Trong thời gian học tập tại trường Đại học Nông Lâm – Huế, tôi đã nhận
được trang bị kiến thức cho đến ngày thực tập tốt nghiệp và hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cẩm ơn các thầy cô Khoa Tài nguyên đất và Môi
trường Nông nghiệp đã trực tiếp truyền bá những kiến thức cơ bản để tôi có thể
hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị Trung tâm lưu trữ thông tin, và
Trung tâm phát triển quỹ đất, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Quảng Bình đã
tận tình giúp đỡ cà tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành đề tài và học hỏi kinh
nghiệm trong công việc.
Tôi xin cảm ơn thầy giáo TS. Huỳnh Văn Chương đã hướng dẫn tận tình
và xuyên suốt quá trình thực tập.
Ngoài ra để hoàn thành được đề tài này tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo
điều kiện của gia đình và đông đảo bạn bè, qua đây tôi xin chân thành cảm ơn!
Do kiến thức và năng lực có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu
sót, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn.
Huế, ngày 25 tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Thanh
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất thành phố Đồng Hới năm 2011 29
Bảng 4.2. Bảng cấu trúc cơ sở dữ liệu đất phi nông nghiệp.tab 36
Bảng 4.3. Bảng cấu trúc cơ sở dữ liệu đất nông nghiệp.tab 36
Bảng 4.4. Thống kê kết quả giá đất nông nghiệp 41
Bảng 4.5. Thống kê kết quả giá đất nông nghiệp 41
Bảng 4.6. Phân loại mức giá đất phi nông nghiệp theo giá nhà nước năm
2012 52
Bảng 4.7. Phân loại mức giá đất nông nghiệp theo giá nhà nước năm 2012.
52
Bảng 4.8. Phân loại mức giá đất phi nông nghiệp theo thị trường năm 2012.
53
Hới chuyễn sang Excel 51
Hình 4.23. Hộp thoại Modify Table Structure 54
Hình 4.24. Dữ liệu hiện trạng giá đất phi nông nghiệp sau khi nhập mức
giá 54
Hình 4.25. Dữ liệu hiện trạng giá đất nông nghiệp sau khi nhập mức giá 55
Hình 4.26. Hộp thoại Creat Thematic Map – Step 1 of 3 55
Hình 4.27. Hộp thoại Creat Thematic Map – Step 2 of 3 56
Hình 4.28. Hộp thoại Creat Thematic Map – Step 3 of 3 56
Hình 4.29. Bản đồ giá đất theo giá nhà nước năm 2012 57
Hình 4.30. Bản đồ giá đất theo giá thị trường năm 2012 57
Hình 4.31. Hộp thoại SQR Select 58
Hình 4.32. Bảng kết quả thống kê giá đất phi nông nghiệp 59
Hình 4.33. Bảng kết quả thống kê giá đất nông nghiệp 59
Hình 4.34. Hộp thoại calculate Statistics 60
Hình 4.35. Hộp thoại thống kê Column Statistics 60
Hình 4.36. Hộp thoại New Redistrict Window 61
Hình 4.37. Kết quả thống kê giá đất bằng chức năng New Redistrict
Window 61
Hình 4.38. Lựa chọn thửa đất theo khả năng tài chính 62
Hình 4.39. Kết quả của việc tìm kiếm khoảng giá của thửa đất 63
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài sản đặc biệc không thể thiếu trong hoạt động sản xuất phát
triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Đất đai tự nó không làm nên giá trị
nhưng khi con người tác động vào nó, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ làm cho
giá trị của đất tăng lên. Khi hoạt động của con người trong sử dụng đất đai ngày
càng tăng và hiệu quả thì giá trị của đất ngày càng được nâng cao, mang lại
quản lý nhà nước về đất đai.
- Các quy phạm làm việc trong phần mềm phải trùng với các văn bản quy
định về nội dung đó.
- Hệ thống cơ sở dữ liệu phải đảm bảo đầy đủ, chính xác, cập nhật đơn
giản và nhanh chóng, dễ truy cập, dễ sử dụng.
- Đáp ứng nhu cầu quản lý, khai thác và sử dụng thông tin giá đất.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ ĐẤT ĐAI
Luật đất đai hiện hành đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của
môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”.
Theo hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, 1993: “Đất
đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của
môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ
nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước
ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư
của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại
(san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa )” [5].
2.1.1. Đất ở tại nông thôn
Đất ở của hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn bao gồm đất để xây dựng nhà
ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng một thửa đất
thuộc khu dân cư nông thôn, phù hợp với quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông
thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt (Luật Đất đai 2003.
Điều 83. Khoản 1) [5].
2.2.2. Đất ở tại đô thị
Đất ở tại đô thị bao gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình
phục vụ đời sống trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư đô thị, phù hợp với
Giá đất là phương tiện thể hiện nội dung kinh tế của các quan hệ chủ
quyền sử dụng đất và là căn cứ tính toán giá trị thu tiền khi giao đất hoặc cho
thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi
và tính thuế đất [4].
2.2.2. Đặc điểm của giá đất
- Giá đất được biểu thị ở nhiều phương thức khác nhau như giá cả quyền
sở hữu, giá cả quyền sử dụng, giá cả quyền cho thuê, giá cả quyền thế chấp
- Giá đất không giống nhau về thời gian, việc hình thành giá cả được hình
thành dưới sự ảnh hưởng lâu dài từ quá khứ đến tương lai, thời gian hình thành
giá cả dài, khó so sanh với nhau.
- Giá đất không phản ánh giá thành sản xuất vì nó không phải là sản phẩm
lao động của con người mà chỉ phản ảnh khả năng sinh lợi hoặc hiệu quả vốn
đầu tư.
4
- Giá đất có xu hướng tăng lên và được quyết định bởi nhu cầu về đất đai của
con người. Nguyên nhân là do: tính khan hiếm của đất đai đã làm cung ít co dãn.
Trong khi đó, dân số ngày càng tăng, kinh tế-xã hội đang trên đà phát triển đã làm
cho giá đất ngày càng tăng. Đồng thời, do cấu tạo hữu cơ của tư bản toàn xã hội
được nâng cao khiến cho tỷ suất lợi nhuận bình quân xã hội giảm, dẫn đến xu thế
giảm lợi nhuận từ đó làm cho giá đất có trạng thái tăng lên.
- Giá đất có tính khu vực và tính cá biệt rõ rệt do tính cố định về vị trí như
trong cùng một khu vực, một thành phố vị trí của thửa đất khác nhau thì giá đất
cũng khác nhau [4].
2.2.3. Nhân tố ảnh hưởng đến giá đất
2.2.3.1. Nhân tố nhân khẩu
Mật độ nhân khẩu, tố chất nhân khẩu và cấu thành nhân khẩu gia đình có
ảnh hưởng đến giá đất.
a. Mật độ nhân khẩu: Mật độ nhân khẩu tăng cao, thì nhu cầu đối với đất
tăng vì thế giá đất tăng lên.
b. Tố chất nhân khẩu: Là nói đến trình độ được giáo dục và tố chất văn
đẹp, môi trường ngoại giao cởi mở thì có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, khiến
cho nhu cầu đất tăng, từ đó đẩy nhanh giá đất lên cao và ngược lại [4].
2.2.3.4. Nhân tố kinh tế
a. Tình trạng phát triển kinh tế: Thu nhập quốc dân tăng có nghĩa là trạng
thái tài chính tiền tệ lành mạnh, kinh tế phồn vinh, tăng cơ hội có việc làm, vật
giá tiền lương nằm trong trạng thái có lợi cho phát triển kinh tế, tổng đầu tư xã
hội tăng, tổng yêu cầu về đất không ngừng mở rộng khiến giá đất tăng lên.
b. Mức độ dự trữ và đầu tư: Mức độ dự trữ và mức độ đầu tư là tương
quan thuận với nhau. Nghĩa là dự trữ tăng trưởng thì đầu tư cũng tăng tương
ứng. Trường hợp tỷ lệ dự trữ cao thì có lợi cho tích lũy tư bản và cũng mới có
khả năng có đủ khoản tiền chuẩn bị mua nhà. Cho nên, mức độ dự trữ nhiều hay
ít, hành vi dự trữ của mỗi gia đình và sự biến động giá cả trong thị trường nhà
đất có liên quan mật thiết với nhau.
c. Tình trạng chi thu tài chính và tiền tệ: Lượng cung cấp tiền mặt là biểu
hiện bề ngoài của tình trạng tài chính tiền tệ, lượng cung cấp tiền mặt gia tăng,
là biểu thị gia tăng vốn lưu động trên thị trường, tức là tiền nhàn rỗi của xã hội
tăng. Vốn lưu thông quá thừa sẽ dẫn đến quá nhiều tiền mặt, tranh mua số ít
hàng hóa, đặc biệt việc mua nhà đất có thể bảo tồn được giá trị, nên nó tạo thành
nhu cầu về nhà đất tăng lên, thúc đẩy giá đất tăng lên không ngừng.
d. Trình độ thu nhập và tiêu dùng của dân cư: Thu nhập của dân cư tăng
thì sẽ có nhu cầu tiêu dùng mới, biểu hiện về nhà ở là yêu cầu càng cao về chất
6
lượng, diện tích nhà ở, dẫn đến tăng nhu cầu về đất đai làm cho giá cả đất đai
của khu vực đó tăng.
e. Biến động vật giá: Sự biến động của vật giá có ảnh hưởng đến giá nhà
đất, có nghĩa là tỷ lệ tăng giá càng cao thì giá đất cũng càng cao.
f. Mức lãi suất: Do thu nhập của nhà đầu tư thông thường không thể có
khả năng chi trả ngay một khoản tiền lớn, nên phải trực tiếp vay ngân hàng hoặc
đem tài sản nhà đất thế chấp để có khoản vay. Vì vậy việc biến động mức lãi
suất cũng ảnh hưởng đến giá đất [4].
đất đai và khảo sát hiện trường để làm rõ tình trạng các loại quyền lợi của đối
tượng đất đai định giá.
Giá đất được xác định do công tác định giá là giá cả đất đai ở một thời
điểm nhất định, vì giá đất lên xuống thay đổi không ngừng theo sự phát triển của
kinh tế, xã hội. Nếu không biết được giá cả đất đai được định ra của thời điểm
nào, thì giá đó không có ý nghĩa [7].
2.3.3. Vai trò của định giá đất
Định giá đất đai bao giờ cũng gắn với một thửa đất cụ thể và tại một thời
điểm xác định. Không thể định giá đất đai nếu không gắn với không gian xác
định, cũng như không thể định giá của thửa đất tại một thời điểm mà kết quả đúng
với mọi thời điểm khác. Giá của một mảnh đất được xác định trên thị trường tại
một thời điểm xác định là điều kiện cần và đủ để người định giá tiến hành công
việc định giá. Tuy nhiên mọi cuộc định giá đất đai đều có chung một mục tiêu, đó
là xác định giá của đất đai trên thị trường, nhưng điều mà người định giá quan
tâm hơn trước khi tiến hành định giá đó là giá của mảnh đất đó cần được xác định
là loại giá trị nào (giá trị thị trường, giá trị thế chấp, giá trị bảo hiểm hay giá trị
tiềm năng) và nhằm phục vụ cho mục đích là gì (để Nhà nước làm căn cứ tính
thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, hoặc để khi tính
tiền khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất, góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử
dụng đất, đền bù thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất…, hay làm cơ sở cho
người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự như chuyển đổi, chuyển nhượng đất
đai, thế chấp, cho thuê, thừa kế quyền sử dụng đất…).
Như vậy, định giá đất đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, thông
qua kết quả định giá nó giúp cho Nhà nước và người sử dụng đất có những quyết
định đúng đắn trong quản lý, kinh doanh và trong các giao dịch dân sự khác:
+ Định giá đất là cơ sở phục vụ cho mua bán, trao đổi và chuyển nhượng
đất đai, góp phần ổn định thị trường đất đai.
+ Định giá đất là cơ sở cho một số chính sách hoặc quan hệ sở hữu đất đai
như: cho thuê, thế chấp, cầm cố.
+ Định giá đất là cơ sở để đền bù đất đai khi Nhà nước thu hồi đất, tính
Đất được sử dụng hợp pháp, tạo ra khả năng thu nhập ròng lớn nhất và
kéo dài liên tục trong một khoảng thời gian nhất định. Ngoài ra còn thể hiện
9
dưới dạng các tiện lợi khác không thể hiện bằng tiền, ví dụ: An ninh tốt, môi
trường trong lành… [6].
2.3.4.3. Nguyên tắc thay đổi
Bao gồm những thay đổi:
- Về chính sách đất đai của Nhà nước.
- Về sự biến động của thị trường đất đai.
- Về nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần ngày càng tăng.
- Về thị hiếu nhà đất không ngừng thay đổi của con người.
- Xu thế về quy mô đầu tư, chất lượng đầu tư đối với đất đai.
Vì vậy, người định giá phải bám sát thị trường, nắm chắc các yếu tố ảnh
hưởng tới giá cả thị trường để định giá cho phù hợp tại thời điểm định giá. Ví
dụ: Chất lượng của đất trồng trọt thay đổi bởi sự đầu tư cải tạo của con người.
[6].
2.3.4.4. Nguyên tắc phù hợp
Thể hiện giữa mục đích đầu tư vào đất với mục đích sử dụng đất. Khi định
giá phải căn cứ vào mục đich sử dụng chính của đất đó để định giá, không được
lẫn lộn với các sử dụng khác và càng không được lẫn lộn với sử dụng tiềm năng.
Ví dụ: Có một thửa đất đang được sử dụng để làm cửa hàng thương mại
không thể định giá trên cơ sở giá trị sử dụng đất vào mục đích trồng trọt [6].
2.3.4.5. Nguyên tắc thay thế
Nguyên tắc này cho rằng: Giá thị trường của một thửa đất chủ thể có
khuynh hướng bị áp đặt bởi giá bán một thửa đất thay thế khác tương tự về giá
trị và các tiện dụng so với thửa đất chủ thể, với giả thiết không có sự chậm trễ
trong việc thoả thuận giá cả và thanh toán. Hay nói cách khác, giá cả của một
thửa đất nào đó chịu sự ràng buộc với giá cả thửa đất có giá trị sử dụng tương
đồng cùng loại hình có khả năng thay thế nó [6].
2.3.5. Các phương pháp định giá đất
để định giá.
Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền quyết định thành lập và xếp loại đô thị. Đô thị được phân thành 6
loại, gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị
loại IV, đô thị loại V theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Đối với thị xã, thị trấn chưa được xếp loại đô thị thì xếp vào đô thị loại V.
Phân loại đường phố:
Loại đường phố trong từng loại đô thị được xác định căn cứ chủ yếu vào
khả năng sinh lợi, điều kiện kết cấu hạ tầng thuận lợi cho sinh hoạt, sản xuất,
11
kinh doanh, dịch vụ, du lịch, khoảng cách tới trung tâm đô thị, trung tâm thương
mại, dịch vụ, du lịch.
Đường phố trong từng loại đô thị được phân thành các loại đường phố có
số thứ tự từ 1 trở đi. Đường phố loại 1 áp dụng đối với đất tại trung tâm đô thị,
trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch; có mức sinh lợi cao nhất, có điều kiện
kết cấu hạ tầng thuận lợi nhất; các lọai đường phố tiếp sau đó theo thứ tự từ loại
2 trở đi áp dụng đối với đất không ở trung tâm đô thị, trung tâm thương mại,
dịch vụ, du lịch có mức sinh lợi và kết cấu hạ tầng kém thuận lợi hơn.
Trường hợp một đường phố gồm nhiều đoạn đường phố có khả năng sinh
lợi khác nhau, có kết cấu hạ tầng khác nhau thì từng đoạn đường phố đó được
xếp vào loại đường phố tương ứng.
Vị trí đất trong từng loại đường phố của từng loại đô thị được xác định
căn cứ vào khả năng sinh lợi, điều kiện kết cấu hạ tầng thuận lợi cho sinh hoạt,
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khoảng cách so với trục đường giao thông. Vị trí
trong từng loại đường phố của từng loại đô thị được phân thành các vị trí có số
thứ tự từ 1 trở đi. Vị trí số 1 áp dụng đối với đất liền cạnh đường phố (mặt tiền)
có mức sinh lợi cao nhất, có điều kiện kết cấu hạ tầng thuận lợi nhất, các vị trí
tiếp sau đó theo thứ tự từ thứ 2 trở đi áp dụng đối với đất không ở liền cạnh
đường phố có mức sinh lợi và điều kiện kết cấu hạ tầng kém thuận lợi hơn.
2.5. GIỚI THIỆU PHẦN MỀM MAPINFO
+ *.WOR: Đây là file kết quả của quá trình biên tập bản đồ.
Khi muốn tổ chức quản lý và lưu trữ tổng hợp các table hoặc các tệp
thông tin khác nhau của Mapinfo vào chung một tập tin và các mối liên quan
giữa các đối tượng đó phải được bảo tồn như khi tạo lập, tập tin chung đó được
gọi là trang làm việc (Workspace) có phần mở rộng là WOR.
Ngoài ra, Mapinfo còn sử dụng dữ liệu xây dựng trong các phần mềm
khác như: Dbase (*.Dbf), Excel (*.Xls).
Sau khi khởi động phần mềm, trên màn hình xuất hiện cửa sổ như hình 2.1.
Hình 2.1. Cửa sổ chính của phần mềm Mapinfo sau khi khởi động phần mềm.
13
Tổ chức thông tin theo các lớp đối tượng.
Các thông tin bản đồ trong các phần mềm GIS thường được tổ chức theo
từng lớp đối tượng. Bản đồ trong máy tính là sự chồng xếp lên nhau, mỗi lớp thể
hiện một khía cạnh của mảnh bản đồ tổng thể. Với cách tổ chứ thông tin theo
từng lớp đối tượng giúp cho phần mềm Mapinfo xây dựng các khối thông tin
độc lập cho các mảnh bản đồ máy tính giúp cho việc thành lập bản đồ trên máy
tính linh hoạt hơn theo cách tập hợp các lớp thông tin khác nhau trong một hệ
thống, dễ dàng thêm vào một lớp thông tin mới hay xoá đi một thông tin không
cần thiết.
Các đối tượng bản đồ chính mà trên cơ sở đó Mapinfo quản lý, trừu tượng
hoá các đối tượng địa lý trong thế giới thực và thể hiện chúng thành các loại bản
đồ máy tính khác nhau là:
+ Đối tượng vùng (Region hay Polygon) thể hiện các đối tượng khép kín
về mặt hình học, bao phủ một vùng diện tích nhất định theo một hình dạng bất
kỳ nào đó.
+ Đối tượng đường (Line) thể hiện các đối tượng không khép kín hình
học, chạy dài theo một khoảng cách nhất định có thể là đường thẳng, gấp khúc,
hình cung…
+ Đối tượng điểm (Point) thể hiện vị trí cụ thể của một đối tượng nào đó.
+ Đối tượng kiểu chữ (Text) thể hiện các đối tượng không phải thuộc tính
tính cá nhân. Phần mềm này còn có các chức năng khác như thực hiện các phép
phân tích không gian, tạo mới và chỉnh sửa các dữ liệu không gian và phi không
gian, xây dựng các bản đồ chuyên đề và tạo ra các sản phẩm đầu ra có chất
lượng cao. Điểm hạn chế của phần mềm là không hỗ trợ việc kiểm tra lỗi để
chỉnh sửa và hoàn chỉnh bản đồ. Do vậy, Mainfo chỉ dùng để số hoá bản đồ cấp
huyện trở xuống. Ví dụ như: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch
sử dụng đất, bản đồ địa chính, bản đồ hành chính…
+ Thành lập bản đồ chuyên đề.
Thành lập bản đồ chuyên đề được hiểu một cách nôm na là “tô màu” cho
bản đồ theo cơ sở dữ liệu thuộc tính có trong bảng của lớp bản đồ để làm nổi bật
lên tính chất của dữ liệu trên bản đồ và hỗ trợ việc phân tích dữ liệu.
Ta có thể lấy dữ liệu từ Table khác hoặc từ một tính toán nào đó để xây
dựng bản đồ chuyên đề. Tạo được bản đồ chuyên đề, giúp ta thấy rõ được sự
thay đổi của dữ liệu trên bản đồ.
+Kết nối dữ liệu thuộc tính với các chương trình khác.
Phần mềm Mapinfo có thể kết nối cơ sở dữ liệu với các phần mềm hoặc
các chương trình khác như Arcview, AutoCAD, Microsoft Acces, Microsoft
Excel, Famis & CADDB….
15
+Tra cứu thông tin.
Mapinfo cho phép làm việc với một khối lượng lớn cơ sở dữ liệu vì thế
chức năng tìm kiếm cũng là một thế mạnh của Mapinfo cũng như GIS, giúp
người sử dụng tra cứu thông tin một cách nhanh chóng và chính xác. Để tìm
kiếm thông tin ta sử dụng lệnh Find (Tìm kiếm đối tượng trên cửa sổ bản đồ dựa
theo dữ liệu một trường nào đó trong bảng Mapinfo) và Find Selection (Lệnh
tìm kiếm đối tượng hoặc bản bản ghi đang được chọn). Lệnh này rất tiện lợi khi
tìm kiếm một thông tin đặc trưng nào đó trong một cơ sở dữ liệu lớn. Ví dụ: Tìm
tên chủ sử dụng đất, tên đường, tên dịa danh… [2].
2.6. CƠ SỞ DỮ LIỆU TRONG MAPINFO.
2.6.1. Chương trình Mapinfo quản lý cơ sở dữ liệu.
polygons, hình elipse và hình chữ nhật.
Ví dụ: Lãnh thổ địa giới một xã, hồ nước, thửa đất….
+ Đối tượng đường (Line): Là đối tượng có hướng xác định, được xác
định bằng các cặp tọa độ. Dùng để thể hiện các đối tượng không khép kín hình
học chạy dọc theo một khoảng cách nhất định.
Ví dụ: Đường giao thông, sông suối.…
+ Đối tượng điểm (Point): Là đối tượng không có hướng, được xác định
trong không gian và được thể hiện bằng một cặp tọa độ duy nhất. Dùng để thể
hiện vi trí cụ thể của từng đối tượng địa lý và được tượng trưng bằng một chấm.
Trong Mapinfo tuỳ vào nội dung của điểm mà có thể chọn kiểu biểu tượng
tương ứng để minh hoạ.
Ví dụ: Điểm khống chế, cây, cột cờ, cột điện….
+ Đối tượng chữ (Text): Là đối tượng được sử dụng để mô tả các đối
tượng trên thực tế, không có thực trên thực tế, thể hiện các đối tượng không
phải là địa lý trên bản đồ.Thường dùng để biên tập tên các con đường, bảng
chú dẫn, số thửa…
Hình 2.2. Các dạng đối tượng trong Mapinfo
17
- Cơ sở dữ liệu phi không gian: Cơ sở dữ liệu phi không gian hay còn gọi
là cơ sở dữ liệu thuộc tính là dữ liệu thể hiện những thuộc tính của đối tượng
trên bề mặt trái đất.
Ví dụ: Dữ liệu thuộc tính của một thửa đất bao gồm: số thửa, diện tích,
tên chủ sử dụng….
+ Các thông tin thuộc tính được mô tả gắn liền với các đối tượng địa lý
trên bản đồ. Các thuộc tính được lưu trữ như một tập hợp các số hay ký tự và
xem như là hình ảnh như một dòng giá trị định dạng.
+ Các thông tin thuộc tính đóng vai trò chú thích, chỉ dẫn, mô tả các thông
tin định lượng thể hiện nội dung bên trong của các đối tượng trên bản đồ và
chúng ta có thể truy cập, tìm kiếm thông tin cần thiết.[2].
2.7. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG GIS TRÊN THẾ
ứng dụng đơn lẻ. Nó đã từng được áp dụng cho việc xác định vị trí những chi
nhánh mới của ngân hàng. Hiện nay, việc sử dụng GIS đang tăng lên trong lĩnh
vực này, nó là một công cụ đánh giá rủi ro và mục đích bảo hiểm, xác định với
độ chính xác cao hơn những khu vực có độ rủi ro lớn nhất hay thấp nhất. Lĩnh
vực này đòi hỏi những dữ liệu cơ sở khác nhau như là hình thức vi phạm luật
pháp, địa chất học, thời tiết và giá trị tài sản.
+ Y tế.
Ngoại trừ những ứng dụng đánh giá, quản lý mà GIS hay được dùng, GIS
còn có thể áp dụng trong lĩnh vực y tế. Ví dụ như, nó chỉ ra được lộ trình nhanh
nhất giữa vị trí hiện tại của xe cấp cứu và bệnh nhân cần cấp cứu, dựa trên cơ sở dữ
liệu giao thông. GIS cũng có thể được sử dụng như là một công cụ nghiên cứu dịch
bệnh để phân tích nguyên nhân bộc phát và lây lan bệnh tật trong cộng đồng.
+ Bán lẻ.
Phần lớn siêu thị vùng ngoại ô được xác định vị trí với sự trợ giúp của
GIS. GIS thường lưu trữ những dữ liệu về kinh tế - xã hội của khách hàng trong
một vùng nào đó. Một vùng thích hợp cho việc xây dựng một siêu thị có thể
được tính toán bởi thời gian đi đến siêu thị và mô hình hóa ảnh hưởng của
những siêu thị cạnh tranh. GIS cũng được dùng cho việc quản lý tài sản và tìm
đường phân phối hàng hóa ngắn nhất.
+ Giao thông.
GIS có khả năng ứng dụng đáng kể trong lĩnh vực vận tải. Việc lập kế hoạch
và duy trì cơ sở hạ tầng giao thông rõ ràng là một ứng dụng thiết thực, nhưng giờ
đây có sự quan tâm đến một lĩnh vực mới là ứng dụng định vị trong vận tải hàng
hải, và hải đồ điện tử. Loại hình đặc trưng này đòi hỏi sự hỗ trợ của GIS.
+ Các dịch vụ điện, nước, gas, điện thoại….
Những công ty trong lĩnh vực này là những người dùng GIS linh hoạt
19
nhất, GIS được dùng để xây dựng những cơ sở dữ liệu là cái thường là nhân tố
chiến lược công nghệ thông tin của các công ty trong lĩnh vực này. Dữ liệu
vector thường được dùng trong các lĩnh vực này, những ứng dụng lớn nhất