NGHIÊN cứu BỆNH héo rũ gốc mốc TRẮNG hại cà CHUA và KHOAI tây tại một số TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - Pdf 52

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA NÔNG HỌC
-------  -------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU BỆNH HÉO RŨ GỐC MỐC TRẮNG
HẠI CÀ CHUA VÀ KHOAI TÂY TẠI MỘT SỐ TỈNH
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG”

Người hướng dẫn
Bộ môn
Người thực hiện
Lớp

: ThS. NGUYỄN THỊ THANH HỒNG
: BỆNH CÂY
: ĐINH THỊ THU HƯỜNG
: BVTVA – K58

HÀ NỘI – 2017


0983772100
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập tại Bộ môn Bệnh cây khoa Nông học, trong
môi trường làm việc thuận lợi, điều kiện đầy đủ về trang thiết bị, dưới sự giúp
đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy cô, cùng với sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, em
đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Để có được kết quả như ngày hôm nay, em xin gửi lời biết ơn chân thành

DANH MỤC BẢNG............................................................................................vi
DANH MỤC HÌNH............................................................................................vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT..........................................................................viii
PHẦN 1 MỞ ĐẦU................................................................................................1
1.2, Mục đích và yêu cầu.......................................................................................3
1.2.1, Mục đích......................................................................................................3
1.2.2, Yêu cầu........................................................................................................3
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU..............................................................4
2.1 Tình hình phát triển và vai trò của cây cà chua...............................................4
2.1.1Tình hình phát triển.......................................................................................4
2.1.2 Vai trò của cây cà chua.................................................................................5
2.2 Tình hình sản xuất và vai trò của cây khoai tây..............................................6
2.2.1 Tình hình sản xuất........................................................................................6
2.2.2 Vai trò của cây khoai tây..............................................................................8
2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng...........................................9
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.............................................................9
2.3.2, Tình hình nghiên cứu trong nước..............................................................14
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU........................................................................................24
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu..................................................................24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu.................................................................................24
3.1.2Vật liệu nghiên cứu.....................................................................................24
3.1.3 Dụng cụ và hóa chất nghiên cứu................................................................24
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu.................................................................24


0983772100
3.3 Nội dung nghiên cứu.....................................................................................25
3.3.1, Ngoài đồng................................................................................................25
3.3.2, Trong phòng thí nghiệm............................................................................25

4.2.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của nấm Sclerotium rolfsii
trên môi trường nhân tạo PGA................................................................45
4.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của ngưỡng pH đến sự phát triển của nấm
Sclerotium rolfsii.....................................................................................47
4.2.5 Hiệu lực ức chế nấm Sclerotium rolfsii của nấm đối kháng Trichoderma
sp. trên môi trường PGA.........................................................................49
4.3 Đánh giá và khảo sát tính gây bệnh của nấm Sclerotium rolfsii....................52
4.3.1 Lây bệnh nhân tạo trong nhà lưới...............................................................52
4.3.2 Kết quả đánh giá hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma sp. đối với
nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng trong điều kiện
chậu vại ở nhà lưới..................................................................................53
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ..................................................................57
5.1 Kết luận.........................................................................................................57
5.2. Kiến nghị......................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................59
PHỤ LỤC SỐ LIỆU XỬ LÝ THỐNG KÊ.........................................................63


0983772100
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần bệnh hại cà chua tại vùng Đồng bằng sông Hồng năm 2016
..............................................................................................................34
Bảng 4.2 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắngtrên cà chua tại Cổ Bi - Gia
Lâm - Hà Nội năm 2016.......................................................................38
Bảng 4.3 Thành phần bệnh hại khoai tây tại vùng Đồng bằng sông Hồng năm 2016
..............................................................................................................39
Bảng 4.4 Sự phát triển của nấm Sclerotium rolfsii trên một số môi trường........42
Bảng 4.5 Đặc điểm hình thái của nấm Sclerotium rolfsii trên môi trường PGA.......44
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm
Sclerotium rolfsii trên môi trường PGA................................................46


Từ viết tắt

1

BVTV

Bảo vệ thực vật

2

CV%

Coefficient of Varuatuin
Hệ số biến động

3

ha

Héc ta

4

HLĐK %

Hiệu lực đối kháng

5



S. rolfsii

Sclerotium rolfsii

12

TLB

Tỷ lệ bệnh

13

WA

Water Agar


0983772100
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1, Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những
thành tựu to lớn, sản lượng lương thực không những đáp ứng đủ nhu cầu trong
nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu lớn.Cùng với sự phát triển cây lương thực
cây khoai tây, cà chua nước ta đã được trồng từ rất lâu. Khoai tây, cà chua, là
một trong những loại rau ăn quả, củ có thời gian sinh trưởng ngắn, hiệu quả kinh
tế cũng như giá trị dinh dưỡng cao, được nhiều người ưa thích, trong quả , củ
chín có nhiều đường, chủ yếu là đường glucoza, nhiều tinh bột, vitamin. Cà
chua, khoai tây, có thể dùng để ăn tươi, nấu chín hay để chế biến đồ hộp như làm

phẩm, đồng thời bảo vệ môi trường. Ngày nay, việc nghiên cứu phòng trừ dịch
hại bằng phương pháp sinh học trong bảo vệ thực vật đã được nhiều nước trên
thế giới quan tâm, như ở Hungari, Philippines và Thái Lan đã nghiên cứu nấm
Trichoderma sp. và sản xuất chế phẩm sinh học này để hạn chế những nấm bệnh
tồn tại trong đất gây hại cho cây trồng nói chung, như nấm: Rhizoctonia sp.,
Sclerotium rolfsii, Fusarium oxysporum,v.v.
Các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Thái Bình, Nam
Định, Hải Dương là nơi sản xuất rau màu với diện tích lớn cùng với xu thế thâm
canh ngày càng cao, diện tích rau màu của vùng Đồng bằng sông Hồng ngày
càng được mở rộng với nhiều chủng loại khác nhau, đặc biệt là trồng các cây ký
chủ chính của bệnh do nấm Sclerotium rolfsii gây ra như cà chua, khoai tây để
kịp thời cung cấp nguồn thực phẩm cho toàn khu vực.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, nhằm góp phần giữ vững
năng suất và phẩm chất cà chua, khoai tây, được sự nhất trí của Bộ môn Bệnh
cây khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam chúng tôi tiến hành


0983772100
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại cà chua và
khoai tây tại một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng”.
1.2, Mục đích và yêu cầu
1.2.1, Mục đích
Điều tra và nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên cà chua, khoai tây
tại một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng.
1.2.2, Yêu cầu
- Điều tra thành phần bệnh trên cây cà chua, khoai tây.
- Điều tra diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây hại trên cà chua tại
vùng Đồng bằng sông Hồng.
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của nấm Sclerotium rolfsii.
- Thử nghiệm hiệu lực ức chế của nấm Trichoderma sp. đối với sự phát

biến, kể từ khi có mục đích sản xuất lớn, người ta kết hợp các đặc điểm tốt của
các loại cà chua thuần chủng với độ ổn định của các loại cà chua thương mại
thông thường.


0983772100
Cà chua đã trở thành một trong những cây trồng thông dụng và được
trồng phổ biến, rộng rãi trên khắp thế giới. Nghiên cứu lịch sử trồng trọt cho biết
đến tận thế kỉ thứ 19, cà chua vẫn chỉ được trồng như một cây cảnh nhờ màu sắc
đẹp của quả. Ngày nay, người ta đã biết ankaloid trong quả cà chua là tomatin,
một chất ít độc kể cả khi nó có hàm lượng rất cao. Bởi vậy, sản xuất và sử dụng
cà chua trên thế giới không ngừng tăng lên. Từ năm 1990-2001 diện tích trồng
cà chua trên thế giới từ 2.868,443 ha tăng lên 3.745,299 ha và sản lượng từ
76.022,112 tấn tăng lên 100.259,346 tấn.
Ở nước ta, cà chua được trồng trên 100 năm nay, diện tích trồng cà chua
hàng năm biến động 12.000-13.000 ha. Theo thống kê sơ bộ năm 2005 thì diện
tích trồng cà chua cả nước là 23.354 ha tăng 3,34 lần so với năm 2000 (6967
ha), với năng suất trung bình đạt 198 tạ/ha cho sản lượng đạt 462,435 tấn. Năng
suất cà chua ở nước ta nói chung còn thấp, chỉ khoảng 60- 65% so với năng suất
bình quân của thế giới. Các vùng trồng cà chua lớn nhất ở nước ta là : Hải
Dương, Nam Định, Bắc Giang, Lâm Đồng… đây là những vùng trồng cà chua
đạt năng suất cao nhất cả nước ( năng suất ≥ 200 tạ/ha).
Trong sản xuất cà chua nước ta từ năm 2008-2011 đã đánh dấu sự ra đời
cuộc cách mạng lần thứ hai, cà chua chất lượng cao. Với những thành tựu về tạo
ra các bộ giống cà chua lai chất lượng cao và các quy trình công nghệ phát triển
sản xuất đã và đang ra đời và tiếp tục phát triển, hoàn thiện, chúng ta hoàn toàn
có thể đưa nền sản xuất cà chua nhỏ lẻ, chủ yếu là cây gia vị thành nền sản xuất
lớn với đa dạng về các chủng loại sản phẩm, có mức tiêu thụ lớn, cung cấp cho
thị trường trong nước và nước ngoài, đem lại kim ngạch vượt hơn nhiều so với
xuất khẩu gạo.

2.2.1 Tình hình sản xuất
Trên thế giới, khoai tây được xếp là cây lương thực - thực phẩm quan
trọng hàng thứ ba, sau lúa nước, lúa mì, với tổng diện tích năm 2005 đạt 20 triệu
hecta, tổng sản lượng 320 triệu tấn và mức tăng trưởng trung bình 2,02% mỗi
năm (Trung tâm Khoai tây Quốc tế - CIP, 2000). Trong vòng 45 năm (1960-


0983772100
2005), sản xuất khoai tây có xu hướng dịch chuyển mạnh từ các nước phát
triển sang các nước đang phát triển với tỷ lệ (%) tương ứng là 89/11 năm
1960 và 64/36 năm 2005. Theo dự báo của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO),
tỷ lệ này sẽ là 50/50 vào năm 2020. Sự gia tăng của sản xuất khoai tây khu vực
các nước đang phát triển diễn ra chủ yếu ở các nước châu Á (4 lần) và Mỹ Latin
(2 lần) (Wang, 2002), trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia hàng đầu
về sản xuất là tiêu thụ khoai tây (CIP, 2000).
Chế biến khoai tây là ngành công nghiệp quan trọng mỗi năm sử dụng
khoảng 10% sản lượng khoai tây thế giới (CIP, 2000). Khoai tây chiên lát (chip)
là sản phẩm chế biến rất phổ biến, mỗi năm đem lại doanh thu 16,4 tỷ đôla Mỹ
(2005), chiếm 35,5% tổng doanh thu của các loại thực phẩm ăn nhanh (snacks)
toàn cầu (Wikipedia, 2005).
Ở Việt Nam, khoai tây vốn được sử dụng như một loại rau cao cấp.
Những năm 1970-1980, cùng với việc mở ra cơ cấu vụ Đông ở Đồng bằng sông
Hồng (ĐBSH) và để góp phần giải quyết vấn đề thiếu lương thực, cây khoai tây
được chú trọng đưa thành cây lương thực quan trọng của vụ Đông. Năm 1979,
diện tích khoai tây cả nước tăng đột biến từ chỉ vài ngàn hecta lên trăm ngàn
hecta. Tuy nhiên, diện tích khoai tây giảm nhanh chóng trong những năm sau đó
và duy trì ổn định ở quy mô 30-35 ngàn ha trong vòng 20 năm qua. Thị trường
tiêu dùng chủ yếu cũng là thị trường sử dụng khoai tây tươi.
Cùng với tiến trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập, tập quán ăn uống
của người Việt Nam cũng dần có những thay đổi đáng kể theo hướng tăng dần

hình thức chủ yếu của cacbonhydrat này là tinh bột. Một phần nhỏ trong đó có
khả năng chống tiêu hoá từ enzym trong dạ dày và ruột non. Tinh bột khoáng
này được coi là có hiệu ứng sinh lý và lợi ích cho sức khỏe giống chất xơ: là
chống ung thư ruột kết, tăng khả năng nạp glucose, giảm nồng độ cholesterol và


0983772100
chất béo trung tính trong huyết tương, tăng cảm giác no, thậm chí nó có thể làm
giảm chất béo tích trữ trong cơ thể. Cách chế biến khoai tây có thể làm thay đổi
đáng kể hàm lượng dinh dưỡng, ví dụ khoai tây nấu chín chứa 7% tinh bột
khoáng, khi làm nguội đi thì nó tăng lên 13%.
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc báo cáo rằng sản
lượng khoai tây toàn Thế giới năm 2010 là 320 triệu tấn. Trong đó chỉ hơn 2/3 là
thức ăn trực tiếp của con người, còn lại là thức ăn cho động vật và nguyên liệu
sản xuất tinh bột. Điều này cho thấy chế độ ăn hàng năm của mỗi công dân toàn
cầu trung bình trong thập kỷ đầu thế kỷ 21 là 33kg khoai tây, châu Âu là nơi sản
xuất khoai tây bình quân đầu người cao nhất Thế giới, trong khi hiện nay Trung
Quốc là nước sản xuất khoai tây lớn nhất Thế giới, riêng sản lượng khoai tây sản
xuất ở Trung Quốc và Ấn Độ chiếm một phần ba sản lượng toàn cầu. Sự thay
đổi địa lý của sản xuất khoai tây đã được đi từ các nước giàu đối với khu vực có
thu nhập thấp trên thế giới, mặc dù mức độ của xu hướng này là không rõ ràng.
Trong năm 2008, một số tổ chức quốc tế nêu bật vai trò của khoai tây đối
với lương thực thế giới. Họ trích dẫn tiềm năng của khoai tây là một loại cây
trồng ít tốn kém công chăm sóc và thích hợp với nhiều loại khí hậu và địa
phương. Do củ khoai tây nhanh hỏng, chỉ 5% sản lượng được giao dịch quốc tế,
đóng góp ít vào việc ổn định thị trường lương thực trong cuộc khủng hoảng
lương thực năm 2007-2008. Liên Hiệp Quốc chính thức tuyên bố năm 2008 là
năm quốc tế về khoai tây để nâng cao hình ảnh của khoai tây ở các quốc gia
đang phát triển, gọi nó là cây lương thực “kho báu”
2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng

thành hạch nấm. Sợi nấm đa bào, không màu, phân nhánh, có mấu lồi. Bệnh lan
truyền do quá trình làm đất và do tồn dư bệnh trong đất, hoặc cây con bị nhiễm
bệnh từ giai đoạn vườn ươm. Sự xâm nhiễm của nấm S. rolfsii vào mô cây ký
chủ xảy ra rất dễ dàng do nấm tiết ra các enzyme và acid oxalic làm mềm yếu và
giết chết mô cây ký chủ (Smith and Lee, 1986).


0983772100
Nấm S. rolfsii giai đoạn sinh sản hữu tính có tên là Athrium rolfsii. Sợi
nấm màu trắng, đa bào phát triển mạnh trên bề mặt mô bệnh. Từ sợi nấm hình
thành các hạch nấm, khi còn non hạch nấm màu trắng về sau chuyển thành màu
nâu hoặc màu nâu đậm, đường kính hạch nấm biến động từ 1-2mm. Hạch nấm
có thể tồn tại từ năm này sang năm khác ở tầng đất mặt, tầng đất canh tác
(Glushah, 1992).
Theo Carter (1993), nấm S. rolfsii thuộc loại vi sinh vật hảo khí, thích hợp
phát triển trong điều kiện có nhiệt độ và ẩm độ cao.
Kết quả nghiên cứu của Elizabeth thuộc Đại học NC State (Hoa Kỳ) cho
rằng có ít nhất hai loại sợi nấm của S. rolfsii: dạng sợi thô, thẳng, tế bào lớn
(kích thước tế bào 2-9µm x 150-250µm) có hai mấu liên kết tại mỗi vách ngăn
nhưng có thể vẫn biểu hiện sự phân nhánh tại mỗi mấu nối. Sự phân nhánh
thường cho sợi nấm mảnh (đường kình sợi khoảng 1,5-2,5µm) và có xu hướng
phát triển không bình thường, thiếu mấu liên kết nối. Dạng sợi mảnh thường
được thấy thâm nhập vào giá thể.
Hạch có hai kiểu nảy mầm: hoặc là sợi nấm lần lượt phát triển vươn ra
khỏi bề mặt hạch phát triển không tập trung, hoặc là một loạt các sợi nấm phát
triển phá vỡ hạch gọi là sự nảy mầm đồng loạt. Số lượng sợi nấm và năng lượng
cần cho sự lây nhiễm do kiểu nảy mầm của hạch quyết định. Sự sinh trưởng của
sợi nấm lần lượt từ hạch để lây nhiễm vào mô ký chủ cần có nguồn dinh dưỡng
vô cơ vì sợi nấm sinh trưởng thưa thớt, không tập trung. Tuy nhiên, hạch nảy
mầm đồng loạt thì không cần bất cứ một nguồn dinh dưỡng ngoại sinh nào.

nhất cho bệnh sinh trưởng phát triển là 25-30ºC.
Theo Okabe (2000), ở Nhật Bản đã xác định nấm S. rolfsii có 5 nhóm là:
1, 2, 3, 4, 5. Trong đó nhóm 1 rất phổ biến, gây hại ở các vùng địa lý có nhiệt độ
cao từ 28ºC-30ºC. Bệnh xuất hiện ở phần gốc rễ và thân sát mặt đất, vết bệnh
màu nâu đen. Trên vết bệnh có lớp mốc trắng giống như bông phủ kín bề mặt
đôi khi lan cả ra mặt đất, cây bị héo, từ lớp nấm hình thành các hạch nấm.


0983772100
Bằng những phân tích HPLC, Harlton lai các isolate nấm S. rolfsii thu
thập từ khắp các vùng khác nhau của Ấn Độ, tác giả đã xác định được sự đa
dạng di truyền của các isolate. Chúng khác nhau ở thành phần và liều lượng các
acid: gallic, oxalic, ferulic, indol- 3- acetic acid, chlorogennic, cinnamic. Trong
quá trình hình thành hạch có sự tiết dịch (hạch tiết dịch sau 7-10 ngày cấy) và
phân tích thành phần dịch chiết này cộng với việc lai các isolate, kết quả cho
thấy các cặp lai nếu cùng isolate thì chúng sinh trưởng đan xen vào nhau, nếu
không cùng isolate thì chúng tạo thành dải phân cách giữa hai isolate. Tuy nhiên
có ít hạch được hình thành sau đó tại vùng phân giải của một số cặp isolate
nhưng không đạt được kích thước đầy đủ như đối với hạch được hình thành ở
bên trong vùng phân giải. Ở Mỹ, sự đa dạng di truyền được phân thành hai
chủng S. rolfsii và S. delphinii. Nấm S.rolfsii có khả năng gây hại ở hầu hết các
nước trồng lạc trên thế giới và làm giảm năng suất từ 10-25%, ở những vùng bị
nhiễm nặng, mức độ thiệt hại lên đến 80%. Vào năm 1959, ngành nông nghiệp
Mỹ ước tính mất khoảng 10-20 triệu USD liên quan đến S. rolfsii gây hại ở các
vùng trồng lạc phía nam, khiến cho năng suất lạc giảm từ 1- 6% (Elizabeth, 2008).
Thiệt hại về năng suất của cây trồng còn cao hơn khi nấm S. rolfsii cùng
gây hại với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne sp. Những nghiên cứu về mối
quan hệ giữa nấm S. rolfsii với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne incognita và
biện pháp phòng trừ chúng cũng được nhiều tác giả đề cập đến. Phổ ký chủ của
nấm S. rolfsii được mở rộng thêm khi có mặt của tuyến trùng cùng tấn công,

Bệnh héo rũ trắng gốc còn gọi là bệnh héo gốc mốc trắng, bệnh thối trắng
do nấm S. rolfsii Sacc. gây ra, nấm gây hại không những trên cà chua mà còn ký
sinh phá hại trên hàng trăm loài cây trồng khác bao gồm nhiều loài cây có giá trị
kinh tế quan trọng như khoai tây, đậu tương, lạc, ớt, đậu đỗ, bầu bí, hoa, cây
cảnh...(Đỗ Tấn Dũng, 2001).
Nấm tồn tại trong đất và tàn dư cây bệnh, lan truyền do quá trình làm đất,
cây giống nhiễm bệnh từ vườn ươm. Nấm xâm nhập vào gốc cây con, cây
trưởng thành, sử dụng chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng, sản sinh ra axit oxalic


0983772100
và men làm phân hủy mô cây chủ. Trên ruộng sản xuất bệnh thường xuất hiện
nhiều sau khi trồng khoảng 50 ngày (khi cây có quả) (Nguyễn Văn Viên và Đỗ
Tấn Dũng, 2003)
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng là một trong những loại bệnh hại phổ biến,
phát sinh gây hại trên nhiều loại cây trồng cạn khác nhau, ở các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau của cây. Tác hại chủ yếu của bệnh là gây nên hiện tượng héo
rũ, chết cây và làm ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng phát triển của cây và
đến năng suất. Bệnh héo rũ gốc mốc trắng phát sinh gây hại trên nhiều loại cây
trồng cạn khác nhau ở vùng Hà Nội và phụ cận. Nhìn chung bệnh thường xuất
hiện trên đồng ruộng từ sau trồng 16- 23 ngày trở đi, bệnh có xu hướng tăng dần
vào giai đoạn cây bắt đầu ra hoa - hình thành quả. Tỷ lệ bệnh héo rũ gốc mốc
trắng trên các loại cây trồng điều tra thường đạt cao nhất vào thời điểm sau trồng
58-72 ngày. Kết quả điều tra mức độ nhiễm bệnh trên các cây cà chua, lạc, đậu
tương, đậu xanh, đậu trạch, dưa chuột có tỷ lệ bệnh cao nhất tương ứng là: 6,9%;
11,6%; 14,8%; 7,2%; 8,4% và 3,9% (Đỗ Tấn Dũng, 2006).
Theo Nguyễn Kim Vân và cộng sự (2002), bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây
ra bởi nấm S. rolfsii trên cây lạc, cà chua, đậu tương, bầu bí, ngô…là một trong
những bệnh hại nguy hiểm trên cây trồng cạn ở miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt,
trong điều kiện thời tiết nắng nóng và ẩm ướt. Bệnh hại tất cả các bộ phận trên

nấm hình thành các hạch nấm non màu trắng. Khi già có màu nâu đậm kích
thước bằng hạt cải. Hạch nấm tồn tại rất lâu trong đất (Vũ Triệu Mân và Lê
Lương Tề, 1998).
Vết bệnh xuất hiện trên gốc cây sát mặt đất, lúc đầu vết bệnh nhỏ, màu
nâu tươi, hơi lõm, sau đó vết bệnh lan rộng có thể dài tới 2- 4 cm, bao quanh gốc
cây và lan xuống cổ rễ dưới mặt đất. Mô bị bệnh bị phân hủy dần. Lá phía dưới
gốc bị vàng trước, sau đó đến các lá phía trên. Ban ngày vào buổi trưa hoặc
chiều khi nhiệt độ cao, hoặc những ngày trời nắng to cây biểu hiện héo rũ, buổi
chiều tối, đêm và sáng sớm cây lại phục hồi tươi trở lại. Trên vết bệnh ở gốc
xuất hiện lớp nấm trắng, sợi nấm đâm tia lan dần ra mặt đất xung quanh gốc cây


0983772100
tạo thành một đám nấm màu trắng xốp như bông, sau đó từ sợi nấm hình thành
các hạch nấm, lúc đầu hạch nấm màu trắng, sau màu vàng, cuối cùng có màu
nâu đậm. Cây con bị bệnh chết nhanh hơn cây trưởng thành. Rễ cây bị bệnh dần
dần hóa nâu, thối mục, cây chết khô, thân màu nâu (Nguyễn Văn Viên và Đỗ
Tấn Dũng, 2003).
Theo Nguyễn Thị Mai Chi và cộng sự (2005), bệnh gây chết cây con ngay
từ giai đoạn đầu, nhưng giai đoạn hại nghiêm trọng nhất là vào thời kỳ cuối vào
chắc và thu hoạch. Triệu chứng điển hình của bệnh là chết héo cây và thối quả,
hạt. Bệnh thường gặp và gây hại nặng tại các chân đất trũng, không thoát nước
hay gặp điều kiện thời tiết mưa ẩm kéo dài, tỷ lệ bệnh trung bình từ 5- 20%,
trong quá trình điều tra đã ghi nhận trường hợp tỷ lệ bệnh lên tới hơn 60%, ảnh
hưởng nghiêm trọng tới năng suất quả.
Cây bị héo rũ, xanh hoặc hơi vàng. Cổ rễ và đoạn thân ngầm bị bệnh có
vết màu nâu, thối mục, khô xác, nhổ cây dễ bị đứt gốc, trên gốc thân cây bệnh
mọc lớp nấm trắng đâm tia lan rộng ra mặt đất, hình thành nhiều hạch nấm hình
tròn như hạt cải màu trắng, về sau có màu nâu hạt chè (Vũ triệu Mân, 2007).
Triệu chứng đặc trưng của bệnh trên các cây trồng cạn đó là vết bệnh xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status