BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
------------ ----------
VŨ MINH TOÀN
NGHIÊN CỨU BỆNH THỐI XÁM (Botrytis cinerea Pers) GÂY HẠI
TRÊN MỘT SỐ CÂY TRỒNG CẠN VỤ THU ĐÔNG NĂM 2009 VÀ
VỤ XUÂN HÈ NĂM 2010 TẠI MỘC CHÂU – SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Mã số
: 60.62.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ TẤN DŨNG
HÀ NỘI - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả
nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả. Các số liệu
và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
Lời cam đoan.......................................................................................................i
Lời cảm ơn.........................................................................................................ii
Mục lục.............................................................................................................iii
Danh mục chữ viết tắt......................................................................................viii
Danh mục các bảng............................................................................................ix
Danh mục các hình............................................................................................xi
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1. Phân loại giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính của nấm Botrytis
cinerea Pers và Botryotinia fuckeliana (de Bary) Whetz.
(Pollastro F. S (1993)[68]).................................................................................15
Bảng 4.1. Diên biến bệnh thối xám (Botrytis cinerea ) trên dâu tây Taiwan vụ
thu đông năm 2009 tại Công ty hoa nhiệt đới và Hợp tác xã 19-5..................54
Bảng 4.2. Mức độ bệnh thối xám (Botrytis cinerea) trên một số giống dâu tây
vụ thu đông 2009 tại Hợp tác xã Nông nghiệp 19-5.......................................57
Bảng 4.3. Diễn biến bệnh thối xám hại trên dâu tây Taiwan trên địa thế trồng
khác nhau vụ thu đông 2009 tại Hợp tác xã nông nghiệp 19-5.......................60
Bảng 4.4. Mức độ bệnh thối xám B.cinerea ở các biện pháp trồng che phủ
khác nhau trên giống dâu tây Taiwan vụ xuân hè năm 2010 tại hợp tác xã
nông nghiệp 19-5, huyện Mộc Châu – Sơn La................................................63
giống hoa hồng vàng, phấn hồng, đỏ nhung trên giống phấn hồng.................95
Bảng 4.19. Hiệu quả của một số loại thuốc hóa học phòng trừ bệnh thối xám
Botrytis cinerea hại cà chua T56 vụ xuân tại xã Phiêng luông.......................97
Bảng 4.20. Hiệu quả của một số loại thuốc hóa học trừ nấm bệnh trong phòng
trừ bệnh thối xám hại dâu tây Taiwan vụ xuân năm 2010............................100
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
Tên hình
Trang
Hình 2.1. Một số hình dạng tản nấm Botrytis cinerea Pers
(Mirzeai. S , E. Mohammadi Goltapehp* & M. Shams – akhsh(2007) [57]).......22
Hình 2.2. Một số hình dạng bào tử nấm Botrytis cinerea Pers............................23
(S. Mirzeai, E. Mohammadi Goltapehp* & M. Shams – akhsh, 2007) [57]........23
Hình 2.3. Qủa thể đĩa của nấm B.cinerea(Groves & Loveland, 1953) [41].........23
Hình 2.4. Túi bào từ và bào tử túi của nấm B.cinerea(Groves & Loveland, 1953)
[41]..................................................................................................................23
Hình 2.5. Chu kỳ gây bệnh của nấm B.cinerea trên cây trồng
(George Agrios, Plant Pathology 4th Edition)...................................................26
Hình 4.1. Triệu chứng bệnh thối xám hại trên cây dâu tây..................................53
Hình 4.2. Triệu chứng bệnh thối xám hại trên quả dâu tây..................................53
Hình 4.3. Triệu chứng khô quả dâu tây do nấm B.cinerea..................................53
Hình 4.4. Diên biến bệnh thối xám (Botrytis cinerea ) trên dâu tây Taiwan vụ thu
đông năm 2009 tại Công ty hoa nhiệt đới và Hợp tác xã 19-5.............................55
Hình 4.5. Mức độ bệnh thối xám (Botrytis cinerea) trên một số giống dâu tây vụ
thu đông 2009 tại Hợp tác xã Nông nghiệp 19-5................................................58
Hình 4.26. Bệnh thối xám hại trên nụ hoa cúc....................................................76
Hình 4.27. Bệnh thối xám hại trên đài hoa cúc...................................................76
Hình 4.28. Bệnh thối xám hại trên bông hoa cúc................................................76
Hình 4.29. Tản nấm và cành bào tử phân sinh B. cinerea phân lập trên dâu tây. .80
Hình 4.30. Tản nấm và cành bào tử phân sinh B.cinerea phân lập trên cà chua...80
Hình 4.31. Tản nấm B.cinerea phân lập trên hoa hồng đỏ nhung........................80
Hình 4.32. Tán nấm B.cinerea phân lập trên dâu tằm.........................................80
Hình 4.33. Tản nấm và cành bào tử B.cinerea phân lập trên hoa ly.....................81
Hình 4.34. Tản nấm B.cinerea phân lập trên hoa cúc.........................................81
Hình 4.35 Kết quả lây bệnh nhân tạo isolates nấm B.cinerea phân lập trên giống
hồng đỏ nhung với các bộ phận của giống hồng đỏ nhung.................................89
Hình 4.36. Lây bệnh trên lá...............................................................................89
Hình 4.37. lây bệnh trên hoa..............................................................................89
Hình 4.38. lây bệnh trên cuống hoa...................................................................89
Hình 4.39. lây bệnh trên cánh hoa......................................................................89
Hinh 4.40. Kết quả lây bệnh nhân tạo isolates nấm Botrytis cinerea phân lập trên
giống phấn hồng, tỷ muội, đỏ nhung trên giống hồng vàng...............................91
Hình 4.41. Isolates B.cinerea phân lập trên giống hồng tỷ muội trên giống hồng
vàng.................................................................................................................91
Hình 4.42. Kết quả lây bệnh nhân tạo Isolates nấm Botrytis cinerea phân lập trên
giống hoa hồng vàng, phấn hồng, đỏ nhung trên giống tỷ muội..........................94
Hình 4.43. Isolates phân lập trên hồng vàng trên giống tỷ muội.........................94
Hình 4.44. Kết quả lây bệnh nhân tạo Isolates nấm B.cinerea phân lập trên giống
hoa hồng vàng, phấn hồng, đỏ nhung trên giống phấn hồng...............................95
Hình 4.45. Hiệu quả của một số loại thuốc hóa học phòng trừ bệnh thối xám
Botrytis cinerea hại cà chua T56 vụ xuân tại xã Phiêng luông............................98
Hình 4.46. Hiệu quả của một số loại thuốc hóa học trừ nấm bệnh trong phòng trừ
bệnh thối xám hại dâu tây Taiwan vụ xuân năm 2010......................................101
CT
CT1
CT2
CT3
CT4
CT5
CTV
I
NXB
TKTD
TLB
Tr
Volume
Từ viết vắt
Viện sinh hóa Mỹ
Botrytis cinerea Pers
Bảo vệ thực vật
Cộng sự
Chỉ số bệnh
Công thức
Công thức 1
Công thức 2
Công thức 3
Công thức 4
Công thức 5
Cộng tác viên
Isolate
Nhà xuất bản
Thời kỳ tiềm dục
(2007) [47] cho biết nấm B.cinerea có khả năng phát tán trong không khí
bằng bào tử phân sinh và gây bệnh trên 200 loài cây ký chủ khác nhau như
cây ăn quả (dâu tây, cà chua, đào,..), cây hoa (hoa hồng, ly, cúc,...), cây lấy
dầu, cây lương thực, …ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Thiệt hại kinh tế do nấm B.cinerea có thể trên 50% sản lượng của một
số cây trồng như nho, dâu tây,..một số loại hoa như hoa hồng, hoa cúc,... Ở
Châu Âu bệnh thối xám có thể gây hại 25-30% diện tích trồng nho (3.700.000
ha).Chi phí của các ứng dụng loại thuốc trong phòng trừ nấm được ước tính là
2-50 triệu ởrô. Ở Bangladesh và Tây Bắc Ấn Độ năng suất đậu giảm đến 80%
khi bị nấm gây hại, trong điều kiện thuận lợi cho nấm B.cinerea phát triển sản
lượng tổn thất lên đến 95% (Pande et al 2002) [65].
Bệnh thối xám gây ra bởi nấm B.cinerea xảy ra ở trong điều kiện nhiệt
độ thấp và thời tiết ẩm ướt. Các mức độ nghiêm trọng của mốc xám liên quan
chặt chẽ với điều kiện môi trường và đặc biệt phụ thuộc vào nhiệt độ và độ
ẩm tương đối (Jarvis, 1962) [48].
Ở Việt Nam với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, tạo điều kiện
thuận lợi cho nấm Botrytis cinerea phát triển. Trong những năm qua theo một
số kết quả nghiên cứu bệnh thối xám do nấm Botrytis cinerea gây hại cho 30
loài cây trồng thuộc 16 họ. Ở vùng Đà Lạt bệnh thối xám gây hại quanh năm,
ở đồng bằng Sông Hồng bệnh gây hại từ tháng 1 đến tháng 4 trên nhiều loại
cây trồng trong đó có một số loại cây trồng có giá trị kinh tế như cà chua, hoa
hồng, hoa ly, dâu tây và một số loại cây ăn quả khác như đào,... (Đặng Vũ Thị
Thanh và CTV, 2010) [14].
Mộc Châu là một huyện miền núi nằm ở phía cực Nam của tỉnh Sơn La
thuộc khu vực Tây Bắc của Tổ Quốc Việt Nam. Có cao nguyên rộng lớn và
tương đối bằng phẳng. Là vùng có đặc điểm khí hậu nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới gió mùa núi cao mang tính chất khí hậu á nhiệt đới, mùa đông lạnh
khô, mùa hè mát ẩm mưa nhiều thuận lợi cho nhiều loại cây trồng có nguồn
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Những nghiên cứu ngoài nước
2.1.1. Lịch sử nghiên cứu nấm Botrytis cinerea
Phân loại nấm chi Botrytis thuộc họ Moniliaceae, lớp Hyphomycetes
được Micheli xem xét năm 1729 và Persoon năm 1801 gồm 380 loài
(Hennebert, 1973) [44] . Tuy nhiên sau nhiều lần tranh luận giữa các nhà phân
loại, đến năm 1949 chi Botrytis xác định gồm có 22 loài (Buchard, 1949) [25].
Giai đoạn sinh sản hữu tính của nấm Botrytis cinerea (B.cinerea) thuộc
chi Botrytis đã được biết đến từ năm 1866 với tên Peziza fuckeliana De Bary
và sau đó là Sclerotinia fuckeliana Fuckel (Hansen & Smith, 1932) [42].
Mối quan hệ giữa phân loại Botrytis cinerea và Botryotinia fuckeliana
thuộc chi Botrytis vẫn không xác định rõ vì chưa hoàn thiện được các giai
đoạn phát triển của nấm B.cinerea trong ống nghiệm. Đến năm 1939, Groves
& Drayton [40] nghiên cứu kỹ thuật tạo ra quả thể đĩa của nấm B.cinerea
trong phòng thí nghiệm khi phân lập từ táo, khoai tây, cần tây và cây nho và
thu được hình thái qủa thể đĩa giống với quả thể đĩa của Botryotinia fuckeliana
(de Bary, 1869).
Tuy nhiên, họ chỉ ra rằng tất cả các chủng B.cinerea không phải là B.
fuckeliana. Năm 1989, các kỹ thuật tác động để hình thành quả thể đĩa trong
phòng thí nghiệm đã được cải thiện (Faretra et al, 1989) [36]. Và phân lập
nấm B.cinerea thu được từ cây ký chủ khác nhau ở các nước (Faretra et al.,
1988b [35], (Pollastro F. S, 1993) [68] chứng minh được rằng Botryotinia
fuckeliana là giai đoạn sinh sản hữu tính của nấm B.cinerea. Và họ đã phân
loại giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính của nấm B.cinerea dưới bảng sau
Bảng 2.1. Phân loại giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính của nấm
Botrytis cinerea Pers và Botryotinia fuckeliana (de Bary) Whetz.
(Conner IT, 1967) [27] đến các khu vực cận nhiệt đới như Ai Cập (El-Helaly
et al., 1962) [33], Cameroon (Bernaux, 1979) [22] và New Zealand (Dingley
JM, 1969) [29]. Nấm gây nên bệnh thối xám trên các cây trồng là một trong
những thành phần bệnh gây hại nghiêm trọng trên các cây trồng ở các nước
Bangladesh, Ấn Độ, Nepal và Pakistan, Argentina, Australia, Canada và
Chile.
Giai đoạn sinh sản vô tính của nấm B.cinerea phát hiện thấy trên toàn
thế giới ở trên đồng ruộng và trong nhà lưới, còn giai đoạn hữu tính của nấm
phân bố không phổ biến và thường xuyên. Tuy nhiên giai đoạn hữu tính chỉ
phát hiện ở một số nơi trên thế giới như năm 1975 thu thập quả thể đĩa của
nấm B. fuckeliania trên cây đậu ở miền trung và miền tây bang New York,
Mỹ (Polach & Abawi, 1975) [67], năm 1988 tìm thấy quả thể đĩa của nấm B.
fuckeliania trên lá nho đã phân rã một phần trên bề mặt đất ở Thụy Sĩ (Blank,
1988) [24] .
2.1.3. Tác hại của nấm Botrytis cinerea
Nấm B.cinerea gây bệnh thối xám là một trong những bệnh phổ biến
nhất và gây thiệt hại kinh tế trong lĩnh vực trồng hoa cây cảnh và cây rau.
Bệnh thối xám gây hại nghiêm trọng ở thời tiết mát, ẩm, nhiều mây. Ngoài ra,
nấm này cũng gây thiệt hại trong bảo quản kho lạnh ở 0 0C và trong quá trình
vận chuyển (Baker, 1946) [20].
Mức độ gây thiệt hại kinh tế do nấm B.cinerea là tương đối lớn, theo
ước tính chúng có thể làm thiệt hại kinh tế trên 50% loại cây trồng có nguồn
gốc ắ nhiệt đới và ôn đới. Ở châu Âu bệnh thối xám có thể gây hại 25-30%
diện tích trồng nho tương đương 3.700.000 ha bị bệnh và chi phí cho việc sử
dụng thuốc phòng nấm được ước tính là 2-50 triệu ơ rô [81].
Khu vực Terai phía Đông của Nepal bệnh thối xám là bệnh quan trọng
nhất trên cây đậu, hàng năm năng suất giảm đến 15% (Chaurasia & Joshi,
2001) [26]. Ở Bangladesh và Tây Bắc Ấn Độ nấm cỏ thể làm giảm 80% năng
loa kèn đỏ và họ Iridaceae.
Theo tác giả Kim J.H et at (2007) [47] cho biết B.cinerea có khả năng
phát tán trong không khí bằng bào tử phân sinh và gây bệnh trên 200 loài cây
ký chủ khác nhau như cây lấy dầu, cây lương thực, cây ăn quả, cây hoa,…ở
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Nghiên cứu của Dingley J.M (1969) [29] cho biết, B.cinerea nguyên
nhân gây bệnh phổ biến trên nhiều loại cây cảnh như hoa hồng, cây cúc, hoa
ly, hoa giấy, cây dạ yến thảo... Trong các loại rau và trái cây, B.cinerea có thể
lây nhiễm trên cây dâu tây, cần tây, rau diếp xoăn, dưa chuột, nho, cà chua, củ
cải, tiêu... Bệnh gây hại trên nhiều loại cây trồng và cả ở trong kho bảo quản
sản phẩm sau thu hoạch, đây là một trong những nguyên nhân làm cản trở
việc mở rộng diện tích của những loại cây trồng ở Newzealand.
Trên dâu tây ở Anh bệnh thối xám do nấm B.cinerea là bệnh quan
trọng nhất. Bệnh này làm giảm năng suất và chất lượng quả và đòi hỏi các
ứng dụng thường xuyên của các thuốc diệt nấm kiểm soát (Hennebert &
Gilies, 1958) [45]. Cũng theo tác giả dâu tây được đánh giá là dễ bị nhiễm
bệnh thối xám nhất là do quả dâu tây rất mềm và mọng nước.
Nghiên cứu của tác giả Xiao, CL, (2006) [87] cho rằng, nấm B.cinerea
là loại dịch hại chủ yếu trên lê vụ đông của nước Mỹ làm giảm năng suất và
giá trị xuất khẩu lê của nước này. Nấm B.cinerea cũng là nguyên nhân chính
gây thiệt hại kinh tế trong sản xuất hoa cắt cành và chúng cũng gây bệnh trên
một số giống cây lâm nghiệp (Baker, 1946) [20].
Ngoài ra, theo Noble & Richardson (1968) [62], Ogilvie (1969) [63]
nấm B.cinerea đã được phát hiện trong các hạt giống của hơn 50 loài hoa và
loài cỏ hoa hồng, hoa đồng tiền.
2.1.5. Triệu chứng bệnh thối xám Botrytis cenerea
Nấm Botrytis cenerea gây bệnh thối xám là loại nấm có tính ký sinh yếu
gây hại trên nhiều loại cây trồng và chúng có phổ ký chủ rộng. Trên dâu tây,
cuống là không đáng kể. Bệnh thối xám lây lan từ hoa và quả trở lại thân cây,
làm cho thân cây chuyển màu be sang màu trắng và cuối cùng phát triển thối
mục. Phấn hoa và các bộ phận trên hoa có thể kích thích để các bào tử B.
cinerea nảy mầm mà chúng còn cũng làm tăng mức độ gây bệnh của nấm
(Zitter. T. A. , 1986) [79].
Quả cà chua non màu xanh bị bệnh chuyển màu nâu nhạt hoặc màu
trắng, bắt đầu từ điểm bào từ nấm xâm nhiễm ở các bộ phận của cây cà chua.
Thối mềm có thể phát triển với vỏ quả cà còn nguyên vẹn, nhưng các mô bên
trong quả trở nên mềm và chảy nước. Sau đó, một khuôn mờ xám phát triển
và hạch nấm có thể hình thành trên đó và quả cà chua bị rụng xuống khỏi cây
(Zitter. T. A, 1986) [79].
Quả cà chua còn xanh cũng có thể bị lây nhiễm trực tiếp bởi các bào tử
trong không khí thay vì tiếp xúc với bệnh nhiễm trùng khác. Điểm trắng tròn
xuất hiện trên quả và được gọi là "điểm mờ”. Những điểm này sẽ kéo dài và
có thể xuất hiện trên khi quả cà chua chín. Khi quả chín, màu sắc của các
điểm nhiễm bệnh thay đổi từ trắng tới vàng. Những "điểm mờ" đó là kết quả
của bào tử nấm xâm nhiễm và nảy mầm lên quả cà mà bào tử dễ tấn công khi
quả cà chua có kích thước như quả anh đào. Ngay sau khi bề mặt của quả là
sáng bóng, quả cà chua không còn nhạy cảm (Zitter. T. A, 1986) [79].
Triệu chứng của nấm B.cinerea gây hại trên nho nấm thường gây hại
phần lá non vào mùa xuân làm cho lá bị hoại tử và có màu nâu, trên quả làm
cho quả bị mục nát và thường xuất hiện vào cuối mùa hè và mùa thu, trên
những quả trưởng thành thường có những đốm nâu về sau sợi nấm phát triển
thành búi nấm mầu xám trên vết bệnh sau đó vết bệnh lan ra nhanh chóng và
có thể bao hết phần quả và lây lan sang quả khác tạo điều kiện cho các sinh
vật khác xâm nhập vào quả [81].
Trên trái táo nấm có thể gây ra xốp, thối mềm và làm trái táo có mùi
như rượu vang táo, nấm có thể gây hại trái trong thời gian lưu trữ, chúng phân
cây lay ơn, nho, dâu tây, kiwi, trúc đào, hành tây, cam, lê, lựu, cây cao su, hoa
hồng, lily, cẩm chướng, dưa chuột, cà chua và lúa mì,...Đã xác định được hình
thái và kích thước của cành bào tử phân sinh, bào tử phân sinh và hạch nấm
như sau .
Cành bào tử phân sinh phát sinh trực tiếp từ sợi nấm hoặc từ hạch nấm.
Cành bào tử phân sinh thẳng nhiều hơn so với không thẳng, có vách ngăn,
phân nhánh hướng về đỉnh thường phân đôi hoặc phân ba. Cành bào tử có
màu nâu và màu nâu nhạt đi ở gần đỉnh và sự kết thúc của các nhánh thường
không màu. Một số trường hợp cành bào tử phân sinh hẹp hơn và không màu.
Chiều dài trung bình conidiophore là (527) 662 -2999 (4.334) μm.
Bào tử phân sinh khi mới hình thành có màu trắng về sau có màu nâu
nhạt. Bào tử phân sinh có dạng hình trứng, elip, qủa lê, hình cầu. Bào tử phân
sinh thường là đơn bào, nhưng thỉnh thoảng 1 hay 2 vách ngăn. Conidia kích
thước trong khoảng (4) 6-13 (20) x (3) 4-8 (12) μm.
Hạch nấm ban đầu có màu xanh đậm hoặc màu trắng về sau chuyển
thành màu đen. Hạch nấm đã biến trong hình dạng và kích cỡ. Hạch nấm có
các hình dạng như: hình ổ bánh, bán cầu, tròn, gần tròn, hình gối hoặc bất
thường trong hình dạng, với bề mặt nhẵn hoặc hoặc gồ ghề. hạch rời rạc hoặc
đôi khi nhập và tích tụ lại. Kích thước của hạch nấm là (0,36) 11/01 (20) x
(0,36) 1 - 8 (11) μm.
Hình 2.1. Một số hình dạng tản nấm Botrytis cinerea Pers
(Mirzeai. S , E. Mohammadi Goltapehp* & M. Shams – akhsh(2007) [57])
Hình 2.2. Một số hình dạng bào tử nấm Botrytis cinerea Pers
(S. Mirzeai, E. Mohammadi Goltapehp* & M. Shams – akhsh, 2007) [57]
Bào tử nấm nảy mầm tốt khi kích thích bởi nồng độ thấp của các loại
đường đơn giản, chẳng hạn như glucose và fructose, cũng như của các axit
amin. Một lượng lớn các axit hữu cơ và độ pH thấp không kích thích sự nảy
mầm của bào tử nấm B.cinerea. Nấm phát triển tốt trên các môi trường như:
môi trường MEA, PDA. MEA hỗ trợ tăng trưởng mạnh mẽ sợi nấm ở 2025°C và phù hợp cho gây được sự khác biệt của hạch nấm (ở 15°C, trong
bóng tối) (Blakeman J.P, 1980) [23].
Tác giả Hennebert và Guilles (1958) [45] chỉ ra rằng trên quả dâu tây
chín ở nhiệt độ tối ưu 20°C bào tử nấm B.cinerea nảy mầm trong vòng 90
phút và trong 2-3 h hầu hết các bào tử nảy mầm, mầm ống kéo dài có một
nhiệt độ tối ưu 30°C và có khả năng thâm nhập sau khoảng 20h.
Ủ các mô thực vật bị nhiễm bệnh thối xám trong một buồng ẩm (độ ẩm
tương đối cao) ở 20-25°C và tiếp xúc với một hỗn hợp của ánh sáng trắng và
tia cực tím gần (360 nm), thúc đẩy nhanh nấm hình thành cành bào tử phân
sinh và bào tử phân sinh. Ánh sáng NUV liên tục, kích thích sự hình thành
bào tử của nấm B. cinerea nhiều hơn so với bóng tối liên tục (Leach C.M,
1962) [52].
Nấm B.cinerea hại trái cây và rau có thể dẫn đến tổn thất nặng nề trong
thời gian bảo quản sau thu hoạch và vận chuyển vì bào tử của nấm có thể nảy
mầm và phát triển ở nhiệt độ thấp tới 0°C. B.cinerea có thể qua đông nhờ
hạch nấm trong đất hoặc mô thực vật bị nhiễm bệnh và sợi nấm trong nguyên
liệu thực vật chết, hoặc vượt qua mùa đông trên cây chủ khác nhau (Barash et
al., (1964) [21].
Giai đoạn sinh sản hữu tính của nấm hiếm trong tự nhiên, nhưng quả
thể đĩa (apothecia) đã được ghi nhận trong tự nhiên ở New York, Mỹ (Polach
P.J và Abawi, 1975) [67], ở Thụy Sĩ (Blank, 1988) [23] và Bulgaria (Vanev
S.G, 1988) [77]. Quả thể đĩa rất khó tìm thấy ở mặt đất lên quả thể đĩa thường
bị bỏ qua như là nguồn truyền chất độc cho nhiều loại cây trồng (Jarvis W.R,
1980a) [50].