BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHAN THỊ HOAN NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ,
MẤT SỮA (MMA) TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN
NUÔI THEO MÔ HÌNH NÔNG HỘ TẠI HUYỆN GIA BÌNH,
TỈNH BẮC NINH VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ
CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60.64.01.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ NHƯ QUÁN
HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Mở đầu của Luận văn cho tôi được chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của
các Thầy, Cô ở bộ môn Ngoại – Sản, các Thầy, Cô trong khoa Thú y thuộc
trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam; cùng toàn thể các Thầy, Cô đã giảng
dậy tôi trong thời gian học cao học ở nhà trường.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn khoa
học TS. Vũ Như Quán đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình tôi
thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các chủ nông hộ chăn
nuôi lợn thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ,
giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Bắc Ninh, ngày tháng năm 2014
Tác giả Phan Thị Hoan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
1.8.1 Trên thế giới 23
1.8.2 Ở Việt Nam 25
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1 Khảo sát tỷ lệ mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái sinh sản
nuôi theo mô hình nông hộ tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. 27
2.2.2 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA theo lứa đẻ. 27
2.2.3 Ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái. 27
2.2.4 Một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái mắc hội chứng MMA (nhiệt
độ, hô hấp, tuần hoàn, màu sắc dịch viêm,…). 27
2.2.5 Sự biến đổi về vi khuẩn trong dịch viêm tử cung lợn nái mắc
bệnh. 27
2.2.6 Tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con sinh ra từ lợn nái mắc hội chứng
MMA. 28
2.2.7 Thử nghiệm điều trị hội chứng MMA ở lợn nái bằng các phác đồ
khác nhau và theo dõi khả năng sinh sản sau khi điều trị hội
chứng MMA: Tỷ lệ nái động dục lại, tỷ lệ nái đậu thai sau một
chu kỳ. 28
2.2.8 Biện pháp phòng hội chứng MMA trên đàn lợn nái sinh sản. 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp điều tra 28
2.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 28
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu để xét nghiệm 28
2.3.4 Phương pháp xác định loại vi khuẩn 29
2.3.5 Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị với nái mắc hội chứng MMA 30
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cs Cộng sự
FSH Folliculin stimulin hormone
GSH Gonodo stimulin hormone
HC Hội chứng
LH Lutein stimulin hormone
MMA Metritis, mastitis, agalactia (viêm tử cung, viêm vú, mất sữa)
ml Mililiter
n Số mẫu khảo sát
PGF
2α
Prostaglandin F
2
-alpha
TSH Thyromin stimulin hormone
VK Vi khuẩn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Tỷ lệ mắc hội chứng MMA trên lợn nái sinh sản 32
3.2 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA theo lứa đẻ 37
3.6 Kết quả sinh sản của nái sau điều trị hội chứng MMA 56
3.7 Khả năng sinh sản của nái được phòng hội chứng MMA 62
3.8 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu ở lợn con của nái được phòng MMA 64
DANH MỤC HÌNH ẢNH
STT Tên hình Trang
3.1+3.2 Lợn mẹ bị viêm vú 42
3.3+3.4 Dịch viêm chảy ra khi lợn nái mắc hội chứng MMA 45
3.5 Lợn mắc hội chứng MMA lười cho con bú 51
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế phát triển, cùng với hội nhập kinh tế toàn cầu, mức sống của người
dân được nâng cao, ngành chăn nuôi được đầu tư phát triển hơn. Do đó, công tác
thú y cũng được chú trọng.
Trồng trọt và chăn nuôi luôn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam. Trong đó, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng luôn đóng góp một
phần lớn vào thu nhập của người dân.
Ngày nay, khi đời sống của người dân ngày một nâng cao thì nhu cầu tiêu
vú, mất sữa (MMA) trên đàn lợn nái sinh sản nuôi theo mô hình nông hộ tại huyện
Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, thử nghiệm một số biện pháp phòng, trị”.
2. Mục tiêu của đề tài
Đánh giá được thực trạng của hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú, mất
sữa) ở đàn lợn nái nuôi theo mô hình nông hộ huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Đánh giá được sự ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của
lợn nái.
Xác định mối quan hệ giữa hội chứng MMA ở lợn nái với tỷ lệ mắc bệnh tiêu
chảy của lợn con đang trong giai đoạn bú mẹ.
Đưa ra được các biện pháp phòng và trị hội chứng MMA ở lợn nái. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3 Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cấu tạo, chức năng cơ quan sinh dục của lợn cái
Cơ quan sinh dục của lợn cái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong và bộ
Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng gồm noãn nang nguyên thủy, noãn
nang bậc 1, noãn nang bậc 2, noãn nang bậc 3. Noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất và
được bao bọc bởi lớp tế bào vẩy. Noãn nang nguyên thủy phát triển thành noãn nang
bậc 1, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình lập phương (tế bào nang).
Khi được sinh ra buồng trứng đã có sẵn 2 loại noãn nang này. Noãn nang bậc 1
có thể bị thoái hóa hoặc phát triển thành noãn nang bậc 2, có 2 hoặc nhiều lớp tế
bào nang nhưng không có xoang nang (là khoảng trống chứa dịch nang). Noãn nang
có xoang được xem như noãn nang bậc 3, chứa dịch nang và có thể trở nên trội hẳn
để chuẩn bị xuất noãn (nang Graaf).
Noãn nang có xoang bao gồm 3 lớp: lớp bao ngoài, lớp bao trong và lớp tế bào
hạt. Lớp bao ngoài là mô liên kết lỏng lẻo, lớp bao trong sản xuất androgen dưới tác
dụng của LH. Lớp tế bào hạt tách rời lớp bao trong bởi màng đáy mỏng. Tế bào hạt
sản xuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào có thụ thể (receptor) tiếp nhận
kích thích tố LH. Những chất quan trọng được sản xuất bởi tế bào hạt là oestrogen,
inhibin và dịch nang.
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất huyết tại
chỗ. Sau khi xuất noãn phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết được gọi
là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần. Sau đó tế bào bao
trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để tạo nên thể vàng.
Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng hay còn gọi là vòi Fallop gồm có phễu, phần rộng và phần eo.
Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện
tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần rộng.
Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương
đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Phần eo tiếp nối với sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp
gấp hơn.
tính co thắt (Đặng Đình Tín, 1986).
Trương lực co càng cao (tử cung trở nên cứng) khi có nhiều oestrogen trong
máu và trương lực co giảm (tử cung mềm) khi có nhiều progesterone trong máu. Vai
trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử
cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ. Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung
giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung
(Trần Thị Dân, 2004).
Lớp nội mạc tử cung là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế bào
biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung. Nhiều tế bào
biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất nhày tiết ra
về phía cổ tử cung. Trên niêm mạc có các nếp gấp.
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi
thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống
dẫn trứng. Dưới ảnh hưởng của oestrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng
nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại. Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt
được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progesterone. Sự phân tiết của
tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ động dục.
Âm đạo (Vagina)
Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông
ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời
là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ
tử cung.
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
- Lớp liên kết ở ngoài.
- Lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. Các lớp cơ âm đạo
liên kết với các lớp cơ ở cổ tử cung.
- Lớp niêm mạc âm đạo.
Lớp niêm mạc âm đạo, trên bề mặt có nhiều thượng bì gấp nếp dọc, âm đạo
là cơ quan giao cấu của lợn nái, tinh dịch được phóng ra và đọng lại ở đó. Âm đạo
sữa. Các bao tuyến giống như những túi nhỏ và những ống dẫn nhỏ trực tiếp
thông với xoang bao tuyến.
- Ống dẫn sữa các ống dẫn sữa đầu tiên là các ống dẫn nhỏ, sau đó tập trung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
thành các ống dẫn trung bình, ống dẫn lớn. Ở lợn không có bể sữa.
Bao tuyến và các ống dẫn sữa nhỏ có các tế bào biểu mô bao bọc tầng bên
ngoài. Những tế bào biểu mô đó co bóp để cho sữa ở trong xoang bao tuyến thải ra.
Ống dẫn sữa và bể sữa có các sợi cơ trơn bao bọc ở xung quanh, các sợi cơ này co
bóp để giúp cho quá trình thải sữa.
Các mô liên kết, mô mỡ bao quanh toàn bộ tuyến vú, đồng thời các mô này
đi sâu vào bên trong tạo thành các thuỳ nông, thuỳ sâu, chia tuyến vú thành nhiều
thuỳ nhỏ. Trong các thuỳ có nhiều sợi đàn hồi và khi sữa tích lại trong tuyến vú thì
toàn bộ bầu vú căng ra.
Trong các bao tuyến có hệ thống mạch quản dày đặc. Trong đó hệ tĩnh mạch
của tuyến vú phát triển hơn hệ động mạch của tuyến vú nhiều lần. Hệ thống mạch
quản của tuyến vú có chức năng mang chất dinh dưỡng và oxy đến cung cấp cho
bao tuyến và là nguyên liệu để hình thành nên sữa.
Tuyến vú có nguồn gốc thần kinh từ thần kinh tuỷ sống và giao cảm. Thần
kinh tuỷ sống có hai nhánh: nhánh lưng và nhánh bụng. Nhánh lưng (sợi truyền
vào) chi phối da và đầu vú, nhánh bụng (sợi truyền ra) chi phối các bao tuyến. Thần
kinh giao cảm chi phối tuyến vú bắt nguồn từ thần kinh giao cảm đốt sống hông 2 -
4, thần kinh hai bên cột sống. Ngoài ra tuyến vú còn có thần kinh cảm giác, vận
động, vận mạch và phân tiết.
Gia súc còn non thì tuyến vú của con đực và con cái đều giống nhau. Khi
gia súc cái sinh trưởng và phát dục thì các mô liên kết và mô mỡ tuyến vú tăng dần
làm cho thể tích của tuyến vú tăng dần lên. Khi gia súc đến giai đoạn thành thục về
tính thì tuyến vú của con cái bắt đầu phát triển. Các ống dẫn, sinh trưởng nhanh và
phát triển nhiều nhánh nhỏ phức tạp, đồng thời thể tích bầu vú và đầu vú cũng bắt
giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì
sẽ thành thục về tính sớm hơn và nếu nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý không tốt thì
gia súc sẽ thành thục về tính muộn hơn.
Điều kiện ngoại cảnh
- Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc.
Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về
tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
- Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu
bị. Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con cái
hậu bị. Trong quá trình chăn nuôi, cho thấy nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn
đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 – 20 phút thì 83% lợn cái (trọng lượng lớn hơn 90
kg) động dục lúc 165 ngày tuổi.
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn
nuôi chăn thả. Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng
hợp được sinh tố, môi trường sống tự do tác động và có dịp tiếp xúc với lợn đực nên
có tuổi động dục lần đầu sớm hơn.
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn
tuổi thành thục về thể vóc. Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình
thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia
súc phối giống khi đã đạt số kg khối lượng cơ thể nhất định tùy theo giống. Ngược
lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn làm ảnh hưởng tới khả năng
sinh sản của gia súc cái, đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng.
1.3.2. Chu kỳ tính
Từ khi thành thục về tính những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên
tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển lớn dần, chín và nổi
cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf. Khi nang Graaf vỡ trứng rụng gọi
là sự rụng trứng. Mỗi lần trứng rụng con cái có biểu hiện ra bên ngoài gọi là động
Giai đoạn động dục
Giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 - 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng
tách khỏi noãn bao. Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinh dục rõ nét nhất,
niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín, niêm
dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 - 0,7
0
C, pH
hạ hơn trước.
Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng,
ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng
con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình. Ở giai đoạn này, lợn thích gần đực,
khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang
một bên, 2 chân sau dạng ra và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh
tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai,
đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới lại
bắt đầu. Nếu không xảy ra quá trình thụ tinh thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn
tiếp theo của chu kỳ tính.
Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh
dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường. Trên buồng trứng, thể hồng
chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 - 8 mm và bắt đầu tiết progesterone.
Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết
oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng
thái yên tĩnh, chịu ăn uống hơn, âm hộ giảm độ nở, se nhỏ và thâm, đuôi cụp không
cho con đực phối.
Giai đoạn nghỉ ngơi
tiết progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung, đồng
thời sẽ ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên và làm cho bao
noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ
động dục.
Nếu lợn nái có chửa thì thể vàng sẽ thoái hóa sau khi lợn đã đẻ và nuôi con,
lúc này tuyến yên không bị progesterone ức chế nữa nên lại sản sinh ra FSH, bao
noãn mới lại bắt đầu phát dục và đi vào một chu kỳ mới. Nếu lợn nái không có chửa
thể vàng sẽ tồn tại khoảng trên dưới 17 ngày sẽ thoái hóa và bao noãn mới lại phát
dục và đến 21 ngày lại xuất hiện một chu kỳ động dục kế tiếp.
1.4. Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), gia
súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tuỳ từng loài gia súc, khi bào thai
phát triển đầy đủ, duới tác động của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất
hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài,
quá trình này gọi là quá trình đẻ.
Khi gần đẻ con cái sẽ có những triệu chứng biểu hiện: Truớc khi đẻ 1 - 2
tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung và đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
ngoài. Trước khi đẻ từ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những
thay đổi: Âm môn phù to, nhão ra và gây sung huyết nhẹ, đầu núm to, bầu vú căng
to, sữa bắt đầu tiết.
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ.
Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa trong.
Trước khi đẻ 1 ngày hàng vú giữa vắt được sữa đầu.
Trước khi đẻ ½ ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu.
Trước khi đẻ 2 – 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu.
Cơ chế đẻ
Để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ ta chỉ có thể tác động bằng cách rút ngắn thời
gian bú sữa và cai sữa sớm ở lợn con. Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận: Để
rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có kết quả thì phải chăm sóc nuôi dưỡng
tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm lợn con, điều đó làm tăng số con cai sữa/nái/năm,
tăng số lứa đẻ của nái/năm. Để rút ngắn thời gian cai sữa, phải tập cho lợn con ăn
sớm từ 5 - 7 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp,
không cần sữa mẹ (Lê Thanh Hải và cs, 1994).
Hiện nay tại các nông hộ, thời gian cai sữa ở lợn con là 21 ngày, sau cai sữa
5 - 6 ngày nái được phối giống. Như vậy, khoảng cách giữa các lứa đẻ tại các nông
hộ hiện nay trung bình là 140 -150 ngày, sản xuất được 2,5 lứa/năm.
1.6. Sinh lý tiết sữa của lợn nái
Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức
tạp, do có những đặc điểm khác với các gia súc khác là bầu vú của lợn nái không có
bể sữa nên ở lợn nái không có dự trữ sữa trong bầu vú. Do vậy lợn mẹ không tiết
sữa tùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ.
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ, do những kích thích
vào bầu vú gây nên, được chia làm hai quá trình:
Quá trình tổng hợp sữa
Quá trình tổng hợp sữa được điều tiết theo cơ chế thần kinh và thể dịch.
Dưới tác động của FSH và LH các tế bào thượng bì tuyến vú, tế bào mạch quản tổ
chức phát triển mạnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
Prolactin là hormone thuỳ trước tuyến yên kích thích tế bào nang tuyến tổng
hợp sữa từ những nguyên liệu lấy trong máu. Các nguyên liệu lấy trong máu nhờ
vai trò của các hormone: STH, TSH, glucagons,… STH kích thích quá trình trao đổi
lactoza, cazein, MgSO
4
, kháng thể. Cazein trong sữa được tổng hợp được từ