Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng (sclerotium rolfsii sacc ) gây hại một số cây trồng cạn tại hà nội và vùng phụ cận năm 2014 2015 - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan...................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ........................................................................................................ iii
Mục lục .............................................................................................................iv
Danh mục viết tắt ...............................................................................................vi
Danh mục bảng ................................................................................................ vii
Danh mục đồ thị ................................................................................................ix
Danh mục hình ảnh.............................................................................................. x
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Đặt vấn đề ....................................................................................................... 1
2. Mục đích và yêu cầu ........................................................................................ 2
2.1. Mục đích ...................................................................................................... 2
2.2. Yêu cầu ........................................................................................................ 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................... 3
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài............................................................... 3
1.1.1. Triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh và phạm vi gây hại của bệnh
héo rũ gốc mốc trắng .......................................................................... 3
1.1.2. Các biện pháp phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng ........................... 8
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước ............................................................. 13
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....... 20
2.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu ................................. 20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................... 20
2.1.2. Vật liệu nghiên cứu ........................................................................... 20
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu ................................... 20
2.2. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 20
2.3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 21
2.3.1. Phương pháp điều tra thu thập, phân lập và giám định nấm S.
rolfsii Sacc. gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng ..................................... 21
2.3.2. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của nấm S.
rolfsii Sacc. trên môi trường nhân tạo ............................................... 22
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

1

S. rolfsii :

2

T. viride : Tricoderma viride

3

HLPT

:

Hiệu lực phòng trừ

4

HLĐK

:

Hiệu lực đối kháng

5

TLB % :

Sclerotium rolfsii


Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng (S.rolfsii) hại đậu tương vụ
xuân hè năm 2015 ở Gia Lâm, Hà Nội ................................................. 33

3.5.

Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng (S.rolfsii) hại cà chua vụ thu
đông năm 2014 ở Gia Lâm, Hà Nội ...................................................... 35

3.6.

Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng (S.rolfsii) hại cà chua vụ
xuân hè năm 2015 ở Gia Lâm, Hà Nội ................................................. 36

3.7.

Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng (S.rolfsii) hại khoai tây vụ
đông năm 2014 ở Gia Lâm, Hà Nội ...................................................... 37

3.8.

Một số đặc điểm chung về hình thái tản nấm, sợi nấm và hạch nấm
S. rolfsii hại cây trồng trên môi trường PGA ........................................ 39

3.9

Khả năng hình thành hạch của các isolate nấm S.rolfsii Sacc. trên
môi trường PGA ở nhiệt độ 300C ......................................................... 42

3.10


Hiêu lực đối kháng của nấm T. viride với nấm S. rolfsii hại đậu
xanh trên môi trường PGA ................................................................... 54

3.16.

Hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng T. viride với bệnh héo rũ
gốc mốc trắng trên cây đậu tương trong điều kiện chậu vại .................. 56

3.17.

Hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng T. viride với bệnh héo rũ
gốc mốc trắng hại cây đậu xanh (môi trường chậu vại) ........................ 57

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page viii


DANH MỤC ĐỒ THỊ
STT

Tên đồ thị

Trang

3.1. Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng (S.rolfsii) hại lạc vụ thu năm
2014 ở Gia Lâm, Hà Nội .......................................................................... 30
3.2. Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng (S.rolfsii) hại lạc vụ xuân hè năm
2015 ở Gia Lâm, Hà Nội .......................................................................... 31
3.3. Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng (S.rolfsii) hại đậu tương vụ đông


Tên ảnh

Trang

1:

Triệu chứng bệnh HRGMT hại đậu tương .................................................. 28

2:

Triệu chứng bệnh HRGMT hại đậu tương .................................................. 28

3:

Triệu chứng bệnh HRGMT hại lạc ............................................................. 29

4:

Triệu chứng bệnh HRGMT hại lạc ............................................................. 29

5:

Triệu chứng bệnh HRGMT hại đậu rau ...................................................... 29

7:

Tản nấm Sclerotium rolfsii hại lạc .............................................................. 40

8:



MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp đã
tạo ra khối lượng lớn sản phẩm nông nghiệp, chất lượng cao và ổn định. Với xu
hướng hội nhập hóa nền nông nghiệp, cùng với thành tựu to lớn của ngành sản
xuất lương thực đem lại thì việc chú trọng phát triển cây trồng cạn như: Cà chua,
khoai tây, đậu đỗ, bầu bí,...cũng cần được chú trọng đầu tư để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ngày một tăng.
Nông nghiệp nước ta chủ yếu là hoạt động sản xuất ngoài trời chịu nhiều tác
động trực tiếp của thiên nhiên nên trong quá trình sản xuất gặp rất nhiều rủi ro như:
thiên tai, dịch hại...làm ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng nông sản.
Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho sự phát triển của
các loại cây trồng. Tuy nhiên đó cũng là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài vi sinh
vật xâm nhiễm gây bệnh cho cây trồng. Trong đó các loài nấm bệnh, đặc biệt là
nhóm nấm đất như Fusarium sp, Pythium sp... Nấm Sclerotium rolfsii là một
trong nhưng nấm điển hình gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng, làm giảm năng suất
của các cây trồng thuộc họ cà, đậu đỗ, bầu bí ...
Nguồn nấm bệnh tồn tại chủ yếu trong đất, trong tàn dư thực vật, cây kí chủ
và trong các vật liệu giống nhiễm bệnh ở dạng sợi nấm, hạch nấm. Hạch nấm tồn tại
trong đất ở tầng đất bề mặt và qua năm này năm khác là nguồn gây bệnh chủ yếu
cho các cây trồng vụ sau hoặc năm sau. Do vậy việc điều tra nghiên cứu tình hình
gây hại của bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại một số cây trồng cạn trên đồng ruộng,
mức độ phổ biến và biện pháp phòng trừ là rất cần thiết.
Cho đến nay công tác phòng trừ các loài nấm đất nói chung và nấm
Sclerotium rolfsii Sacc. còn có nhiều khó khăn do khả năng bảo tồn của chúng là
lớn và chúng lại tồn tại chính trong đất. Vì thế nhiều loại thuốc hóa học ít có tác
dụng lại còn gây ô nhiễm môi trường, còn ảnh hưởng đến chất lượng nông sản
phẩm do tồn lại lượng dư thuốc trong nông sản. Điều đó đỏi hỏi những nhà bảo vệ

- Đánh giá thực trạng bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại một số cây: lạc, cà
chua, đậu tương, khoai tây vụ thu đông 2014 và xuân hè 2015.
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và đặc tính sinh học của các mẫu phân
lập bệnh héo rũ gốc mốc trắng.
- Nghiên cứu xác định phạm vi kí chủ của nấm Sclerotium rolfsii Sacc. hại
một số cây trồng vùng Hà Nội và phụ cận
- Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh héo rũ gốc trắng bằng nấm đối kháng
Trichoderma viride trên môi trường nhân tạo và trong điều kiện chậu vại.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1. Triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh và phạm vi gây hại của bệnh héo rũ
gốc mốc trắng
Trên thế giới đã nghiên cứu, xác định được phạm vi ký chủ của nấm hạch
Sclerotium rolfsii Sacc. với ít nhất 500 loại cây trồng thuộc 100 họ thực vật.
Những cây ký chủ mẫn cảm nhất với bệnh gồm: họ cà (cà chua, khoai tây, cà
pháo...) họ hoa thập tự (cải bắp, súp lơ trắng, súp lơ xanh, cải dầu), họ đậu đỗ
(đậu tương, lạc, đậu xanh, đậu lăng), họ bầu bí (dưa chuột, dưa hấu, bí đao, bí
ngô, bầu ngô) (Ferreira and Boley, 2000).
Nấm Sclerotium rolfsii (S. rolfsii) gây bệnh héo rũ trắng gốc trên nhiều
loại cây trồng thuộc nhiều họ thực vật ở khắp các vùng sinh thái nông nghiệp trên
thế giới. Ví dụ như cà chua, khoai tây, lạc, đậu tương, dưa chuột,… thường bị
nấm S. rolfsii gây hại nặng. S. rolfsii là một loài nấm đa thực có nguồn gốc trong
đất. Nấm này được biết đến như là một trong những tác nhân gây mất mùa trong
nhiều thế kỷ và được mô tả lần đầu tiên bởi Peter Henry Rolfs vào năm 1892 khi
nghiên cứu bệnh tàn lụi cà chua (tomato blight) tại Florida-Mỹ (Fichtner,1999)

Mức pH 5,5-7,5 thuận lợi cho nấm phát triển. Thành phần môi trường có sucrose
làm sợi nấm mọc nhanh nhất trong khi đó môi trường có peptone là tốt nhất để
tăng sinh khối sợi nấm.
Kết quả nghiên cứu của Fichtner (1999) thuộc Đại học NC State (Hoa Kì)
cho rằng có ít nhất hai loại sợi nấm của nấm S. rolfsii. Dạng sợi thô, thẳng, tế bào
lớn (kích thước tế bào 2 – 9 µm × 150 – 250 µm) có hai mấu liên kết tại mỗi vách
ngăn nhưng có thể vẫn biểu hiện sự phân nhánh tại mỗi mấu nồi. Sự phân nhánh
thường cho sợi nấm mảnh (đường kính sợi nấm chỉ khoảng 1,5 – 2,5µm) và có
xu hướng phát triển không bình thường, thiếu mấu liên kết nồi. Dạng sợi mảnh
thường được thấy thâm nhập vào giá thể.
Đôi khi, nấm S. rolfsii xuất hiện giai đoạn sinh sản hữu tính ở mép mô
bệnh mà vùng đó bị che bóng, giai đoạn hữu tính có tên là Athelia rolfsii. Hai
hoặc bốn bào tử không màu vách mỏng được sinh ra ở đầu gai ngắn trên đầu sợi
nấm. Cơ chế phát tán bào tử trên đồng ruộng vẫn chưa rõ. Có thể bảo tử nhẹ nhờ
gió phát tán bay trong không khí với khoảng cách xa. Giai đoạn này ít khi xuất
hiện trên đồng ruộng và không phải là nguồn bệnh quan trọng truyền cho vụ sau.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


Theo Townsend and Willetts (1954) nhận thấy trên hạch chín có bốn
vùng: Vùng có vỏ hạch dày, vùng có vỏ tế bào dày, vùng có vỏ tế bào mỏng,
vùng có lõi bao gồm nhiều sợi nấm nhỏ. Hạch nấm có đường kính dao động từ
0,5 – 2,0 mm, bắt đầu hình thành sau 4 - 7 ngày sinh trưởng của sợi nấm, ban đầu
là một bề mặt giống như nỉ (hoặc dạ) rồi hạch nhanh chóng hình thành và chuyển
màu nâu sẫm. Dạng hạch trên cây kí chủ thường có xu hướng có một cấu trúc
nhẵn mịn, trái lại những dạng này được sinh sản trong môi trường nuôi cấy lại có
vết lõm hoặc có nếp gấp. Hạch bao gồm các sợi nấm đan kết với nhau tạo thành

một số lượng lớn acid oxalic. Độc tố này xâm nhập làm biến đổi màu trên hạt và gây
nên những vết đốm chết hoại trên lá ở giai đoạn đầu phát triển bệnh.
Nấm S. rolfsii có thể sống sót và phát triển mạnh mẽ trong phạm vi môi
trường rất rộng. Nấm có thể sinh trưởng trong phạm vi pH rộng, nhất là trong đất
có tính acid. Nấm sinh trưởng thuận lợi nhất trong khoảng pH từ 3 – 5, hạch có
thể nảy mầm trong điều kiện pH từ 2 – 5. Khi pH > 7 sẽ kìm hãm sự nảy mầm
của hạch. Nhiệt độ thích hợp nhất từ 25oC – 35oC, ít hoặc ngừng phát triển ở
nhiệt độ dưới 10oC hoặc trên 40oC. Ở nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng
sợi nấm thì khả năng hình thành hạch cũng lớn nhất. Sợi nấm bị tiêu diệt ở 0oC,
nhưng hạch có thể sống sót ở -10oC. Sợi nấm phát triển thuận lợi nhất cần có độ
ẩm cao. Khi độ ẩm dưới bão hòa thì hạch nấm không thể nảy mầm (Ferreira and
Boley, 2000). Tuy nhiên, có một số nghiên cứu đã khẳng định hạch nấm nảy mầm
tốt nhất ở ẩm độ 25% - 35%. Sợi nấm phát triển nhanh chóng và hạch nảy mầm tốt
nhất trong điều kiện có ánh sáng liên tục, nếu không có ánh sáng mà các điều kiện
khác thích hợp thì chúng vẫn có thể xuất hiện.
Rangeshwaran and Prasad (2000) đã tiến hành thí nghiệm lây nhiễm nhân
tạo bằng hạch nấm S. rolfsii trên cây cà chua ở giai đoạn quả xanh, quả chín. Sau
đó quan sát thời gian và tỉ lệ nhiễm bệnh ở các ngưỡng nhiệt độ 20oC, 25oC, 30oC
thu được kết quả: cà chua ở giai đoạn quả chín có tỷ lệ bệnh cao hơn và thời gian
bị thối thân nhanh hơn cà chua giai đoạn quả xanh, nhiệt độ thích hợp cho bệnh
sinh trưởng phát triển là 25oC – 30oC.
Nấm S. rolfsii có khả năng sinh trưởng và hình thành hạch ở hầu hết các
loại đất khác nhau, pH khác nhau và nguồn dinh dưỡng khác nhau. Nhưng nấm
sinh trưởng kém thuận lợi trên đất thịt nhiều mùn có pH = 7,96. Từ đó cho thấy
ảnh hưởng của pH đến sự hình thành hạch nấm là rất quan trọng hơn so với thành
phần cơ giới đất và nguồn dinh dưỡng trong đất (Rodriguez-Kabana et al., 1987)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6

(Punja et al., 1986).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


Thiệt hại do bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây ra hàng năm trên thế giới là rất
lớn. Theo Branch and Brunemen (1993), ở vùng Georga – Mỹ thiệt hại do bệnh héo
rũ gốc mốc trắng gây ra hàng năm ước tính lên tới 43 triệu đô la.
Do khả năng thích ứng với nhiệt độ của nấm S. rolfsii cao lên bệnh héo rũ
gốc mốc trắng xuất hiện trên phạm vi rộng và là nguyên nhân gây thiệt hại
nghiêm trọng ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Ngoài khả
năng gây bệnh trên cà chua, nấm S. rolfsii còn gây hại trên nhiều loại cây trồng
khác như lạc , làm giảm năng suất 10% - 25%. Khi bệnh gây hại nặng có thể làm
giảm năng suất tới 80% (Mehan et al., 1995).
Thiệt hại về năng suất của cây trồng còn cao hơn khi nấm S. rolfsii cùng
với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne sp. Những nghiên cứu về mối quan hệ
giữa nấm S. rolfsii với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne incognita và biện pháp
phòng trừ chúng cũng được nhiều tác giả đề cập tới. Phổ kí chủ của nấm S. rolfsii
được mở rộng thêm khi có mặt tuyến trùng cùng tấn công, xâm nhiễm và gây hại.
Sản xuất đỗ xanh gặp nhiều khó khăn do sự gây hại của tuyến trùng M. javannica
và nấm S. rolfsii (Minton and Csinos, 1986).
1.1.2. Các biện pháp phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng
Trên thế giới nhiều phương pháp phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng có
kết quả tốt và áp dụng rộng rãi và đạt được hiệu quả rõ rệt.
Việc phòng trừ nấm S. rolfsii phải có sự kết hợp biện pháp canh tác, sinh
học và hóa học với nhau. Về biện pháp canh tác như: Cày đất sâu 20cm và lật úp,
lạc vụ hè bị nhiễm bệnh ít hơn trên ruộng trồng hành vụ đông. Rõ ràng, hành đã
tiết dịch làm giảm sự lây nhiễm nấm trong đất. Phơi đất hoặc dùng sức nóng của

sự phát sinh phát triển của bệnh trên đồng ruộng (Wokocha, 1990).
Theo Rakh et al. (1987) cho biết: Các thuốc Brassicol, Rovral, Captan,
Granosan Gn, Dithane M 45, Carboxin có thể phòng trừ được bệnh bằng cách xử
lí khô hạt giống với liều lượng 1kg thuốc/tấn hạt và đã tiến hành sử dụng sáu loại
thuốc trừ nấm để xử lí hạt giống, kết quả là Quitozene, Emisan 6, Hexanthir và
Carboxin có hiệu quả kìm hãm sự phát triển của sợi nấm và sự hình thành hạch
nấm cao hơn Hexacap và Mancozeb.
Biện pháp sinh học phòng trừ nấm S. rolfsii cũng được áp dụng và bước
đầu đem lại hiệu quả. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã và đang nghiên cứu,
ứng dụng nấm đối kháng Trichoderma sp., loài nấm này có khả năng ức chế,
cạnh tranh, tiêu diệt được nhiều loài nấm hại cây trồng.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


Trên thế giới, người đầu tiên có ý định sử dụng nấm Trichoderma sp. đối
kháng với nấm gây bệnh hại cây trồng là Weding vào đầu thập kỉ 30. Nấm
Trichoderma sp. Thuộc bộ Hyphales, lớp nấm bất toàn (Fungi inperfect), trong
đó ba chủng được nghiên cứu và sử dụng nhiều nhất là T. viride, T. harzianum, T.
hamatum. Nấm Trichoderma sp. là loại nấm sống bán hoại sinh trong đất, trong tàn
dư thực vật (Saito and Yoshimura, 1962).
Nấm Trichoderma spp. được biết đến là một loại nấm kí sinh nhiều loại
nấm hại cây trồng. Nấm T. harzianum xâm chiếm sợi nấm S. rolfsii, làm ngắt
quãng sự sinh trưởng của sợi nấm, rồi giết chết sợi nấm. Nấm T. viride có hiệu
quả tốt, đặc biệt khi kết hợp với EPTC (một loại thuốc trừ cỏ) trong đất đã được
hấp, hoạt động của nấm S. rolfsii bị hạn chế, ngay cả sử dụng chỉ EPTC thôi cũng
có tác dụng làm giảm sự phát triển của nguồn bệnh. Cơ chế đối kháng của nấm
Trichoderma sp. với nấm gây bệnh hại cây trồng chủ yếu là cơ chế kí sinh, cơ

một kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nhiễm bệnh là 67% đối với đất bạc màu có
bón phân tổng hợp, trong khi đó trên đất có che phủ bề mặt bằng bã được lấy từ
máy tỉa bông, phân chuồng, hay phân xanh từ cây đậu tằm thì tỉ lệ nhiễm bệnh
lần lượt là 3%, 12%, 16%, năng suất cũng đạt cao nhất. Những kết quả có ý
nghĩa năm 1998 cho thấy, tỷ lệ nhiễm bệnh trên đất bón phân tổng hợp là 61%,
còn trên đất phủ bề mặt bằng bã lấy từ máy tỉa bông, phân chuồng, phân xanh lấy
từ cây đậu dâu tằm lần lượt là 23%, 44%, 53% nhưng năng suất giữa ba công
thức bón phân không có sự khác biệt nhiều. Mật độ cây con đạt cao nhất trên nền
đất phủ bề mặt bằng bã từ máy tỉa bông, phân chuồng, phân xanh cộng với có xử
lí nấm đối kháng T. viride trong cả hai năm.
Ristaino et al. (1991) cho rằng kết hợp biện pháp canh tác với việc sử
dụng nấm đối kháng Gliocladium virens có tiềm năng lớn cho chiến lược phòng
trừ nấm S. rolfsii trên khoai tây ở Bắc Carolina. Nấm Gliocladium virens có ý
nghĩa trong việc giảm số lượng hạch nấm S. rolfsii từ 100% và 96% vào các năm
1988, 1989 xuống còn 56% vào năm 1990, trong khi đó chỉ có biện pháp canh
tác mà không sử dụng nấm Gliocladium virens thì số lượng hạch nấm giảm
xuống còn 62% vào năm 1990.
Ở Bắc Nigeria, theo Wokocha (1988) thí nghiệm trong nhà lưới cho thấy
nấm đối kháng Trichoderma sp. làm giảm hoàn toàn tỷ lệ bệnh thối gốc khi lây
nhiễm đồng thời hoặc lây nhiễm nấm Trichoderma sp. trước 3 ngày. Khi tiến
hành thí nghiệm ở cả hai vụ: vụ mùa mưa và mùa khô, lây nhiễm đồng thời cả

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


nấm đối kháng T.viride và nấm S. rolfsii thì tỷ lệ bệnh từ 2,6% - 4,3%; trong khi
đó chỉ lây nhiễm nấm S. rolfsii thì tỷ lệ bệnh là 88,0%.
Một số kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nấm đối kháng T. viride không



1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng do nấm Sclerotium rolfsii gây ra hại rất nhiều
cây trồng cạn đặc biệt là cà chua, dưa chuột, khoai tây trong vụ xuân đang là vấn
đề được nhiều nhà nghiên cứu bệnh cây quan tâm và tìm biện pháp phòng trừ
hiệu quả. Ở thời kì trước đổi mới thì chỉ có một vài tác giả nghiên cứu và có công
bố nhưng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả triệu chứng, tìm hiểu nguyên nhân gây
bệnh, ghi nhận các thiệt hại một cách sơ lược và chưa đầy đủ. Trong những năm
gần đây bệnh héo rũ gốc mốc trắng đã được nghiên cứu rộng rãi và tìm ra các
biện pháp phòng trừ có hiệu quả.
Theo Nguyễn Thị Ly và Phan Bích Thủy (1991) bệnh chết héo lạc do nấm
S. rolfsii gây ra là một trong những bệnh phổ biến và là một trong những nguyên
nhân làm giảm năng suất. Ở vùng Đông Nam Bộ, trước khi thu hoạch tỷ lệ bệnh
có nơi lên đến 8% - 10%. Ở miền Bắc Việt Nam đã phát hiện có những ruộng cục
bộ tỷ lệ bệnh héo rũ gốc mốc trắng lên tới 20% - 25% .
Trên các cây trồng cạn như lạc bệnh héo rũ gốc mốc trắng có xu
hướng tăng từ khi cây ra hoa đến làm quả. Khác với bệnh lở cổ rễ, héo rũ
gốc mốc đen, héo vàng, tái xanh lại có xu hướng giảm. Tỷ lệ bệnh héo rũ gốc
mốc trắng trên một vùng sinh thái khác nhau là khác nhau: đất đồi một vụ lạc
có tỷ lệ bệnh là 3,7%, đất cát là 6,31%, đất nội đồng là 3,24%. Bệnh héo rũ
gốc mốc trắng thường phát sinh vào hai thời kì trong năm: thời kì thứ nhất
khoảng 11/4 – 1/6 bệnh hại cà chua xuân hè cuối vụ; thời kì thứ hai khoảng 9/9 –
8/11 bệnh hại cà chua vụ đông sớm, đặc biệt bệnh thường phát triển mạnh trong
khoảng 9/9 đến cuối tháng 9 khi cà chua đang ra hoa đến hình thành quả non
(Nguyễn Văn Viên và Vũ Triệu Mân, 1998).
Ngoài đồng ruộng bệnh phát sinh gây hại ở cả giai đoạn cây con vườn
ươm và giai đoạn cây trưởng thành ngoài sản suất. Bệnh phá hại ở tất cả các thời
vụ trồng xuân, đông xuân, xuân hè nước ta. Bệnh phát sinh gây hại nhiều vào các
tháng 4, 5 và các tháng 8, 9, 10 ở giai đoạn cà chua ra hoa cho đến khi quả non

thối làm giảm năng suất rõ rệt (Lê Lương Tề, 2007).
Triệu chứng của bệnh trên các cây trồng cạn đó là vết bệnh nhỏ, có
mầu nâu tươi, hơi lõm, sau đó lan rộng có thể trải dài tới 2 – 4 cm bao quanh
gốc cây và lan xuống cổ rễ dưới mặt đất (Đỗ Tấn Dũng, 2011). Mô bệnh bị
thối hỏng, lá phía dưới héo khô, vàng, sau toàn bộ cây héo rũ chết (Lê Lương
Tề, 2001)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


Trên vết bệnh ở gốc, thân xuất hiện lớp nấm trắng xốp như bông, từ đó
hình thành lên các hạch nấm, lúc đầu hạch nấm có màu trắng, sau màu vàng, cuối
cùng có màu nâu đậm (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003). Hạch nấm là
nguồn bệnh của năm sau. Bệnh cũng có thể truyền qua hạt giống. Tỷ lệ nhiễm
bệnh trên hạt giống lạc và đậu tương ở mức trên dưới 10%.
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng do nấm S. rolfsii gây ra, nấm thuộc bộ nấm
trơ (Mycelia sterilia), lớp nấm bất toàn (Fungi imperfecti). Đây là loài nấm
đa thực, phát sinh phát triển thuận lợi ở nhiệt độ thích hợp nhất 25 – 300C,
ẩm độ tương đối cao và độ pH từ 5,5 – 7,5 (Đỗ Tấn Dũng, 2011). Trong điều
kiện phòng thí nghiệm, trên môi trường nuôi cấy PDA, PGA ở nhiệt độ 25 –
300C nấm phát triển mạnh tản nấm trắng xốp như bông, sợi nấm màu trắng,
đa bào phân nhánh nhiều, phát triển theo kiểu đâm tia. Sau khi cấy 7 – 10
ngày nấm hình thành hạch nấm, hạch nấm có dạng hình cầu đường kính 0,4 –
1,4 mm (Nguyễn Văn Viên, Đỗ Tấn Dũng, 2003)
Theo Ngô Thị Xuyên (2004) Kết quả điều tra trên cây cà chua vùng Hà
Nội và phụ cận trong nhiều năm qua cho thấy bệnh héo rũ gốc mốc trắng là rất
phổ biến, các vùng trồng cà chua bị nhiễm bệnh này như: Đông Anh, Gia Lâm,
Từ Liêm (Hà Nội); Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ (Hưng Yên); An Hải, Tiên

hạn chế được sự phát triển của nấm S. rolfsii.
Biện pháp sinh học áp dụng nhiều trong những năm gần đây và mang lại
nhiều kết quả to lớn trong phòng trừ nấm hại cây trồng. Những thành tựu về biện
pháp sinh học ở Việt Nam, cụ thể là sử dung vi sinh vật đối kháng để phòng trừ
bệnh có nguồn gốc trong đất nói chung và nấm S. rolfsii nói riêng đã có những
bước tiến quan trọng. Nấm đối kháng T. viride đã được nghiên cứu rất nhiều trên
thế giới và ở Việt Nam cũng đã nghiên cứu và sử dụng thành công.
Ngô Quốc Luật và cs. (2005) nghiên cứu nấm S. rolfsii hại cây bạch truật
và nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ đặc biệt chú ý đến biện pháp sinh học
sử dụng nấm đối kháng T. viride. Đây là một trong ba bệnh quan trọng trên bạch
truật. Tỷ lệ bệnh tăng cao khi nhiệt độ 29oC – 30oC, hại chủ yếu ở phần rễ và
thân. Kết quả khảo sát hiệu lực của một số thuốc hóa học trong phòng trừ nấm
cho thấy thuốc Ridomil 68WP có hiệu quả cao (>90%). Tác giả cũng cho biết
bệnh bắt đầu gây hại vào thời kì phát triển củ (tháng 4), gây hại mạnh vào tháng
5 – 6 khi chuẩn bị thu hoạch.
Các tác giả Nguyễn Văn Viên và Vũ Triệu Mân (1998) khi nghiên cứu
bệnh chết héo ở cây cà chua do nấm S. rolfsii Sacc., tác giả đã thử nghiệm đánh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 16


giá hiệu lực phòng trừ bệnh bằng thuốc hóa học như: Oxy clorua đồng 5%,
Mirage 0,2%, Pencozeb 1%, Carbendas 2% đều có khả năng ức chế sự phát triển
của nấm S. rolfsii. Đối với sử dụng nấm đối kháng T. viride với nồng độ 109 bào
tử/gam thì tác giả cũng cho biết cùng xử lí nấm đối kháng T. viride và lây nhiễm
nấm S. rolfsii, xử lí nấm đối kháng T. viride trước một ngày sau đó lây S. rolfsii
cho hiệu quả phòng chống bệnh tốt hơn ở các công thức khác.
Bộ môn Bệnh cây - Viện bảo vệ thực vật đã công bố một số kết quả bước
đầu về nấm đối kháng T. viride cho thấy hiệu lực đối kháng của nấm này có khả

thích sự nảy mầm củ hạt giống, tăng cường sự sinh trưởng phát triển của hạt
giống, tăng cường sự sinh trưởng phát triển của cây và làm tăng đáng kể năng
suất cây trồng.
Để nhân nuôi chế phẩm, Trần Thị Thuần và cs. đã dùng nguồn nấm T.
harzianum làm nguồn giống, nấm này phát triển thuận lợi nhất ở nhiệt độ
250C – 300C và xen kẽ tối. Thời gian bảo quản chế phẩm là 9 tháng ở túi
nilon. Hiệu quả của chế phẩm là làm giảm các bệnh thối hạch, thối gốc trên
đậu tương, ngô, lạc từ 42% - 66% tùy loại cây trồng (Trần Thị Thuần, 1999).
Biện pháp sinh học là sử dụng chế phẩm sinh học. Kết quả nghiên cứu khả
năng ức chế của các chủng nấm Trichoderma sp. đối với nấm Fusarium solani
gây bệnh thối rễ ở cam quýt cho thấy: Các chủng nấm Trichoderma sp. có khả
năng tiết Chitinases (Chitinolytic enzymes) cao đều đối kháng tốt với nấm bệnh
Fusarium solani. Một số chủng nấm Trichoderma sp. nội địa vừa có khả năng ức
chế vừa có khả năng phân hủy tốt một số loại tàn dư thừa thực vật, hữu dụng cho
quá trình ủ phân hữu cơ, cung cấp phân hữu cơ cho các vườn cam quýt sau mùa
ngập lũ do nấm Fusarium solani (Dương Minh và cs, 2003).
Trên môi trường PGA nấm T. viride có hiệu quả ức chế nấm S. rolfsii tới
74,54% sau 2 ngày đến ngày thứ 3 đã ức chế hoàn toàn sự phát triển của nấm S.
rolfsii (Lê Lương Tề, 2001).
Trong điều kiện chậu vại nấm T. viride có khả năng ức chế, kìm hãm sự
phát triển gây hại của nấm S. rolfsii hiệu quả ức chế cao nhất là 88,43% sau ngày
thứ 3 ( Ngô Bích Hảo, Vũ Duy Nam, 2006).
Nấm T. viride cókhả năng cạnh tranh, chiếm chỗ, ức chế và tiêu diệt nấm
S. rolfsii. Mặt khác khi nấm S. rolfsii có mặt trước thì hiệu lực của nấm T. viride
giảm đi nhiều so với nấm T. viride có mặt trước, (Đỗ Tấn Dũng, 2001).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status