HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA NÔNG HỌC
------- -------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU BỆNH HÉO RŨ GỐC MỐC TRẮNG
HẠI CÀ CHUA VÀ KHOAI TÂY TẠI MỘT SỐ TỈNH
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG”
Người hướng dẫn
Bộ môn
Người thực hiện
Lớp
: ThS. NGUYỄN THỊ THANH HỒNG
: BỆNH CÂY
: ĐINH THỊ THU HƯỜNG
: BVTVA – K58
HÀ NỘI – 2017
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập tại Bộ môn Bệnh cây khoa Nông học, trong
môi trường làm việc thuận lợi, điều kiện đầy đủ về trang thiết bị, dưới sự giúp
đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy cô, cùng với sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, em
đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Để có được kết quả như ngày hôm nay, em xin gửi lời biết ơn chân thành
tới ThS. Nguyễn Thị Thanh Hồng , TS. Nguyễn Đức Huy đã tận tình chỉ dạy,
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT..........................................................................viii
PHẦN 1 MỞ ĐẦU................................................................................................1
1.2, Mục đích và yêu cầu.......................................................................................3
1.2.1, Mục đích......................................................................................................3
1.2.2, Yêu cầu........................................................................................................3
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU..............................................................4
2.1 Tình hình phát triển và vai trò của cây cà chua...............................................4
2.1.1Tình hình phát triển.......................................................................................4
2.1.2 Vai trò của cây cà chua.................................................................................5
2.2 Tình hình sản xuất và vai trò của cây khoai tây..............................................6
2.2.1 Tình hình sản xuất........................................................................................6
2.2.2 Vai trò của cây khoai tây..............................................................................8
2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng...........................................9
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.............................................................9
2.3.2, Tình hình nghiên cứu trong nước..............................................................14
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU........................................................................................24
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu..................................................................24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu.................................................................................24
3.1.2Vật liệu nghiên cứu.....................................................................................24
3.1.3 Dụng cụ và hóa chất nghiên cứu................................................................24
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu.................................................................24
3.3 Nội dung nghiên cứu.....................................................................................25
3.3.1, Ngoài đồng................................................................................................25
3.3.2, Trong phòng thí nghiệm............................................................................25
3.3.3, Nhà lưới.....................................................................................................25
3.4 Phương pháp nghiên cứu...............................................................................25
3.4.1 Phương pháp điều tra mức độ và tính tỉ lệ bệnh.........................................25
4.2.5 Hiệu lực ức chế nấm Sclerotium rolfsii của nấm đối kháng Trichoderma
sp. trên môi trường PGA.........................................................................49
4.3 Đánh giá và khảo sát tính gây bệnh của nấm Sclerotium rolfsii....................52
4.3.1 Lây bệnh nhân tạo trong nhà lưới...............................................................52
4.3.2 Kết quả đánh giá hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma sp. đối với
nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng trong điều kiện
chậu vại ở nhà lưới..................................................................................53
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ..................................................................57
5.1 Kết luận.........................................................................................................57
5.2. Kiến nghị......................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................59
PHỤ LỤC SỐ LIỆU XỬ LÝ THỐNG KÊ.........................................................63
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần bệnh hại cà chua tại vùng Đồng bằng sông Hồng năm 2016
..............................................................................................................34
Bảng 4.2 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắngtrên cà chua tại Cổ Bi - Gia
Lâm - Hà Nội năm 2016.......................................................................38
Bảng 4.3 Thành phần bệnh hại khoai tây tại vùng Đồng bằng sông Hồng năm 2016
..............................................................................................................39
Bảng 4.4 Sự phát triển của nấm Sclerotium rolfsii trên một số môi trường........42
Bảng 4.5 Đặc điểm hình thái của nấm Sclerotium rolfsii trên môi trường PGA.......44
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm
Sclerotium rolfsii trên môi trường PGA................................................46
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của pH đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm.............48
Bảng 4.8: Hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma sp. với nấm Sclerotium
rolfsii trên môi trường PGA..................................................................50
Bảng 4.9 Lây bệnh nhân tạo trên cây cà chua và khoai tây................................53
Bảng 4.10 Kết quả khảo sát hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma sp. đối
Bảo vệ thực vật
2
CV%
Coefficient of Varuatuin
Hệ số biến động
3
ha
Héc ta
4
HLĐK %
Hiệu lực đối kháng
5
HRGMT
Héo rũ gốc mốc trắng
6
ĐBSH
TLB
Tỷ lệ bệnh
13
WA
Water Agar
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1, Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những
thành tựu to lớn, sản lượng lương thực không những đáp ứng đủ nhu cầu trong
nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu lớn.Cùng với sự phát triển cây lương thực
cây khoai tây, cà chua nước ta đã được trồng từ rất lâu. Khoai tây, cà chua, là
một trong những loại rau ăn quả, củ có thời gian sinh trưởng ngắn, hiệu quả kinh
tế cũng như giá trị dinh dưỡng cao, được nhiều người ưa thích, trong quả , củ
chín có nhiều đường, chủ yếu là đường glucoza, nhiều tinh bột, vitamin. Cà
chua, khoai tây, có thể dùng để ăn tươi, nấu chín hay để chế biến đồ hộp như làm
mứt cà chua, mỳ sợi khoai tây, khoai tây chiên đóng hộp, kẹo ngọt, nước ép cà
chua …
Việt Nam là một nước khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thuận lợi cho cây
khoai tây, cà chua sinh trưởng và phát triển. Bên cạnh đó còn thuận lợi cho một
số loài sâu bệnh phát sinh gây hại, đáng chú ý là bệnh do nấm truyền qua đất
như bệnh héo rũ gốc mốc trắng Sclerotium rolfsii, bệnh héo xanh vi khuẩn
Ralstonia solanacearum, bệnh héo vàng Fusarium oxysporum, bệnh lở cổ rễ
Rhizoctonia solani,... Bệnh gây hại nặng từ khi cây ra hoa đến cuối giai đoạn
càng được mở rộng với nhiều chủng loại khác nhau, đặc biệt là trồng các cây ký
chủ chính của bệnh do nấm Sclerotium rolfsii gây ra như cà chua, khoai tây để
kịp thời cung cấp nguồn thực phẩm cho toàn khu vực.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, nhằm góp phần giữ vững
năng suất và phẩm chất cà chua, khoai tây, được sự nhất trí của Bộ môn Bệnh
cây khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại cà chua và
khoai tây tại một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng”.
1.2, Mục đích và yêu cầu
1.2.1, Mục đích
Điều tra và nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên cà chua, khoai tây
tại một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng.
1.2.2, Yêu cầu
- Điều tra thành phần bệnh trên cây cà chua, khoai tây.
- Điều tra diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây hại trên cà chua tại
vùng Đồng bằng sông Hồng.
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của nấm Sclerotium rolfsii.
- Thử nghiệm hiệu lực ức chế của nấm Trichoderma sp. đối với sự phát
triển của nấm Sclerotium rolfsii trên môi trường PGA.
- Thử nghiệm hiệu lực phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng bằng chế
phẩm nấm đối kháng Trichoderma sp. trong điều kiện chậu vại ở nhà lưới.
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình phát triển và vai trò của cây cà chua
2.1.1Tình hình phát triển
Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill ) là một loại rau ăn quả có giá trị
cà chua trên thế giới từ 2.868,443 ha tăng lên 3.745,299 ha và sản lượng từ
76.022,112 tấn tăng lên 100.259,346 tấn.
Ở nước ta, cà chua được trồng trên 100 năm nay, diện tích trồng cà chua
hàng năm biến động 12.000-13.000 ha. Theo thống kê sơ bộ năm 2005 thì diện
tích trồng cà chua cả nước là 23.354 ha tăng 3,34 lần so với năm 2000 (6967
ha), với năng suất trung bình đạt 198 tạ/ha cho sản lượng đạt 462,435 tấn. Năng
suất cà chua ở nước ta nói chung còn thấp, chỉ khoảng 60- 65% so với năng suất
bình quân của thế giới. Các vùng trồng cà chua lớn nhất ở nước ta là : Hải
Dương, Nam Định, Bắc Giang, Lâm Đồng… đây là những vùng trồng cà chua
đạt năng suất cao nhất cả nước ( năng suất ≥ 200 tạ/ha).
Trong sản xuất cà chua nước ta từ năm 2008-2011 đã đánh dấu sự ra đời
cuộc cách mạng lần thứ hai, cà chua chất lượng cao. Với những thành tựu về tạo
ra các bộ giống cà chua lai chất lượng cao và các quy trình công nghệ phát triển
sản xuất đã và đang ra đời và tiếp tục phát triển, hoàn thiện, chúng ta hoàn toàn
có thể đưa nền sản xuất cà chua nhỏ lẻ, chủ yếu là cây gia vị thành nền sản xuất
lớn với đa dạng về các chủng loại sản phẩm, có mức tiêu thụ lớn, cung cấp cho
thị trường trong nước và nước ngoài, đem lại kim ngạch vượt hơn nhiều so với
xuất khẩu gạo.
2.1.2 Vai trò của cây cà chua
Cà chua là loại rau quả quý được sử dụng rộng rãi trên thế giới hơn 150
năm qua. Trong quả chín có nhiều chất dinh dưỡng như đường, vitaminA,
vitamin C và các chất khoáng quan trọng như Ca, Fe, P, K, Mg…
Cà chua còn được sử dụng về mặt thẩm mỹ và y học: Cà chua có thể dùng
để chống tiêu chảy, chữa bỏng nắng, giảm đau, làm lành vết thương. Cà chua
còn làm thuốc tăng lực, bổ gan và chống xơ gan, sử dụng cà chua hàng ngày
giúp chúng ta tiêu hoá khi ăn nhiều mỡ động vật, trứng, phomat…phòng được
bệnh xơ cứng thành mạch. Phụ nữ dùng quả cà chua đắp mặt hàng ngày làm cho
da căng sáng, không nếp nhăn, chống lão hoá. Trong cà chua còn chứa các
về sản xuất là tiêu thụ khoai tây (CIP, 2000).
Chế biến khoai tây là ngành công nghiệp quan trọng mỗi năm sử dụng
khoảng 10% sản lượng khoai tây thế giới (CIP, 2000). Khoai tây chiên lát (chip)
là sản phẩm chế biến rất phổ biến, mỗi năm đem lại doanh thu 16,4 tỷ đôla Mỹ
(2005), chiếm 35,5% tổng doanh thu của các loại thực phẩm ăn nhanh (snacks)
toàn cầu (Wikipedia, 2005).
Ở Việt Nam, khoai tây vốn được sử dụng như một loại rau cao cấp.
Những năm 1970-1980, cùng với việc mở ra cơ cấu vụ Đông ở Đồng bằng sông
Hồng (ĐBSH) và để góp phần giải quyết vấn đề thiếu lương thực, cây khoai tây
được chú trọng đưa thành cây lương thực quan trọng của vụ Đông. Năm 1979,
diện tích khoai tây cả nước tăng đột biến từ chỉ vài ngàn hecta lên trăm ngàn
hecta. Tuy nhiên, diện tích khoai tây giảm nhanh chóng trong những năm sau đó
và duy trì ổn định ở quy mô 30-35 ngàn ha trong vòng 20 năm qua. Thị trường
tiêu dùng chủ yếu cũng là thị trường sử dụng khoai tây tươi.
Cùng với tiến trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập, tập quán ăn uống
của người Việt Nam cũng dần có những thay đổi đáng kể theo hướng tăng dần
các loại thực phẩm chế biến sẵn, thực phẩm ăn nhanh, do yêu cầu của nếp sống
công nghiệp và sự gia tăng thu nhập bình quân. Đây cũng là xu thế chung đã và
đang diễn ra ở các nước đang phát triển trong khu vực như Thái Lan, Indonesia,
… (Fuglie et al., 2002). Chip khoai tây là món ăn được hầu hết người tiêu dùng
ưa thích và có xu hướng phát triển rộng rãi. Tuy nhiên, chip có chất lượng cao từ
chế biến công nghiệp tới nay vẫn được nhập khẩu là chủ yếu.
Hiện nay, tại Việt Nam đã có một số công ty quan tâm và đầu tư ngành
sản xuất khoai tây chip, nổi bật là PepsiCo VN, Cty An Lạc, Cty Orion, Cty
Kinh Đô. Trong đó Công ty PepsiCo VN và Công ty Orion là hai công ty có đầu
tư mạnh nhất về lĩnh vực này với các nhà máy chế biến được xây dựng với mức
chi phí cho mỗi nhà máy khoảng 30-35 triệu USD (Hiện tại, Công ty Orion đã
có 2 nhà máy, công ty Pepsico đang xây dựng nhà máy tại Khu Công nghiệp
xuất khoai tây bình quân đầu người cao nhất Thế giới, trong khi hiện nay Trung
Quốc là nước sản xuất khoai tây lớn nhất Thế giới, riêng sản lượng khoai tây sản
xuất ở Trung Quốc và Ấn Độ chiếm một phần ba sản lượng toàn cầu. Sự thay
đổi địa lý của sản xuất khoai tây đã được đi từ các nước giàu đối với khu vực có
thu nhập thấp trên thế giới, mặc dù mức độ của xu hướng này là không rõ ràng.
Trong năm 2008, một số tổ chức quốc tế nêu bật vai trò của khoai tây đối
với lương thực thế giới. Họ trích dẫn tiềm năng của khoai tây là một loại cây
trồng ít tốn kém công chăm sóc và thích hợp với nhiều loại khí hậu và địa
phương. Do củ khoai tây nhanh hỏng, chỉ 5% sản lượng được giao dịch quốc tế,
đóng góp ít vào việc ổn định thị trường lương thực trong cuộc khủng hoảng
lương thực năm 2007-2008. Liên Hiệp Quốc chính thức tuyên bố năm 2008 là
năm quốc tế về khoai tây để nâng cao hình ảnh của khoai tây ở các quốc gia
đang phát triển, gọi nó là cây lương thực “kho báu”
2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nấm Sclerotium rolfsii (S. rolfsii) gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên
nhiều loại cây trồng thuộc nhiều họ thực vật ở khắp các vùng sinh thái nông
nghiệp trên thế giới. Ví dụ như cà chua, khoai tây, lạc, đậu tương, dưa lê, dưa
chuột… thường bị nấm S. rolfsii gây hại nặng.
S. rolfsii là một loại nấm đa thực có nguồn gốc trong đất. Nấm này được
biết đến như là một trong những tác nhân gây mất mùa trong nhiều thế kỷ và
được mô tả lần đầu tiên bởi Peter Henry Rolfs vào năm 1892 khi nghiên cứu
bệnh tàn lụi cà chua (tomato blight) tại Florida - Mỹ. Cho đến nay đã có hơn
2000 báo cáo xác nhận sự xuất hiện và gây hại của S. rolfsii trên toàn thế giới
(Elizabeth, 2008).
Trên thế giới đã nghiên cứu, xác định được phạm vi ký chủ của nấm hạch
S.rolfsii Sacc. với ít nhất 500 loại cây trồng thuộc 100 họ thực vật. Những cây
ký chủ mẫn cảm nhất với bệnh gồm: họ cà (cà chua, khoai tây, cà pháo), họ hoa
(kích thước tế bào 2-9µm x 150-250µm) có hai mấu liên kết tại mỗi vách ngăn
nhưng có thể vẫn biểu hiện sự phân nhánh tại mỗi mấu nối. Sự phân nhánh
thường cho sợi nấm mảnh (đường kình sợi khoảng 1,5-2,5µm) và có xu hướng
phát triển không bình thường, thiếu mấu liên kết nối. Dạng sợi mảnh thường
được thấy thâm nhập vào giá thể.
Hạch có hai kiểu nảy mầm: hoặc là sợi nấm lần lượt phát triển vươn ra
khỏi bề mặt hạch phát triển không tập trung, hoặc là một loạt các sợi nấm phát
triển phá vỡ hạch gọi là sự nảy mầm đồng loạt. Số lượng sợi nấm và năng lượng
cần cho sự lây nhiễm do kiểu nảy mầm của hạch quyết định. Sự sinh trưởng của
sợi nấm lần lượt từ hạch để lây nhiễm vào mô ký chủ cần có nguồn dinh dưỡng
vô cơ vì sợi nấm sinh trưởng thưa thớt, không tập trung. Tuy nhiên, hạch nảy
mầm đồng loạt thì không cần bất cứ một nguồn dinh dưỡng ngoại sinh nào.
Hạch nấm và sợi nấm chính là nguồn bệnh ban đầu trên đồng ruộng. Trên
tàn dư cây trồng, nấm bệnh tồn tại như một dạng nấm hoại sinh, thậm chí trên cả
tàn dư của những cây không phải là ký chủ của nấm. Hạch nấm tồn tại từ năm
này sang năm khác ở lớp đất mặt nhưng không tồn tại được ở những lớp đất bị
ngập sâu.
Điều kiện độ ẩm đất cao là môi trường thuận lợi cho nấm này tồn tại và
phát triển. Ở trong đất tỷ lệ sống sót của hạch nấm từ 56-73% sau 8-10 tháng
(Baute et al.,1981). Một số chủng nấm S. rolfsii có khả năng hình thành bào tử
đảm khi nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, giai đoạn đảm có tên là Corticium
rolfsii Curzi. Giai đoạn này hiếm khi bắt gặp trên đồng ruộng. Bào tử đảm
thường được hình thành ở bên cạnh vết bệnh và trong điều kiện không có ánh
sáng mặt trời. Chúng có thể được tạo ra với số lượng lớn và phát tán vào không
khí (Stephen et al., 1992). Nấm S. rolfsii có thể sống sót và phát triển mạnh mẽ
trong phạm vi môi trường rất rộng, nấm có thể sinh trưởng trong phạm vi pH
rộng, nhất là trong đất có tính acid. Nấm sinh trưởng thuận lợi nhất trong khoảng
pH từ 3-5, hạch có thể nảy mầm trong điều kiện pH từ 2-5. Khi pH > 7 sẽ kìm
chủng S. rolfsii và S. delphinii. Nấm S.rolfsii có khả năng gây hại ở hầu hết các
nước trồng lạc trên thế giới và làm giảm năng suất từ 10-25%, ở những vùng bị
nhiễm nặng, mức độ thiệt hại lên đến 80%. Vào năm 1959, ngành nông nghiệp
Mỹ ước tính mất khoảng 10-20 triệu USD liên quan đến S. rolfsii gây hại ở các
vùng trồng lạc phía nam, khiến cho năng suất lạc giảm từ 1- 6% (Elizabeth, 2008).
Thiệt hại về năng suất của cây trồng còn cao hơn khi nấm S. rolfsii cùng
gây hại với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne sp. Những nghiên cứu về mối
quan hệ giữa nấm S. rolfsii với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne incognita và
biện pháp phòng trừ chúng cũng được nhiều tác giả đề cập đến. Phổ ký chủ của
nấm S. rolfsii được mở rộng thêm khi có mặt của tuyến trùng cùng tấn công,
xâm nhiễm và gây hại. Sản xuất đậu xanh gặp nhiều khó khăn do sự gây hại của
tuyến trùng Meloidogyne javannica và nấm S. rolfsii.
Việc phòng trừ nấm S. rolfsii phải có sự kết hợp biện pháp canh tác, biện
pháp sinh học và biện pháp hóa học với nhau. Về biện pháp canh tác như: cày
đất sâu 20cm và lật úp, lạc vụ hè bị nhiễm bệnh ít hơn trên ruộng trồng hành vụ
đông. Rõ ràng, hành đã tiết dịch làm giảm sự lây nhiễm nấm trong đất. Phơi đất
hoặc dùng sức nóng của mặt trời có liên quan chặt chẽ với các biện pháp phòng
trừ nấm S. rolfsii. Hạch nấm vẫn có thể sinh trưởng được trong ống nghiệm sau
12 tiếng để ở 45ºC, nhưng bị chết sau 4- 6h ở nhiệt độ 50ºC và chỉ sống sót
trong 3h tại nhiệt độ 55ºC. Che phủ đất bằng nilong trong suốt vụ trồng làm tăng
nhiệt độ đất và hạch sẽ bị tiêu diệt khi đủ thời gian cần thiết. Hầu hết những khu
đồng được thử nghiệm đều cho thấy hạch bị rã ra khi ở độ sâu không quá 1cm,
nhưng để trừ hạch triệt để cần vùi sâu hơn (Stephen et al., 2000).
Xử lý đất trước khi xâm nhiễm nấm S. rolfsii 2 ngày bằng nấm
Trichoderma harzianum cho hiệu quả phòng trừ: 67,1%, bằng hạt xoan: 62,4%,
bằng cây H. suaveolens: 60,8%, thuốc Captan: 60,4%, gừng: 57,4% (Okereke
V.C and Wokocha, 2006).
Sử dụng các thuốc trừ nấm hóa học như Captan, Calixin, các thuốc hóa
trắng trên các loại cây trồng điều tra thường đạt cao nhất vào thời điểm sau trồng
58-72 ngày. Kết quả điều tra mức độ nhiễm bệnh trên các cây cà chua, lạc, đậu
tương, đậu xanh, đậu trạch, dưa chuột có tỷ lệ bệnh cao nhất tương ứng là: 6,9%;
11,6%; 14,8%; 7,2%; 8,4% và 3,9% (Đỗ Tấn Dũng, 2006).
Theo Nguyễn Kim Vân và cộng sự (2002), bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây
ra bởi nấm S. rolfsii trên cây lạc, cà chua, đậu tương, bầu bí, ngô…là một trong
những bệnh hại nguy hiểm trên cây trồng cạn ở miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt,
trong điều kiện thời tiết nắng nóng và ẩm ướt. Bệnh hại tất cả các bộ phận trên
mặt đất của cây như: thân, lá, hoa, quả…cũng như các bộ phận dưới mặt đất
như: rễ, củ…. Trường hợp bệnh nặng, cây sẽ chết héo rất nhanh. Trên gốc cây và
phần đất xung quanh gốc thường hình thành rất nhiều hạch nấm nhỏ, màu trắng
khi non và màu nâu khi già.
Kết quả điều tra trên cây cà chua vùng Hà Nội và phụ cận trong nhiều
năm qua cho thấy bệnh héo rũ gốc mốc trắng là rất phổ biến, các vùng trồng cà
chua bị nhiễm bệnh này như: Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm (Hà Nội); Văn
Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ (Hưng Yên); An Hải, Tiên Lãng (Hải Phòng); Việt
Yên, Thị xã Bắc Giang, Lục Nam (Bắc Giang); Võ Cường,Thị xã Bắc Ninh (Bắc
Ninh). Bệnh héo rũ gốc mốc trắng thường xuất hiện sau trồng 2- 3 tuần trong vụ
hè thu, giai đoạn cây ra hoa đến khi thu hoạch quả (cà chua sớm, vụ muộn), có
năm còn hại cà chua chính vụ khi thời tiết ấm và nhiệt độ mùa đông cao (vụ
đông xuân năm 2003). Bệnh héo rũ gốc mốc trắng xuất hiện trên giống cà chua
Pháp là 42,3%; các giống khác tỷ lệ bệnh là 16% - 35%. Tỷ lệ bệnh héo rũ gốc
mốc trắng ở các vùng trồng cà chua ngoại thành Hà Nội chiếm cao nhất trên đất
vàn cao (31,6% - 51,5%), trên đất vàn và vàn thấp nhẹ hơn (Ngô Thị Xuyên,
2004).
Bệnh chết héo lạc do nấm S. rolfsii gây ra là một trong những bệnh phổ
biến và là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất. Ở vùng Đông
Nam Bộ, trước khi thu hoạch tỷ lệ bệnh có nơi lên đến 8% - 10%. Ở miền Bắc
hưởng nghiêm trọng tới năng suất quả.
Cây bị héo rũ, xanh hoặc hơi vàng. Cổ rễ và đoạn thân ngầm bị bệnh có
vết màu nâu, thối mục, khô xác, nhổ cây dễ bị đứt gốc, trên gốc thân cây bệnh
mọc lớp nấm trắng đâm tia lan rộng ra mặt đất, hình thành nhiều hạch nấm hình
tròn như hạt cải màu trắng, về sau có màu nâu hạt chè (Vũ triệu Mân, 2007).
Triệu chứng đặc trưng của bệnh trên các cây trồng cạn đó là vết bệnh xuất
hiện trên gốc, thân cây sát mặt đất, lúc đầu vết bệnh nhỏ, có màu nâu tươi, hơi
lõm, sau đó vết bệnh lan rộng có thể dài tới 2- 4 cm bao quanh gốc cây và lan
xuống cổ rễ dưới mặt đất (Đỗ Tấn Dũng, 2001). Mô bệnh bị thối hỏng. Lá phía
dưới héo khô, vàng, sau toàn bộ cây héo rũ chết (Lê Lương Tề, 2001). Cây bị
bệnh gốc, thân hóa nâu và mục rã ở phần tiếp cận với mặt đất làm cây chết héo.
Nấm còn gây hại trên quả phần tiếp giáp với mặt đất (Lê Lương Tề, 2007). Trên
vết bệnh ở gốc, thân xuất hiện lớp nấm trắng, sợi nấm đâm tia lan dần ra mặt đất
xung quanh tạo thành một đám trắng xốp như bông, từ đó hình thành nên các
hạch nấm, lúc đầu hạch nấm có màu trắng, sau màu vàng, cuối cùng có màu nâu
đậm (Nguyễn Văn Viên và Vũ Triệu Mân, 1998).