MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội phát triển mạnh mẽ đầy thách thức hiện nay, nếu thiếu kỹ năng sống
sẽ thiếu khả năng phân tích xử lý các tình huống khó khăn, xuống cấp về đạo đức,
nhận thức và ứng xử lệch lạc, có phản ứng tiêu cực, dễ rơi vào bế tắc, không tự mình
kéo lên được, Trong khi đó, chương trình giáo dục hiện nay còn nặng về kiến thức,
chưa chú trọng đúng mức đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Năm học 2008 – 2009 với chủ trương xây dựng “Trường học thân thiện – Học sinh
tích cực”, nội dung giáo dục KNS trong trường học lần đầu tiên được Bộ GD&ĐT
nhắc đến. Đặc biệt, ở một số trường học ngoài công lập, trường học quốc tế, việc giáo
dục KNS đã được quan tâm sớm hơn một bước và đã trở thành một bộ môn chính
khóa. Do vậy, đề tài “Giáo dục KNS cho học sinh THCS” đã thực hiện, nhằm hướng
đến giáo dục toàn diện cho HS, giúp các em rèn luyện KNS vững vàng trong cuộc
sống.
II. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
THCS.
III. Khách thể nghiên cứu.
Khách thể nghiên cứu là học sinh THCS.
IV. Đối tượng khảo sát.
Đối tượng khảo sát là trường THCS Nguyễn Viết Xuân, Thị xã Thủ Dầu Một,
Bình Dương.
V. Phương pháp nghiên cứu.
1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu dùng để nghiên cứu các tài liệu, các đề tài về
giáo dục KNS cho học sinh THCS, phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu về vấn đề có
liên quan đến đề tài.
2. Phương pháp khảo sát, phỏng vấn qua bàng hỏi.
Phương pháp được thực hiện nhằm thu thập thông tin về thực trạng giáo dục KNS
cho học sinh THCS. Để đo mức độ hình thành KNS cho học sinh THCS.
3. Phương pháp thống kê toán học.
người biết mình là ai, sinh ra để làm gì, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, mình có
thể làm được làm gì?)
1.2.2. Phân loại kỹ năng sống.
Kỹ năng sống được chia làm hai loại: kỹ năng cơ bản và kỹ năng nâng cao.
Kỹ năng cơ bản gồm: kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng,
Kỹ năng nâng cao là sự kế thừa và phát triển các kỹ năng cơ bản dưới một dạng thức
mới hơn. Nó bao gồm: các khả năng tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, phân
tích, tổng hợp,
Ở các lớp THCS, kỹ năng nâng cao được xem trọng nhiều, còn kỹ năng cơ bản
được xem trọng ở các lớp đầu cấp tiểu học.
KNS được học qua 3 môi trường cụ thể, đó là: học từ những người truyền thụ trực
tiếp kiến thức cho mình, học từ sách báo, truyền hình và các phương tiện truyền thông
đại chúng khác, học từ những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên xã hội. Hay nói cách
khác, KNS có trong 3 môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội.
1.3. Giáo dục kỹ năng sống và sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh.
1.3.1. Giáo dục KNS là gì?
Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động cụ thể nhằm tổ chức, điều
khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức đã được biết và thái độ, giá trị ( HS
suy nghĩ, cảm thấy tin tưởng được) thành hành động thực tế một cách tích cực và
mang tính chất xây dựng. Giáo dục KNS cho HS không phải là đưa ra những lời giải
đơn giản cho những câu hỏi đơn giản, mà giáo dục KNS là việc hướng đến làm thay
đổi các hành vi. Có nghĩa là, GD cho các em có cách sống tích cực trog xã hội, là xây
dựng và thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu phát
triển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp HS có tri thức, giá trị, thái độ
và kỹ năng phù hợp.
Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THCS không dừng lại ở việc làm thay đổi
nhận thức cho HS bằng cách cung cấp thông tin, tri thức mà tập trung vào mục tiêu
xây dựng hoặc làm thay đổi hành vi của HS theo hướng tích cực, mang tính xây dựng
đối với các vấn đề đặc ra trong cuộc sống.
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH THCS VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN
THỰC TRẠNG ĐÓ.
2.1. THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ .
Thời gian qua, báo chí đã phản ánh khá nhiều về thực trạng thanh thiếu niên thiếu
hụt về kỹ năng xử lý, ứng phó với tình huống xảy ra trong cuộc sống nên đã rơi vào bế
tắc, không thể tự kéo mình lên được, như: giết bạn vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, bỏ nhà đi
bụi, bạo lực học đường, nữ sinh tham gia vào các đường dây mại dâm, hoặc tự vẫn chỉ
vì thầy cô, cha mẹ trách mắng,
Thực trạng cho nền giáo dục ở nước ta hiện nay là quá chú trọng vào việc giảng
dạy kiến thức, sách vở, quản lý GD bằng những quy tắc cứng nhắc mà xem nhẹ việc
GD về KNS, đạo đức cho học sinh. Chính vì thế mà Việt Nam là một trong những
nước đứng đầu về bạo lực học đường.
Công tác giáo dục KNS cho HS chưa được đầu tư đúng mức về tài liệu, cơ sở vật
chất giảng dạy. Nội dung, cách thức giáo dục KNS đơn điệu, sơ sài, chưa thu hút được
sự quan tâm tham gia của các em HS. Bản thân giáo viên cũng còn thiếu KNS nên khó
đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục KNS cho HS. Vì vậy, với không ít cơ sở GD, giáo dục
KNS là nhiệm vụ bất đắc dĩ, và kết quả "được hay không thì tùy".
Về phía các đoàn thể xã hội khác, nhìn chung đều có tham gia vào công tác này,
nhưng chưa thực sự quan tâm đúng mức. Đặc biệt, về phía gia đình, vì nhiều nguyên
nhân mà hầu hết các bậc phụ huynh đều đẩy việc giáo dục KNS con em mình cho nhà
trường, không quan tâm đến con em mình trong nhận thức về KNS. Trong khi đó, GD
trong gia đình là nền tảng đầu tiên và quan trọng nhất.
Hầu hết đề tài nghiên cứu trước đây đều có chung nhận định: học sinh thời nay
năng động, tự tin, mạnh dạn bày tỏ chính kiến của mình và thường có mức yêu cầu cao
đối với bản thân.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các em bước đầu hình thành những quan niệm cơ bản về
kỹ năng sống, phần đông nhận thức được kỹ năng sống là hành vi con người thể hiện
khi ứng phó với những tình huống diễn ra trong cuộc sống, dựa trên những phẩm chất
a. Xảy ra hiểu lầm
b. Mọi người không lắng nghe nhau
c. Người nói không thể đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng
d. Mọi người không làm theo bạn
Câu 4: Bí quyết nào sao đây sẽ luôn giúp bạn thành công, luôn được người khác yêu
mến trong cuộc sống và công việc?
a. Góp ý thẳng thắng, lắng nghe và tôn trọng
b. Luôn tươi cười, học cách khen ngợi và lắng nghe
c. Đặt câu hỏi, giúp đỡ nhiệt tình và phê bình khi có sai sót
d. Ý kiến khác của bạn : ……………………………………
Câu 5: Tôi có khuynh hướng làm những gì tôi nghĩ mình có thể làm được hơn những
gì tô tin là đúng?
a. Không bao giờ
b. Hiếm khi
c. Thỉnh thoảng
d. Thường xuyên
e. Luôn luôn
Câu 6: Bạn kiểm soát những tình huống mới một cách khá thỏa mái và dễ dàng?
a. Không bao giờ
b. Hiếm khi
c. Thỉnh thoảng
d. Thường xuyên
e. Luôn luôn
Câu 7: Bân được rèn luyện kỹ năng sống ở đâu?
a. Nhà trường
b. Gia đình
c. Bạn bè
d. Tất cả
Câu 8: Bạn thường rèn luyện kỹ năng sống của mình bằng cách nào?
a. Trong hoạt động vui chơi với bạn bè
giải quyết các tình huống. Nhưng, hầu hết các em chưa được tiếp cận một cách thường
xuyên và giáo dục đúng đắn về các KNS. Vì vậy, các em cần phải được rèn luyện và
giáo dục đúng đắn về KNS.
2.2. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG ĐÓ.
• Về phía HS: chưa được trang bị các kỹ năng cần thiết để nhận thức về bản thân và đối
phó với các tình huống đến từ các mối quan hệ xã hội và sự biến đổi tâm sinh lý của
bản thân và sự biến đổi của môi trường.
• Về phía gia đình: chưa nhận thức được đầy đủ về nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho HS,
còn lơ là, không quan tâm đến các em, chưa thật sự gương mẫu cho các em noi theo,
phó mặc nhiệm vụ cho giáo viên và nhà trường.
• Về phía nhà trường: chưa quan tâm đầy đủ đến công tác giáo dục KNS cho học sinh,
chưa đưa công tác này thành kế hoạch cụ thể, chưa có công tác tổ chức và hướng dẫn
thực hiện cho GV. GV thì chưa được trang bị đầy đủ về KNS và tmầ quan trọng của
công tác giáo dục KNS cho HS, chưa biết cách tổ chức giáo dục KNS phù hợp cho
từng lứa tuổi.
• Về phía xã hội: ngày càng có nhiều tệ nạn xã hội nguy hiểm, các khu vui chơi giải trí
lành mạnh hco HS ít được đầu tư phát triển, nhiều tụ điểm không lành mạnh mọc lên
ngày càng nhiều,…
Từ đó những nguyên nhân đó, nhóm nghiên cứu đề tài có một số đề nghị như sau:
• Đầu tiên là từ phía bản thân của các em cần phải có ý thức tự giác, tự ý thức được tầm
quan trọng của việc rèn luyện KNS đối với bản thân, tích cực học tập, tìm hiều, từ đó
đề ra cho mình các biện pháp và phương hướng rèn luyện có hiệu quả.
• Về phía gia đình cần phải quan tâm, theo dõi các em, luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho
các em có thể phát triển một cách toàn diện những khả năng của bản thân, phát triển trí
tuệ và thể chất, để các em có cơ hội học tập và rèn luyện KNS cho bản thân.
• Về phía nhà trường cần phải quan tâm, cú ý đến việc rèn luyện KNS cho các em. Chú
ý kết hợp hài hòa giữa việc giáo dục kiến thức với giáo dục đạo đức, KNS cho HS.
Nhà trường cẩn tổ chức các buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt ngoại khóa.
Tham quan, du lịch, để các em có điều kiện tiếp xúc với thực tế, gặp những hợp mà tự
bản thân các em suy nghĩ và giải quyết,…Từ đó, giúp các em rèn luyện KNS tốt hơn.
Cuộc đời là một hành trình mà bằng cấp chuyên môn giống như một bệ phóng, còn
kỹ năng sống chính là động lực đẩy con người vươn lên tầm cao thành đạt.
Cần lưu ý rèn luyện kỹ năng sống là một quá trình lâu dài, bền bỉ. Do đó, không
phải vì kỹ năng sống có tầm quan trọng rất lớn mà cố đưa vào chương trình giảng dạy
cho HS nhiều chuyên đề mang tính lý thuyết. Điều cần thiết là làm cho mọi người ý
thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống và lồng nó vào các môn học. Những
người đã đi làm thì cần bổ sung một vài chuyên đề cần thiết mà bản thân c
3.2 Tác động của kỹ năng sống đối với học sinh trung hoc cơ sở
* Nhận thức
Giúp học sinh THCS có tri thức hiểu biết về các giá trị truyển thống của dân tộc,
cũng như những giá trị tốt đẹp của nhân loại, củng cố và mở rộng thêm kiến thức đã
học trên lớp, có ý thức chính trị, đạo đức, pháp luật và lối sống lành mạnh, ý thức về
quyền và trách nhiệm đối với bản than, gia đình, nhà trường và xã hội, có ý thức định
hướng nghề nghiệp cho tương lai,…
* Kỹ năng
Tiếp tục rèn luyện kỹ năng cơ bản đã được hình thành, trên cơ sở đó phát triển
thành một số năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, khả năng thích ứng, kỹ
năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng kiên định, năng lực hoạt động chính
trị xã hội, nang9 lực tở chức, quản lý, năng lực hợp tác, chia sẻ, thương lượng, nhằm
giúp cho học sinh sống một cách an toàn, khỏe mạnh, thích ứng với cuộc sống không
ngừng biến đổi.
* Thái độ
Giúp cho HS có lý tưởng sống vì ngày mai lập nghiệp, có niềm tin vào tương lai,
có ý thức và tinh thần tự hào dnâ tộc. Biết tỏ thái độ trước những vấn đề của cuộc
sống, biết chịu trách nhiệm với những hành vi của bản thân, đấu tranh tích cực với
những biểu hiện sai trái của bản thân và của người khác để tự hoàn thiện mình, biết
cảm thông và tha thức hco những sai lầm của người khác. Bồi dưỡng cho các em tính
tích cực, chủ động, sang tạo tham gia các hoạt động tập thể, giáo dục cho các em tinh
thần đoàn kết hữu nghị,
CHƯƠNG 4
quan sát tình hình giao thông rồi nhận xét.
4.1. Phương pháp động não
* Mô tả phương pháp
Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắnnảy sinh
được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một phương pháp có
ít để (lôi ra) một danh sách các thông tin.
* Cách tiến hành
Có thể tiến hành theo các bước sau:
- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp
hoặc trước nhóm.
- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.
- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ
trường hợp trùng lặp.
- Phân loại các ý kiến.
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng.
- Tổng hợp ý kiến học sinh, hỏi xem có thắc mắc hay bổ sung gì không.
* Những yêu cầu sư phạm
- Phương pháp động não có thể dùng để lý giải bất kỳ một vấn đề nào, song đặc biệt
phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong cuộc sống thực tế của học sinh.
- Phương pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi có phần kết đóng và kết mở.
- Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn bằng một từ hay một câu thật ngắn.
- Tất cả mọi ý kiến đều cần được GV hoan nghênh, chấp nhận mà không nên phê
phán, nhận định đúng, sai ngay.
- Cuối giờ thảo luận GV nên nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự tham gia
chung của tất cả học sinh.
- Động não không phải là một phương pháp hoàn chỉnh mà chỉ là sự khởi đầu. Một
khi danh sách các câu trả lời đã được hoàn thành, cần phải cho cả lớp dùng danh sách
này để xác định xem câu trả lời nào là sai.
- Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở
nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biết lắng nghe có
nghe ý kiến học sinh. Thỉnh thoảng cũng rất hữu ít nếu GV xen lời bình luận vào giữa
cuộc thảo luận của một nhóm. Đối với những đề tài nhạy cảm thường có những tình
huống mà học sinh sẽ cảm thấy bối rối xấu hổ khi phải nói trước mặt GV, trong trường
hợp này GV có thể quyết định tránh không xen vào hoạt động của nhóm khi thảo luận.
* Cách tiến hành
Thảo luận nhóm có thể tiến hành theo các bước sau:
- GV nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luận cho mỗi
nhóm, quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm.
- Các nhóm tiến hành thảo luận.
- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm. Các nhóm khác lắng
nghe, chấp vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến.
- GV tổng kết các ý kiến.
* Yêu cầu sư phạm
- Có nhiều cách chia nhóm, có thể theo số điểm danh, theo màu sắc, theo biuểu
tượng, theo giới tính, theo vị trí ngồi,…
- Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ tuỳ theo vấn đề thảo luận. Tuy nhiên, nhóm từ 4
đến 8 học sinh là tốt nhất bởi lẻ.
+ Số học sinh này nhỏ vừa đủ để đảm bảo tất cả các em có thể tham gia tích cực.
+ Số học sinh này lớn vừa đủ để đảm bảo rằng các em không bao giờ thiếu ý tưởng,
và không có gì để nói.
4.3. Hoạt động nhóm nhỏ
* Mô tả phương pháp
Hoạt động nhóm nhỏ tương tự với những gì đã nói ở trên đối với phương pháp thảo
luận nhóm, trừ một điều là GV mong muốn học sinh thực hiện một số bài tập cụ thể
hơn là thảo luận đề tài.
* Cách tiến hành
Thường thì trước tiên học sinh cần phải thảo luận trước, sau đó mới làm bài tập và
trình bày, giới thiệu sản phẩm hoạt động.
* Yêu cầu sư phạm
- Nội dung, hình thức hoạt động trong nhóm phải phù hợp với chủ đề bài dạy, phải
- Tình huống nên để mở, không cho trước “ Kịch bản” , lời thoại.
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai.
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề.
- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia.
- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai.
4.5. Phương pháp nghiên cứu tình huống (hai nghiên cứu các trường hợp
điền hình)
* Mô tả phương pháp
Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình
huống “ thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình
huống có thể được thực hiện trên video hay một băng cátset mà không phải trên dạng
chữ viết. Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống
thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác
nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản
* Các bước tiến hành
Các bước nghiên cứu tình huống có nghĩa là :
- Đọc ( hoặc xem hoặc nghe) tình huống thực tế.
- Suy nghĩ về nó (có thể viết một vài lĩnh vực đó trước khi thảo luận điều đó với
người khác).
- Đưa ra một hay nhiều câu hỏi hướng dẫn liên quan đến tình huống (trong tài liệu
viết hay từ giáo viên.
- Thảo luận tình huống thực tế.
- Thảo luận vấn đề chung hay các vấn đề được minh chứng bằng thực tế.
* Yêu cầu sư phạm
- Tình huống có thể dài hay ngắn, tuỳ từng nội dung vấn đề.
- Tình huống phải được kết thúc bằng một loạt các vấn đề hoặc câu hỏi như: bạn
nghĩ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ? Bạn sẽ làm gì nếu bạn là nhân vật A? Nhân vật B?
v.v… vấn đề này có thể đã được ngăn chặn như thế nào? Lúc này cần phải làm gì để
hạn chế tính trầm trọng của vấn đề?
- Vấn đề trả lời các câu hỏi này phải được dùng để khái quát một tình huống rộng
- Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện cho học
sinh tham gia tổ chức, điều khiến tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và
đánh giá sau khi chơi.
- Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán
cho học sinh.
- Sau khi chơi, GV cần cho học sinh thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo dục của trò
chơi.
7. Phương pháp dự án
* Mô tả phương pháp
Phương pháp dự án được hiểu như là một phương pháp trong đó người học thực
hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết với thực tiễn, thực
hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá
trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm
tra, điều chỉnh, đánh gia quá trình và kết quả thực hiện.
Phương pháp dự án có 3 đặc điểm cơ bản sau:
- Định hướng học sinh: Trong phương pháp dự án, học sinh tham gia tích cực và tự
lực vào quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm và
sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn giúp đỡ. Tuy nhiên mức độ tự
lực cần phù hợp với kinh nghiệm và khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm
vụ. Sử dụng phương pháp này cần chú ý đến hứng thú của HS: HS được tham gia chọn
đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Hứng thú của các
em cũng cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án. Trong khi xây
dựng và thực hiện dự án còn cần có sự hợp tác làm việc theo nhóm và sự phân công
công việc giũa các thành viên của nhóm. Phương pháp dự án đòi hỏi và rèn luyện tính
sẵn sàng và kỹ năng hợp tác của HS.
- Định hướng hoạt động thực tiễn: Phương pháp dự án kết hợp giữa lí thuyết và thực
hành, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn. Chủ đề dự án gắn liền với các vấn đề, tình
huống, thực tiễn. Nhiệm vụ dự án cần phù hợp với trình độ và khả năng HS.
- Định hướng sản phẩm: Trong phương pháp dự án, các sản phẩm được tạo ra theo
định hướng sản phẩm. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lí