Nghiên cứu hiện trạng khai thác , nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam - Pdf 28


Trung tâm nghiên cứu, quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng
ngừa dịch bệnh thuỷ sản khu vực miền bắc
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam
và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
KS: Trịnh Ngọc Tuấn


DO Hàm lượng oxy hòa tan
FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hiệp quốc
F/M Tỷ số khối lượng cơ chất trên khối lượng bùn hoạt tính
NTTS Nuôi trồng thủy sản
RBC Đĩa quay sinh học
SS Chất rắn lơ lửng
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TN Nitơ tổng
TP Phốtpho tổng
TS Tổng số chất rắn
Viện nghiên cứu NTTS 1
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, NTTS ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
II
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................................I
MỤC LỤC ................................................................................................................................ II
TÓM TẮT................................................................................................................................III

ng tới quá trình xử lý[13] ................................. 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................... 38
Viện nghiên cứu NTTS 1
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, NTTS ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
IIITÓM TẮT

Nghiên cứu này trình bày hiện trạng khai thác, nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam, nêu lên
những thành tựu Ngành Thủy sản đã đạt được trong vài năm trở lại đây. Hàng thủy sản
xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc tăng thu nhập ngoại tệ mạnh cho đất
nước. Trong những năm tới, do nhu cầu mặt hàng thủy sản trên thế giới tăng cao, thị
trường
được mở rộng thì Ngành khai thác, nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam rất có tiềm
năng phát triển. Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ môi trường NTTS cũng rất đáng được
quan tâm giải quyết. Nghiên cứu này cũng đã trình bày các biện pháp, đề xuất các giải
pháp hạn chế tác động của Ngành khai thác, nuôi trồng thủy sản đến môi trường và
ngược lại, phân tích các phương án xử lý nước thải nuôi trồng thủ
y sản. Trong các
phương pháp xử lý sinh học thì phương pháp lọc sinh học đáp ứng được hầu hết các
yêu cầu làm sạch nước thải nuôi trồng thủy sản (nước sau xử lý được tuần hoàn lại để
nuôi trồng thủy sản). Việc sử dụng phương pháp lọc sinh học hiếu khí có nhiều ưu thế
xét cả về phương diện kinh tế lẫn môi trường, vì quy mô các đầm ao NTTS không lớn,

làm sạch sinh học C
cp
(g/m
3
) .................................................................................................... 36 DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1. Sản lượng cá nuôi và khai thác của Việt Nam trong 10 năm qua.................................. 3
Hình 2. Hệ thống xử lý bằng phương pháp hiếu khí ............................................................... 15
Hình 3. Các bước xảy ra trong suốt quá trình xử lý sinh học yếm khí..................................... 16
Hình 4. Hồ sinh học hiếu khí (trên) và hiếu khí - kị khí (dưới)................................................ 18
Hình 5. Sơ đồ lọc sinh học trong hệ thống xử lý nước thải...................................................... 21
Hình 6. Thành phần theo chiều ngang của màng sinh học sinh trưởng dính bám.................... 22
Hình 7. Sơ đồ xử lý nước thải bằng bể lọc sinh học nhỏ giọt (Trickling filter) ....................... 25
Hình 8. Cấu tạo lọc sinh học nhỏ giọt ...................................................................................... 25
Hình 9. Vật liệu dẻo dời xếp đều đặn ....................................................................................... 27
Hình 10. Vật liệu lọc bằng các vòng kim loại .......................................................................... 27
Hình 11. Vật liệu dẻo xếp cho bể lọc nhỏ giọt ......................................................................... 27
Hình 12. Đĩa quay sinh học RBC ............................................................................................. 32
Hình 13. Sơ đồ làm việc một vài tổ hợp RBC trong hệ thống xử lý nước thải ........................ 34
Viện nghiên cứu NTTS 1
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, NTTS ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
1
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia có diện tích đất ngập nước rất lớn. Theo thống kê của
Bộ Thuỷ sản (số liệu của Ban chỉ đạo chương trình Nuôi trồng thuỷ sản (NTTS), Bộ
Thuỷ sản 2001): tổng diện tích mặt nước sử dụng cho NTTS đến năm 2001 của cả
nước là 751.900 ha (tăng hơn năm 2000 là 192.501 ha). Trong vài năm gần đây, nhận

.Viện nghiên cứu NTTS 1
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, NTTS ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
2
1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH KHAI THÁC, NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN Ở
VIỆT NAM

1.1. Hiện trạng khai thác, nuôi trồng thủy sản ở nước ta
1.1.1. Tình hình khai thác thủy sản

Tổng sản lượng khai thác thủy sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ
bình quân khoảng 9%/năm. Riêng giai đoạn 1996 – 2001 tăng bình quân 10%/năm.
Năm 2001 sản lượng khai thác đạt 1.395.783 tấn, đến năm 2002 tổng sản lượng khai
thác đạt 1.434.800 tấn, tăng 2,8% so với năm 2001.[1]
Trong giai đoạn 1991 – 2001 số lượng tàu thuyền máy tăng nhanh, ngược lại tàu
thủ công giảm dần. Năm 2001, toàn Ngành có 78.978 tàu thuyền vớ
i tổng công suất
3.722.577 CV, trong đó số tàu khai thác hải sản xa bờ là 6.005 chiếc với tổng công suất
trên 1.000.000 CV, bình quân 166,5 CV/tàu, tăng 109 chiếc so với năm 2000. Đến năm
2002, toàn Ngành có 81.000 tàu thuyền máy với tổng công suất 4.038.365 CV, bình
quân 49 CV/tàu, trong đó có 6.075 tàu có công suất 90 CV trở lên, tăng 75 tàu so với
năm 2001.
Điều đó cho thấy hiệu lực quản lý nhà nước về hạn chế đóng mới các loại tàu
thuyền nhỏ đã phát huy tác dụng. Sự chuyển
đổi cơ cấu từ khai thác gần bờ sang khai
thác xa bờ đã và đang diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên việc đầu tư cho khai thác thủy sản
xa bờ chưa đồng bộ, mới chỉ chú trọng đến khâu đóng tàu, còn khâu khác như: dự báo
nguồn lợi, hậu cần dịch vụ, tiêu thụ, chế biến, đào tạo nhân lực, tránh trú bão gió chưa
Hoạt động nuôi trồng thủy sản ở nước ta thực sự khởi sắc từ năm 1990 và đến năm
2000 – 2002 thì bùng phát cả về diện tích lẫn đối tượng nuôi.[1] Việc mở rộng diện
tích nuôi trồng thủy sản được tiến hành chủ yếu trên các vùng đất ngập nước ven biển,
trong các thủy vực nước mặn ven bờ, trên các vùng cát trũng thấp ven biển miền Trung
và một phần diện tích t
ừ canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi
trồng thủy sản. Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2001 là 993.264 ha trong đó diện
tích nuôi nước ngọt là 408.700 ha, diện tích nuôi mặn, lợ là 584.500 ha; Năm 2002 là
955.000 ha trong đó diện tích nuôi nước ngọt là 425.000 ha, diện tích nuôi măn, lợ là
530.000 ha. Do thay đổi cơ cấu và đối tượng nuôi trồng thủy sản đã dẫn đến tăng
nhanh sản lượng nuôi trồng thủy sản và đóng góp ph
ần đáng kể cho ngành chế biến hải
sản xuất khẩu. Sản lượng thủy sản năm 2001 đạt 891.695 tấn, năm 2002 đạt 976.100
tấn, tăng 9,47% so với năm 2001.

SẢN LƯỢNG THỦY SẢN
SL(TẤN)
Viện nghiên cứu NTTS 1
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, NTTS ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
4
Bảng 1
.

hóa lớn đã hình thành. Hình thức và đối tượng nuôi cũng khá phong phú, nhưng ở vùng
nước lợ chủ yếu là tôm và một số loài nhuyễn thể có giá trị xuất khẩu. Sản phẩm nuôi
mặn, lợ đã mang lại giá trị xuất khẩu rất cao cho nền kinh tế quốc dân và thu nhập đáng
k
ể cho người lao động.
Hình thức nuôi lồng bè trên biển cũng đang là hướng mở mới cho ngành Thủy sản, với
các loài tôm hùm, cá giò, cá mú, cá tráp, trai ngọc…
Đối với nuôi thủy sản nước ngọt, hình thức nuôi lồng bè và kết hợp với khai thác cá
trên sông đang ngày càng phổ biến. Hình thức này đã tận dụng được diện tích mặt
nước, tạo được việc làm và tăng thu nhập. Ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung đối
tượ
ng nuôi lồng chủ yếu là trắm cỏ với quy mô lồng nuôi khoảng 12 – 24 m
3
, năng suất
450 – 600 kg/lồng. Ở các tỉnh phía Nam đối tượng nuôi chủ yếu là cá basa, cá lóc, cá
bống tượng và cá he. Nuôi các đối tượng loài đặc sản có giá trị kinh tế cao như: ba ba,
tôm càng xanh, cá sấu, lươn, ếch…đang được mở rộng và làm tăng giá trị kinh tế của
các mô hình nuôi nước ngọt.

Viện nghiên cứu NTTS 1
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, NTTS ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
5
Bảng 2. Chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu năm 2005 của ngành thuỷ sản [10]
Chỉ tiêu Đơn vị tính KH 2005

Thuỷ sản nuôi trồng
-
-
-
-
2.000
1.800
200
2.000
103,1
102,9
105,3
147,1
0,62
0,57
1,05
9,41
B. Giá trị kim ngạch XK
1.000.000 USD
3.500 134,6
6,92

1.2. Tác động của ngành thủy sản đến môi trường
1.2.1. Tác động do khai thác thủy sản
Một số vấn đề môi trường nảy sinh trong hoạt động khai thác thủy sản ở nước ta: [1]
- Số lượng tàu thuyền càng tăng thì lượng chất thải đổ ra vùng biển càng nhiều
(nước thải sinh hoạt, dầu mỡ hết khả năng sử dụng, dầu bị rò rỉ trong quá trình vậ
n
hành…). Ước tính mỗi ngư dân một ngày xả ra biển 0,5 kg chất thải rắn và một tàu
đánh cá thường có khoảng 4 – 5 người, lượng tàu neo đậu tại một cảng cá 400 – 600

kiệt và tuyệt chủng, giảm tính đa dạng sinh học. Nguy hiểm hơn, còn biểu hiện rộng
khắp và chưa có khả năng ngăn chặn hành động tàn phá môi trường sống tự nhiên và
khai thác các loài thủy sinh vật thuộc danh mục cấm (như san hô, rùa biển, cỏ biển…).
Hiện tượng đánh bắt cá rạn s
ống bằng hóa chất độc xianua (NaCN) trên các rạn đá, rạn
san hô tại vùng biển Việt Nam đã xuất hiện nhiều, gậy nên sự đe dọa đối với các rạn
san hô.
Đến nay đã có khoảng 85 loài có mức độ nguy cấp khác nhau, trong đó có nhiều
loài vẫn đang là đối tượng bị tập trung khai thác như các loài giáp xác, nhuyễn thể, một
số loài cá rạn san hô, cụ thể:
 Đang bị đe dọa tuyệ
t chủng (mức độ E) có 17 loài
 Có thể bị đe dọa tuyệt chủng (mức độ độ V) có 20 loài
 Hiếm, có thể suy cấp (mức độ R) có 39 loài
Viện nghiên cứu NTTS 1
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, NTTS ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
7
 Bị đe dọa (mức độ T) có 9 loài.
- Đối với các loài thủy sản nước ngọt, việc khai thác quá mức (khai thác cá chưa
trưởng thành, cá bố mẹ trong mùa sinh sản cả trên đường di cư và tại bãi đẻ), làm mất
đi đường di cư sinh sản tự nhiên, mất đi một số bãi đẻ và khu vực kiếm mồi của tôm,
cá.
Các số liệu cho thấy, vùng đồng bằng sông Hồng, sản lượng thủy s
ản khai thác được từ
nguồn lợi tự nhiên hàng năm chỉ bằng 10 – 15% so với thời kỳ trước 1990. Ở vùng
đồng bằng sông Cửu Long, chỉ còn khoảng 40 – 50% so với thời kỳ trước năm 1975.
1.2.2. Tác động do nuôi trồng thủy sản
Một số vấn đề môi trường nảy sinh trong hoạt động nuôi trồng thủy sản ở nước ta:
- Do thiếu quy hoạch, nuôi trồng thủy sản (NTTS) ven biể
n phát triển khá tự phát

1.3. Các giải pháp bảo vệ môi trường (BVMT) trong ngành thuỷ s
ản
1.3.1. Những giải pháp BVMT trong thời gian qua
Trong thời gian qua ngành thuỷ sản đã thực hiện được những giải pháp sau:
- Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật
Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản (1989) và Luật Thuỷ sản (đang
trình). Nhiều Nghị định và Chỉ thị của Chính phủ để điều chỉnh từng vấn đề cụ thể c
ủa
nhiệm vụ BVMT thuỷ sản đã được ban hành: Nghị định 195 – HĐBT ngày 2/6/1990
về thi hành Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản; Nghị định 89/2001/NĐ
– CP ngày 16/11/2001 điều chỉnh về giống vật nuôi thuỷ sản, về thức ăn nuôi thuỷ sản,
về điều kiện kinh doanh các ngành nghề thuỷ sản trong đó có nôi dung về BVMT thuỷ
sản; Chỉ thị 01/1998/CT – TTG c
ủa Thủ tướng Chính phủ ngày 2/1/1998 về nghiêm
cấm các hành vi sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thuỷ sản. Chỉ thị
07/2002/CT – TTG ngày 25/2/2002 về tăng cường quản lý việc sử dụng thuốc kháng
sinh, hoá chất trong sản xuất kinh doanh thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, trong đó
có động vật thuỷ sản[1]
Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT của ngành
đã ban hành còn
chưa toàn diện, thiếu nhiều văn bản quy phạm riêng cho từng lĩnh vực sản xuất, chưa
có các quy định về quản lý các khu bảo tồn biển, các khu bảo tồn thiên nhiên trong các
thuỷ vực nôi địa, cũng như bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng đối với thuỷ
sản như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn.
Phân công, phân cấp quản lý, khai thác và bảo v
ệ nguồn lợi thủy sản chưa có đủ các
quy định và thiếu rõ ràng, ảnh hưởng đến quá trình thực thi pháp luật.
- Tuyên truyền, giáo dục việc chấp hành pháp luật
Truyền đạt các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT đến những người có trách
nhiệm và cộng đồng dân cư.

thủy sản.
- Có kế hoạch phục hồi các loài thủy sinh vật quý hiếm, xây dựng và bảo vệ các
Vườn Quốc Gia, các khu Bảo tồn thiên nhiên.
- Đối v
ới các ngành khác gây ô nhiễm môi trường nuôi trồng thủy sản, phải có
các quy định xử phạt nghiêm khắc, phải xử lý chất thải trước khi xả vào môi
trường NTTS.
Viện nghiên cứu NTTS 1
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, NTTS ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
10
- Ngành nông nghiệp phải hạn chế sử dụng thuốc từ sâu, phân bón hóa học, thuốc
diệt cỏ; ngành lâm nghiệp phải đẩy mạnh trồng rừng, chống phá rừng, sói mòn;
ngành công nghiệp hóa chất, xây dựng, năng lượng phải xử lý chất thải trước
khi thải ra môi trường, các lưu vực nước tự nhiên.
- Đối với nước thải ra sau khi thu hoạch thủy sản phải có hệ thống xử
lý nước thải
đạt được các tiêu chuẩn môi trường, nước sau xử lý phải được tuần hoàn tái sử
dụng NTTS để tránh gây lãng phí nước, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm.

thấy hàm lượng BOD, COD, NO
2
... trong nước của những thuỷ vực đều cao hơn tiêu
chuẩn cho phép đối với đời sống thuỷ sinh vật. Năm 2001 hàm lượng của một số kim
loại nặng trong các nguồn nước cung cấp cho NTTS ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ
An (báo cáo kết quả nhiệm vụ quan trắc cảnh báo môi trường dịch bệnh của các thuỷ
vực ngọt, lợ phục vụ ngành thuỷ sản phía Bắc Việt Nam)
đều cao hơn so với TCVN
6774 – 2000. [2]
Hiện nay, có rất nhiều loại sản phẩm thuốc, hoá chất và chế phẩm sinh học (CPSH)
được dùng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) trên thế giới. Hoá chất được
dùng trong NTTS trên thế giới thường ở các dạng sau: thuốc diệt nấm (antifoulants),
thuốc khử trùng (disinfectants), thuốc diệt tảo (algicides), thuốc trừ cỏ (herbicides),
thuốc trừ sâu (pesticides), thuốc diệt ký sinh trùng (parasiticides) và thuốc diệt khuẩn
Viện nghiên cứu NTTS 1
Nghiên cứu hiện trạng khai thác, NTTS ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải
12
(antibacterials) và chất kháng sinh được sử dụng đáng kể trong NTTS hoặc để chữa các
bệnh lây nhiễm hoặc phòng bệnh đã nêu trên. [8]
Những hoá chất trên có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khoẻ động vật thuỷ
sản nếu như sử dụng đúng, nhưng khi lạm dụng dẫn đến những hậu quả khôn lường,
gây rủi do cho người lao động, tồn dư các chất độc trong sản ph
ẩm thuỷ sản gây hại
cho người tiêu dùng, làm giảm giá trị thương phẩm và còn tạo các chủng vi khuẩn
kháng thuốc làm giảm hiệu quả trong điều trị bệnh.
Thành phần lớp bùn trong các đầm, ao NTTS chủ yếu là các chất hữu cơ như
prôtêin, lipids, axit béo với công thức chung CH
3
(CH
2

Có rất nhiều phương pháp sinh học đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong xử lý
ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các chất thải hữu cơ. Tiêu biểu là việc sử dụng hệ sinh
vậ
t để phân hủy hoặc hấp thụ/hấp phụ các chất ô nhiễm hữu cơ, vô cơ từ chất thải sản
xuất và sinh hoạt. Có thể nêu lên một số phương pháp sau :
- Sử dụng hệ vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ trong chất thải

Trích đoạn Các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới quá trình xử lý[13]
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status