LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội và
khoa Nông Học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đợt thực tập. Tôi chân
thành cảm ơn Bộ môn Bệnh cây, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tạo điều
kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tối thực hiện tốc đề tài tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Đỗ Tấn Dũng đã trực tiếp
hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các hộ sản xuất
đậu tương,đậu đũa, cà chua tại xã Cổ Bi và xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, Hà
Nội và các hộ sản xuất đậu côve, dưa chuột tại xã Văn Lâm, huyện Văn
Giang, tỉnh Hưng Yên đã cung cấp địa điểm để tôi tiến hành điều tra tình
hình bệnh.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè
trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tất cả những sự giúp đỡ đó cổ vũ, động viên tôi rất nhiều trong việc
hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 01 năm 2014.
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngần
i
MỤC LỤC
ii
Ảnh 4.14. Sự phát triển của isolates nấm S. rolfsii Sacc. hại đậu côve trên môi
trường PGA (sau 3 ngày nuôi cấy)......................................................................40
iv
Ảnh 4.15. Sự phát triển của isolates nấm S. rolfsii Sacc. hại đậu côve trên môi
trường PCA sau 3 ngày nuôi cấy........................................................................40
Ảnh 4.16. Cấy nấm S.rolfsii Sacc. trước sau 24 giờ cấy nấm T.viride..........Error:
Reference source not found
Ảnh 4.17. Cấy nấm T.viride trước sau 24 giờ cấy nấm S.rolfsii Sacc..........Error:
Reference source not found
Ảnh 4.18. Cấy nấm T.viride và nấm S.rolfsii Sacc. đồng thời.....Error: Reference
source not found
Ảnh 4.19. Cấy nấm T.viride riêng rẽ...............Error: Reference source not found
Ảnh 4.20. Cấy nấm S.rolfsii Sacc. riêng rẽ.......Error: Reference source not found
Ảnh 4.21. Xử lý hạt đậu xanh bằng nấm S.rolfsii Sacc.....Error: Reference source
not found
Ảnh 4.22. Xử lý hạt đậu xanh bằng nấm S.rolfsii Sacc.trước, khi cây có 2 lá
mầm thì xử lý nấm T.viride...............................Error: Reference source not found
Ảnh 4.23. Xử lý hạt đậu xanh bằng nấm T.viride trước, khi cây có 2 lá mầm thì
xử lý nấm S.rolfsii Sacc....................................Error: Reference source not found
Ảnh 4.24. Ngâm hạt đậu xanh trong hỗn hợp nấm T.viride và nấm S.rolfsii Sacc.
..........................................................................Error: Reference source not found
Ảnh 4.25. Xử lý hạt đậu côve bằng nấm S.rolfsii Sacc.....Error: Reference source
not found
Ảnh 4.26. Xử lý hạt đậu côvebằng nấm S.rolfsii Sacc.trước, khi cây có 2 lá mầm
thì xử lý nấm T.viride........................................Error: Reference source not found
Ảnh 4.27. Ngâm hạt đậu côve trong hỗn hợp nấm T.viride và nấm S.rolfsii Sacc.
..........................................................................Error: Reference source not found
Sclerotium rolfsii Sacc. hại đậu tương trên môi trường PGA.......Error: Reference
source not found
Đồ thị 4.6. Kết quả lây bệnh nhân tạo các isolates nấm Sclerotium rolfsii Sacc.
trên một số cây trồng cạn (trong điều kiện chậu vại)..........................................47
Đồ thị 4.7. Hiệu lực đối kháng của nấm đối kháng Trichoderma viride đối với
nấm Sclerotium rolfsii Sacc. hại cà chua trên môi trường PGA...Error: Reference
source not found
Đồ thị 4.8. Hiệu lực đối kháng của nấm đối kháng Trichoderma viride đối với
nấm Sclerotium rolfsii Sacc. hại đậu tương trên môi trường PGA................Error:
Reference source not found
Đồ thị 4.9. Hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma viride đối với nấm
Sclerotium rolfsii Sacc. hại lạc trên môi trường PGA.Error: Reference source not
found
vii
Đồ thị 4.10. Hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride đối với
nấm Sclerotium rolfsii Sacc. hại đậu xanh trong điều kiện chậu vại.............Error:
Reference source not found
Đồ thị 4.11. Hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride đối với
nấm Sclerotium rolfsii Sacc. hại đậu côve trong điều kiện chậu vại..............Error:
Reference source not found
Đồ thị 4.12. Hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride đối với
nấm Sclerotium rolfsii Sacc. hại đậu đũa trong điều kiện chậu vại...............Error:
Reference source not found
viii
1
đậu và họ cà cũng không nằm ngoài xu thế chung đó. Biện pháp sinh học khi
ứng dụng trong sản xuất sẽ không gây độc hại cho môi trường, không để lại dư
lượng các nguyên tố độc hại, an toàn cho sức khỏe con người. Hơn nữa việc sử
dụng các sinh vật đối kháng để phòng chống dịch hại còn góp phần gìn giữ sự
cân bằng giữa các loài trong tự nhiên, hạn chế khả năng bùng phát dịch hại, từ
đó xây dựng một nền nông nghiệp bền vững trong tương lai.
Một trong các tác nhân sinh học rất phổ biến trong hệ sinh vật đất là các
loài nấm đối kháng Trichoderma sp.. Đây là các loài nấm có tác dụng ức chế
nấm gây hại vùng rễ cây họ đậu, họ cà. Nấm Trichoderma sp. ký sinh, kìm hãm
sự phát sinh của nấm gây bệnh bằng cách xâm thực và ký sinh sợi nấm, cạnh
tranh dinh dưỡng mạnh hơn nấm gây bệnh. Chúng có nhiều chủng khác nhau để
chống nhiều loài nấm đất tại vùng rễ cây họ đậu như Pythium sp., Rhizoctonia
solani, Fusarium oxysporum, Sclerotium rolfsii...
Do đó, quá trình điều tra, nghiên cứu, xác định tình hình bệnh héo rũ gốc
mốc trắng hại một số cây trồng cạn, mức độ phổ biến và tác hại cũng như nghiên
cứu biện pháp phòng trừ bệnh là hết sức cần thiết. Dựa vào tính cấp thiết trong
sản xuất rau màu hiện nay trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài : “Nghiên
cứu sử dụng nấm đối kháng Trichoderma viride phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc
trắng Sclerotium rolfsii Sacc. hại cây trồng”
1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Điều tra tình hình bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên một số cây trồng cạn
vùng Hà Nội và phụ cận vụ thu đông năm 2013, từ đó tìm hiểu đặc điểm hình
thái, đặc tính sinh học và phạm vi ký chủ của nấm Sclerotium rolfsii Sacc.. Khảo
sát hiệu lực phòng trừ của chế phẩm sinh học nấm đối kháng Trichoderma viride
đối với nấm Sclerotium rolfsii Sacc. gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên môi
mô tả lần đầu tiên bởi Peter Henry Rolfsii vào năm 1892 khi nghiên cứu bệnh
tàn lụi cà chua (tomato blight) tại Florida – Mỹ. Cho đến nay đã có hơn 2000
báo cáo xác nhận sự xuất hiện và gây hại của S. rolfsii Sacc. trên toàn thế giới
(Elizabeth J.Fichtner, 2008)[17].
Theo Stephen và cộng sự thuộc Đại học Hawaii (2000)[28], trên thế giới
đã nghiên cứu, xác định được phạm vi ký chủ của nấm Sclerotium rolfsii Sacc.
với ít nhất 500 loài cây trồng thuộc 100 họ thực vật. Những cây ký chủ mẫn cảm
nhất với bệnh gồm: họ cà (cà chua, khoai tây, cà pháo…), họ hoa thập tự (cải
bắp, súp lơ xanh, cải dầu…), họ đậu đỗ (đậu tương, lạc, đậu xanh, đậu lăng), họ
bầu bí (dưa chuột, dưa hấu, bí đao, bí ngô, bầu ngô). Thiệt hại lớn nhất do nấm
S. rolfsii Sacc. gây ra trên toàn thế giới là ở lạc.
Những cây ký chủ khác trên thế giới được biết đến bao gồm: cây linh lăng,
actiso, chuối, củ cải đường, cải bắp, gừng, dứa, cỏ thảm, khoai mỡ, carot, súp lơ,
rau cần, hoa cúc, cà phê, bông, tỏi, rau diếp quăn…Nấm này cũng gây hại trên
hạt giống của các cây ký chủ trên.
Các nghiên cứu trên thế giới đều mô tả rất cụ thể về triệu chứng và phạm
vi gây hại của nấm S. rolfsii Sacc. trên các cây trồng khác nhau. Nấm S. rolfsii
Sacc. lây nhiễm cây con, cây thân thảo, cây thân gỗ, rễ cây có mô mềm, củ hoặc
quả. Hay thấy nhất là nấm tấn công vào thân dưới của cây, nhưng cũng có thể
tấn công vào bất cứ bộ phận nào của cây mẫn cảm khi nó tồn tại lâu dài trong
điều kiện môi trường thuận lợi. Nếu là cây thân thảo hoặc cây con thì bị héo rũ
và gục xuống nhanh chóng, còn cây thân gỗ hoặc có libe như cà chua hay hồ
tiêu chỉ bị thối phần vỏ thân.
Nấm S. rolfsii Sacc. lây nhiễm trên cây thân gỗ thường bắt đầu từ đỉnh
sinh trưởng của rễ, ở đỉnh rễ thì sợi nấm vẫn có màu trắng đục và hạch vẫn phát
triển ngay tại vị trí bị lây nhiễm khi gặp điều kiện thuận lợi. Bộ lá bị héo rũ và bị
chết nhanh chóng như đối với bệnh ở phần thân dưới hoặc bệnh ở các mô đỉnh
sinh trưởng. Khi cây một lá mầm như lúa mì và một vài loại cỏ khác bị nhiễm
4
ươm. Sự xâm nhiễm của nấm S. rolfsii Sacc. vào mô cây ký chủ xảy ra rất dễ
5
dàng do nấm tiết ra các enzyme và acid oxalic làm mềm yếu và phân hủy mô tế
bào cây ký chủ (Smith và ctv, 1986) [27].
Những sợi nấm màu trắng đục này thường lan rộng trên mặt đất. Chỉ một
thời gian ngắn sau bắt đầu xuất hiện những thể màu trắng, nhỏ, tròn (đường kính
khoảng 1 – 2 mm), mịn được gọi là hạch nấm, sớm trở thành màu nâu vàng nhạt,
màu nâu đen rồi màu đen, quá trình này khoảng 1 tuần đến 10 ngày, hạch bảo
tồn của bệnh, qua đông vẫn sống sót. Sợi nấm còn có thể nhìn thấy ở những mô
bệnh trên hoặc dưới mặt đất, hoặc trong kẽ hở của đất.
Kết quả nghiên cứu của Elizabeth J.Fichtner [17] thuộc Đại học NC State
(Hoa Kỳ) cho rằng có ít nhất hai loại sợi nấm của nấm S. rolfsii Sacc.: dạng sợi
thô, thẳng, tế bào lớn (kích thước tế bào 2 – 9 µm x 150 – 250 µm) có hai mấu
liên kết tại mỗi vách ngăn nhưng có thể vẫn biểu hiện sự phân nhánh tại mỗi
mấu lồi. Sự phân nhánh thường cho sợi nấm mảnh (đường kính sợi nấm chỉ
khoảng 1,5 – 2,5 µm) và có xu hướng phát triển không bình thường, thiếu mấu
liên kết nối. Dạng sợi mảnh thường được thấy thâm nhập vào giá thể.
Hạch có hai kiểu nảy mầm: hoặc là các sợi nấm lần lượt phát triển vươn
ra khỏi bề mặt hạch phát triển không tập trung, hoặc là một loạt các sợi nấm
phát triển phá vỡ hạch gọi là sự nảy mầm đồng loạt. Số lượng sợi nấm và năng
lượng cần cho sự lây nhiễm do kiểu nảy mầm của hạch quyết định. Sự sinh
trưởng của sợi nấm lần lượt từ hạch để lây nhiễm vào mô của cây ký chủ cần có
nguồn dinh dưỡng vô cơ vì sợi nấm sinh trưởng thưa thớt, không tập trung. Tuy
nhiên hạch nảy mầm đồng loạt thì không cần bất cứ một nguồn dinh dưỡng
ngoại sinh nào.
Townsend và Willetts (1954) [29] nhận thấy hạch chín có bốn vùng: vùng
có vỏ hạch dày, vùng có vỏ tế bào dày, vùng có vỏ tế bào mỏng, vùng có lõi bao
Nấm S. rolfsii Sacc. có khả năng sinh trưởng và hình thành hạch ở hầu hết các
loại đất khác nhau, pH khác nhau và nguồn dinh dưỡng khác nhau. Nhưng nấm
sinh trưởng kém thuận lợi trên đất thịt nhiều mùn có pH = 7,96. Từ đó cho thấy ảnh
hưởng của pH đến sự hình thành hạch nấm là quan trọng hơn so với thành phần cơ
giới đất và nguồn dinh dưỡng trong đất (Rodriguez – Kabana và ctv, 1987)[26].
Theo Okabe Ikeko (2000)[21], ở Nhật Bản đã xác định nấm S. rolfsii
Sacc. có 5 nhóm là: 1, 2, 3, 4, 5. Trong đó nhóm 1 rất phổ biến, gây hại ở các
7
vùng địa lý mcó nhiệt độ cao từ 280C – 300C. Bệnh xuất hiện ở phần rễ gốc và
thân sát mặt đất, vết bệnh màu nâu đen. Trên vết bệnh có lớp mốc trắng xốp
giống như bông phủ kín bề mặt đôi kh lan cả ra mặt đất, cây bị héo, từ lớp nấm
hình thành các hạch nấm.
Hallton (1995)[18] lai các isolate nấm S. rolfsii Sacc. thu thập từ khắp các
vùng khác nhau của Ấn Độ, tác giả đã xác định được sự đa dạng di truyền của các
isolate nấm. Chúng khác nhau ở tành phần và liều lượng các acid: Gallic, oxalic,
ferulic, indol – 3 acetic acid, cholorogennic, cinnamic. Trong quá trình hình thành
hạch có sự tiết dịch (hạch tiết dịch sau 7 – 10 ngày cấy) và phân tích thành phần
dịch chiết này cộng với việc lai các isolate, kết quả cho thấy các cặp lai nếu cùng
isolate thì chúng sinh trưởng đan xen vào nhau, nếu không cùng isolate thì chúng
tạo thành dải phân cách giữa hai isolate. Tuy nhiên có ít hạch được hình thành ở
bên trong vùng phân giải. Ở Mỹ, sự đa dạng di truyền được phân thành hai chủng
Sclerotium rolfsii và Sclerotium delphinii (Hallton, 1995)[18].
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng thường xuất hiện ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt
đới và những vùng có khí hậu ấm áp khác, đặc biệt ở miền Nam Hoa Kỳ, Trung
Mỹ và Nam Mỹ, Tây Ấn Độ, các nước Nam Âu nằm trên bờ Địa Trung Hải,
Châu Phi, Nhật Bản, Philippines, Hawaii. Bệnh này hiếm khi xuất hiện ở những
nơi có nhiệt độ trung bình mùa đông dưới 00C.
giờ tại nhiệt độ 550C. Che phủ đất bằng nilon trong suốt vụ trồng làm tăng nhiệt
độ đất, hạch sẽ bị tiêu diệt khi đủ thời gian cần thiết. Hầu hết những khu đồng
được thí nghiệm đều cho thấy hạch bị rã ra khi ở độ sâu không quá 1cm, nhưng
để trừ hạch triệt để cần vùi sâu hơn (Stephen và cộng sự, 2000)[28].
Để phòng trừ nấm S. rolfsii Sacc., biện pháp có hiệu quả nhất vẫn là sử dụng
thuốc hóa học, tuy nhiên biện pháp này không đem lại những lợi ích tốt. Biện
pháp sinh học phòng trừ nấm S. rolfsii Sacc. cũng được áp dụng và bước đầu
đem lại hiệu quả. Trong các biện pháp phòng trừ sinh học, loài nấm đối kháng
Trichoderma sp. cũng được áp dụng ở nhiều nước từ những năm cuối của thập
kỷ 60 và ngày càng được mở rộng phát triển khắp thế giới.
Trên thế giới, người đầu tiên đề xuất sử dụng loài nấm đối kháng
Trichoderma sp. để phòng trừ bệnh hại là Willing (Seiketov, 1982), năm 1932
ông đã dùng nấm Trichoderma sp. để trừ Rhizoctonia solani gây bệnh thối cây
9
con mới mọc ở cam quýt. Ông nhận thấy việc bón Trichoderma sp. vào đất có
thể bảo vệ được các cây con mới mọc từ hạt không bị bệnh. Từ phát hiện đó, các
nghiên cứu về Trichoderma được mở rộng tại rất nhiều nước trên thế giới. Hiện
nay, các chủng nấm Trichoderma viride, Trichoderma hazianum, Trichoderma
hamatum là được phổ biến nhất.
Vai trò của nấm đối kháng Trichoderma đã được khẳng định bởi nhiều nhà
nghiên cứu. Theo Martin & cs.(1985)[19] khi nghiên cứu về vi sinh vật đất cho
thấy loài nấm Trichoderma sp. là một trong những loài nấm đứng đầu của hệ vi
sinh vật đất, nó có tính đối kháng cao. Tác động đối kháng của Trichoderma đối
với vi sinh vật gây bệnh cây được thông qua bởi một số cơ chế: Cơ chế ký sinh,
cơ chế kháng sinh, cơ chế cạnh tranh, tác động của men.
Hiện nay có nhiều nước sử dụng nấm Trichoderma sp. để phòng trừ bệnh
hại cây trồng như: Nga, Anh, Mỹ, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc.
độ cao. Các thí nghiệm sinh học đã chứng tỏ nấm Trichoderma sp. không có
hoặc có hiệu qủa ức chế nấm S. rolfsii Sacc. rất ít ở nhiệt độ dưới 300C. Do đó,
nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định khi áp dụng biện pháp sinh học
đối với nấm S. rolfsii Sacc..
Ở Bắc Nigeria, theo Wokocha R.C & ctv (1990)[30] thí nghiệm thực hiện
trong nhà lưới cho thấy nấm đối kháng Trichoderma sp. làm giảm hoàn toàn tỷ
lệ bệnh thối gốc khi lây nhiễm đồng thời hoặc lây nhiễm nấm Trichoderma sp.
trước 3 ngày. Khi tiến hành thí nghiệm ở cả 2 mùa vụ: mùa mưa và mùa khô, lây
nhiễm đồng thời cả nấm Trichoderma sp. và nấm S. rolfsii Sacc. thì tỷ lệ bệnh từ
2,6% - 4,3%: trong khi đó chỉ lây nhiễm nấm S. rolfsii Sacc. thì tỷ lệ bệnh là
88,0%.
Cây cà chua được xử lý nấm Trichoderma viride và thuốc hóa học
Quintozene thì không bị bệnh; xử lý T. viride và thuốc hóa học Captan thì tỷ lệ
bệnh là 16,4%; xử lý T. viride và thuốc hóa học Thiuram thì tỷ lệ bệnh là 19,0%.
Như vậy nấm T. viride đã tạo ra một hiệu ứng cộng hợp làm tăng hiệu quả phòng
chống của thuốc Quintozene cao hơn T. viride với thuốc khác. Có thể sử dụng
thuốc Carbendazim 0,15% (Narain et al.,1990). Rovral, Benomyl để xử lý hạt
11
giống hoặc thuốc trừ tuyến trùng để hạn chế sự phát sinh phát triển của bệnh
trên đồng ruộng (Wokocha R.C, 1990)[30].
Một số kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nấm đối kháng Trichoderma
viride không chỉ có khả năng đối kháng cao với nấm gây bệnh mà còn là phân vi
sinh có tác dụng kích thích sự sinh trưởng phát triển của cây trồng như: làm tăng
số lượng cây mọc, chiều dài thân, diện tích lá và trọng lượng chất khô. Các tác
giả còn cho thấy cơ chế tác động còn do nấm đối kháng T. viride đã ức chế một
số nấm trong vùng rễ hoặc nó còn sản sinh các hoocmon thực vật hay các
vitamin hoặc biến đổi các chất thành dạng dễ tiêu cho cây trồng.
vệ phần ruột bên trong gồm hệ sợi nấm vách mỏng có nhiều tế bào chứa đầy
chất dinh dưỡng dự trữ.
Nấm có thể tồn tại trong đất và tàn dư cây bệnh dưới dạng hạch nấm.
Bệnh phát sinh gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng nhưng mức độ khác
nhau. Bệnh phá hại ở tất cả các thời vụ gieo trồng nhưng thời kỳ gây hại nặng
vào các tháng 4, 5 trong vụ xuân và tháng 8, 9, 10 trong vụ mùa trên hầu hết các
giống cà chua, đậu tương, lạc... đang trồng ngoài sản xuất đều có thể bị nhiễm
bệnh, mức độ hại của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố sinh thái như: điều kiện
ngoại cảnh, thành phần cơ giới đất, chế độ chăm sóc, chế độ canh tác, phân
bón,...
Với điều kiện thời tiết ấm, nóng, độ ẩm cao rất thuận lợi cho bệnh phát
triển. Nấm S. rolfsii Sacc. có thể sống sót qua nhều năm nhờ có hạch nấm tồn tại
trong đất hoặc trên tàn dư cây bệnh.
Việc phòng trừ có nhiều thuận lợi khi luân canh cây với rau, hoặc những
cây trồng cạn khác. Tỷ lệ sống sót của hạch nấm giảm đáng kể trong đất ngập
nước. Chu kỳ bệnh cũng bị phá vỡ khi luận canh cây trồng cạn với những cây
trồng không phải là ký chủ của nấm S. rolfsii Sacc.. Việc vệ sinh đồng ruộng,
dọn sạch và đốt tàn dư cây bệnh đóng vai trò quan trọng vì đó sẽ là nguồn lây
bệnh cho vụ sau. Cày đất sâu và lật úp cũng sẽ làm giảm tỷ lệ hạch sống sót ở vụ
sau. Khi điều khiển độ pH đất lên tới 7,0 cũng hạn chế được sự phát triển của
nấm S. rolfsii Sacc..
Nấm sinh trưởng thuận lợi nhất ở 300C kém phát triển khi nhiệt độ dưới
150C hoặc trên 370C. Những hợp chất dễ bay hơi được sản sinh bởi các mô già
13
cỗi của cây ký chủ sẽ kích thích hạch nảy mầm. Nấm sau đó có thể xâm nhiễm
trực tiếp vào mô cây ký chủ và sản sinh Enzyme cellulolytic và enzyme
pectinolytic và cả acid oxalic. Nấm có thể phát tán nhờ các nông cụ, dụng cụ
bệnh héo gốc mốc trắng trên một số vùng sinh thái khác nhau là khác nhau: đất
đồi 1 vụ lạc có tỷ lệ bệnh là 3,7 %, đất cát là 6,31%, đất nội đồng là 3,24% (Lê
Như Cương, 2004)[1].
Theo Đỗ Tấn Dũng (2006)[3] nghiên cứu về bệnh héo rũ gốc mốc trắng
hại một số cây trồng vùng Hà Nội và phụ cận cho biết bệnh phát sinh và gây hại
trên nhiều loại cây trồng cạn khác nhau. Nhìn chung bệnh thường xuất hiện trên
đồng ruộng từ sau trồng 16-23 ngày trở đi, bệnh có xu hướng tăng dần vào giai
đoạn cây bắt đầu ra hoa – hình thành quả. Tỷ lệ bệnh HRGMT trên các loại cây
trồng điều tra thường đạt cao nhất vào thời điểm sau trồng 58-72 ngày. Kết quả
điều tra mức độ nhiễm bệnh trên các cây cà chua, lạc, đậu tương, đậu xanh, đậu
trạch, dưa chuột có tỷ lệ bệnh cao nhất tương ứng là: 6,9%; 11,6%; 14,8%;
7,2%; 8,4% và 3,9%. Bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây hại nặng nhất trên cây đậu
tương (tỷ lệ bệnh là 14,8%) và nhẹ nhất trên cây dưa chuột (tỷ lệ bệnh là 3,9%).
Các isolate của nấm S. rolfsii Sacc. phân lập trên cây lạc, đậu tương, cà chua,
dưa chuột đều có thể lây chéo cho nhau.
2.2.2. Biện pháp sinh học phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng Sclerotium
rolfsii Sacc.
Những thành tựu về biện pháp sinh học ở Việt Nam, mà cụ thể là sử dụng
vi sinh vật đối kháng nấm để phòng trừ bệnh có nguồn gốc trong đất nói chung
và nấm Sclerotium rolfsii Sacc. nói riêng đã có những bước tiến quan trọng.
Nấm Trichoderma viride đã được nghiên cứu rất nhiều trên thế giới và ở Việt
Nam cũng đã nghiên cứu và sử dụng trong thực tế khá thành công.
Từ năm 1991 – 1992, Bộ môn Bệnh cây – Viện bảo vệ thực vật đã công
bố một số kết quả bước đầu về nấm đối kháng Trichoderma viride cho thấy hiệu
lực đối kháng của nấm này có khả năng ức chế tốt với loài nấm S. rolfsii Sacc.
gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại cây trồng (Trần Thị Thuần và ctv, 1992) [9].
Kết quả về hiệu lực đối kháng của nấm T. viride với nấm S. rolfsii Sacc.
gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại lạc trong điều kiện chậu vại cho thấy hiệu lực
phòng trừ đạt tới 97,1%. Nấm đối kháng T. viride có thể tiêu diệt một số loài
phát triển của nấm S. rolfsii Sacc. (Lê Lương Tề, 2001)[8].
Khi có mặt nấm Trichoderma viride thì nấm có khả năng cạnh tranh,
chiếm chỗ, ức chế và tiêu diệt nấm S. rolfsii Sacc.. Mặt khác khi nấm S. rolfsii
Sacc. có mặt trước thì hiệu lực của nấm T. viride giảm đi nhiều so với nấm T.
viride có mặt trước (Đỗ Tấn Dũng, 2001)[2].
16
Ngô Quốc Luật và ctv (2005)[5] nghiên cứu nấm S. rolfsii Sacc. hại cây
bạch truật và nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ đặc biệt chú ý đến biện
pháp sinh học sử dụng nấm đối kháng Trichoderma viride.
Năm 2006, Đỗ Tấn Dũng đã khảo sát hiệu lực của nấm Trichoderma
viride với các isolate nấm S. rolfsii Sacc. trên môi trường nhân tạo thấy rằng khi
nấm T.viride có mặt trước nấm gây bệnh thì bản thân nó có khả năng chiếm chỗ,
cạnh tranh, ức chế và tiêu diệt nấm S. rolfsii Sacc., trong điều kiện chậu vại nấm
đối kháng T.viride có thể sử dụng để phòng trừ bệnh héo gốc mốc trắng do nấm
S. rolfsii Sacc. đạt hiệu quả trừ bệnh cao 94,4% đối với cây đậu tương [3].
Kết quả nghiên cứu của Ngô Bích Hảo và ctv (2006) [4] về khảo sát hiệu
lực đối kháng của nấm T. viride phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại lạc
trên môi trường PGA và trong điều kiện chậu vại. Nghiên cứu cho thấy nấm đối
kháng T. viride có khả năng ức chế nấm S. rolfsii Sacc. trên môi trường PGA,
thể hiện rõ sau nuôi cấy 3 ngày đường kính tản nấm đạt 87,8 mm hơn 1,7 lần so
với nấm S. rolfsii Sacc. và sau 4 ngày đường kính tản nấm của T. viride là 57,8
mm bằng 2,6 lần so với tản nấm S. rolfsii Sacc., hiệu lực ức chế đạt 75,2%.
Theo Nguyễn Văn Viên và Mạc Đoàn Dũng, “Điều tra bệnh lở cổ rễ, bệnh
héo rũ gốc mốc trắng hại lạc ở Đông Triều - Quảng Ninh và nghiên cứu phòng
trừ bệnh bằng chế phẩm nấm Trichoderma viride ”, trong hội thảo quốc gia bệnh
hại thực vật Việt Nam năm 2009 [6] đã đưa ra kết luận: Phòng trừ bệnh héo rũ
ssgốc mốc trắng (S. rolfsii Sacc.) khi xử lý trộn hạt giống với chế phẩm nấm