; cây héo,
chết làm quả non không sử dụng được hoặc chín ép, chất lượng kém. Một số thuốc
được thử nghiệm đánh giá hiệu lực phòng trừ đối với nấm S. rolfsii như: oxy clorua
50WP 2kg/ha và Mirage 50 WP nồng độ 0,2% phun từ 2 đến 3 lần có hiệu lực
phòng trừ đạt 62% - 68%. Hoặc phun chế phẩm sinh học Trichoderma (hàm lượng 2
x 10
9
bào tử/gam) với lượng dùng 10gam pha trong 1 lít nước phun cho 1m
2
cà chua
(phun vào gốc cây trên mặt đất hoặc bón vào đất khi trồng) (Lê Lương Tề, 2001).
Nấm bệnh tồn tại trong đất và tàn dư cây bệnh, lan truyền do quá trình làm
đất, cây trồng nhiễm bệnh từ vườn ươm (Nguyễn Văn Viên, Đỗ Tấn Dũng, 2003),
do đó việc phòng trừ bệnh gặp rất nhiều khó khăn. Cũng theo hai tác giả này biện
pháp phòng trừ bệnh có hiệu quả đó là cần kết hợp nhiều biện pháp: ruộng cà chua
phải được tiêu nước tốt, thực hiện việc luân canh cây cà chua với cây trồng không
phải là ký chủ của nấm, phơi ải đất trồng, bón phân cân đối, có thể xử lý đất vườn
ươm bằng thuốc TMTD, nhổ bỏ cây bệnh ra khỏi ruộng rồi chôn hoặc đốt, làm giàn
cho cà chua.
Để phòng trừ bệnh do nấm Sclerotium rolfsii gây ra có hiệu quả, có thể áp
dụng các biện pháp như: cày lật đất sâu khoảng 10-15 cm trước khi trồng để vùi sâu
hạch nấm; luân canh các cây trồng dễ nhiễm bệnh với các cây trồng không phải là
ký chủ của bệnh như: mía, khoai lang, khoai sọ dọn sạch cỏ dại và sử dụng các
loại thuốc trừ nấm đặc hiệu (Nguyễn Kim vân và CS, 2002)
Biện pháp sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ bệnh HRGMT thường có
hiệu quả thấp vì nấm bệnh tồn tại chủ yếu trong đất, xâm nhiễm gây hại ở bộ phận
rễ, cổ rễ, thân sát mặt đất. Tuy nhiên, trong những trường hợp cần thiết người ta có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
thể dùng một số thuốc để phun phòng nhằm hạn chế sự lan truyền và tác hại của
bệnh (Rovral, Pencozeb, Mancozeb) (Đỗ Tấn Dũng,2001).
Dù sử dụng biện pháp hoá học, hoặc luân canh cũng không tiêu diệt được tận