1
BỌ GIAO DỤC VA ĐAO TẠO
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỎ THỊ HẢI
HÒ THỊ HẢI
GIÁO DỤC Tư TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
GIÁO DỤC Tư TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH CHO HỌC SINH TRUNG
HỒ CHÍ MINH CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC Cơ SỞ THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN
HỌC Cơ SỞ THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN
(Qua khảo sát ở trường Trung học cơ sở Diễn Phú,
huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An)
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Giáo dục chính trị
Người hướng dàn khoa học:
2
NGHỆ AN - 2013
LỜI CẢM ƠN
DỤC TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HÒ CHÍ MINH CHO HỌC
SINH TRƯNG HỌC cơ SỞ THÔNG QƯA DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN..........................................................12
1.1.
Cơ sở lý luận của việc giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
cho học sinh Trung học cơ sở thông qua dạy học môn Giáo dục
công dân......................................................................................12
1.2.
Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
cho học sinh bậc Trung học cơ sở thông qua môn Giáo dục công
dân (Qua khảo sát ở trường Trung học cơ sở Diễn Phú, huyện
Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An).........................................................33
1.3.
Những tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được đưa vào vận dụng
giáo dục cho học sinh bậc Trung học cơ sở thông qua môn Giáo
dục công dân.........................................................................................46
Chương 2. THƯC NGHIỆM SƯ PHẠM CỦA VIỆC GIÁO DỤC TƯ
TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HÒ CHÍ MINH CHO HỌC SINH TRƯNG
HỌC Cơ SỞ THÔNG QƯA DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC
CÔNG DÂN....................................................................................59
2.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm..........................................................59
45
Đạo đức mà Người đề cập đến rất toàn diện. Bác nêu yêu cầu đạo đức
đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt
động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ: với
mình, với người và với công việc.
Với ý nghĩa trên nên trong quá trình dạy học, dễ lồng ghép tư tưởng của
Người. Đặc biệt là đối với môn GDCD. Làm thế nào để những “mầm xanh”
được “phát triển tốt và khoẻ” thì đất nước sẽ có sự biến chuyển nhanh, mạnh
tiến kịp với các cường quốc năm châu như Bác Hồ từng mong muốn?
Từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp giáo dục, trong đó đề cập
đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong các nhà trường phổ thông nói
chung. Công tác giáo dục đạo đức trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, là
chiến lược hàng đầu vì sự phát triến của con người và của xã hội. Đẻ công tác
giáo dục đạo đức đem lại hiệu quả thiết thực, rất cần sự phối hợp một cách
7
thực hiện những chuẩn mực cũng như biến các chuẩn mực được học thành
hành động, suy nghĩ thì đưa tấm gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh
trong dạy học là vô cùng hiệu quả.
Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước thực hiện cuộc vận
động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có tác dụng hết
sức mạnh mẽ. Tác động đó không chỉ bó hẹp trong một lĩnh vực, một độ
tuổi, một môi trường chật hẹp mà sức lan toả của nó hết sức lớn lao. Chủ
trương đó của Đảng và nhà nước trong thời kì hiện nay là rất đúng đắn và
hiệu quả. Bởi khi nền kinh tế thị trường phát triển, kéo theo những tác động
tích cực thì những hiện tượng tiêu cực xảy ra không phải là ít. Khi đạo đức,
nghiệp đôi mới ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Văn Thị
Thanh Mai, Góp phần tìm hiếu tư tưởng và đạo đức Hồ Chỉ Minh, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội 2007. Thành Dung Tư tưởng Hồ Chỉ Minh về đạo đức,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Phạm Ngọc Liên - Nguyễn An, Hồ
Chí Minh với Giáo dục - đào tạo (tập 1), Nxb Từ điến Bách khoa, Hà Nội,
2003. Hoàng Bình Quân “Tuôi trẻ học tập và hành dộng theo tư tưởng Hồ
Chỉ Minh”, tạp chí Tư tưởng văn hóa, số 07, tr. 13 - 17; Hoàng Trung, “Vì
sao Hồ Chí Minh lại đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức”, tạp chí Triết
học, Số 04, tr. 19-20, 2000;... Những công trình nghiên cứu đó đều tập trung
đề cập đến tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó chú trọng đến việc
giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ.
Có thể nói có rất nhiều đề tài thạc sỹ nghiên cứu về giáo dục tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh, như: Vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chỉ Minh vào giảo
dục
đạo đức cho học sinh trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật công nghệ l riệt Hàn
(Nghệ An) của Hồ Thị Bích Ngọc; Tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cách mạng trong dạy học phần: “Công dân vói đạo đức” GDCD 10 của
9
thành phổ Bến Tre của Huỳnh Thị Như Quỳnh; Vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường
THCS COLÊTT, Quận 3, TP Hồ Chí Minh của Lê Kim Giang; Vận dụng tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đế nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học
sinh Trung học phô thông trong giai đoạn hiện nay (qua khảo sát ở tnròng
Trung học pho thông Long Phirớc, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) của
Nguyễn Thị Ngọc Anh; Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đế nâng cao hiệu quả
công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh ở các Trường Trung học cơ
sở Quận 3, Thành pho Hồ Chỉ Minh của Đoàn Hữu Khánh.. .Tuy vậy vẫn chưa
Dựa trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, đề tài chủ yếu sử dụng phương
pháp nghiên cứu khoa học sau đây:
- Phương pháp phân tích và tổng họp
- Phương pháp khảo sát và điều tra xã hội học
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đổi tượng nghiên cứu
Đe tài tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và việc vận
dụng vào trong quá trình dạy học môn GDCD bậc THCS ở trường THCS
Diễn Phú, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Đe tài luận văn nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh tập
trung ở 4 nội dung lớn sau:
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về:
11
THCS trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trong giai
đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa đề tài
- Góp phần làm cho học sinh hứng thú và yêu thích bộ môn hơn bởi
chơ học sinh Trung học cơ sở thông qua dạy học môn Giáo dục công dân
1.1.1 Khái niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức
1.1.1.1 Khái niệm về đạo đức
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã
hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội. Đạo đức ra đời cùng với sự
xuất hiện của con người. Do vậy đây là một trong những vấn đề xuyên suốt
được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Danh từ “Đạo đức” bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris)- lề thói,
(moralis là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lí” thường xem
đồng nghĩa với đạo đức thì gốc của chữ Hi lạp là Êthicos nghĩa là lề thói, tập
tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng khi ta nói đến vấn đề đạo đức là nói tới lề
thói, tập tục và biếu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong
quan hệ giao tiếp.
Ở phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức. Đạo là một trong những phạm trù
quan trọng nhất của triết học Trung Quốc. Đạo có nghĩa là con đường, đường
đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của
tự nhiên. Đạo còn có nghĩa đê chỉ con đường sống của con người trong xã
13
chuẩn mực về đạo đức là tiêu chí để mỗi cá nhân dùng để tu dưỡng, rèn luyện
và làm thước đo để đánh giá nhân cách con người. Đối với giai cấp thống trị,
các giá trị chuẩn mực đạo đức được xem là một trong những những công cụ
đắc lực và hữu hiệu nhất để cai trị đất nước, giữ vững nền thống trị của giai
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Loài
người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi của con người:
phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức...Đối với đạo đức, sự đánh
giá hành vi của con người theo khuôn phép chuấn mực và quy tắc đạo đức
biểu hiện thành những khái niệm thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi
nghĩa. Bất ki trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như
vậy. Các khái niệm thiện ác, khuôn phép, quy tắc hành vi của con người được
thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Và
trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp
nhất định. Những khuôn phép (chuẩn mực) và quy tắc đạo đức là yêu cầu của
xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra hành vi cho mỗi cá nhân. Nó bao
gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, đối với nhà nước,
giai cấp mình và giai cấp đối địch...) và đối với người khác. Những chuấn
mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai
cấp, dân tộc thừa nhận. Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình
đối vói xã hội và đối vói người khác (khuôn phép hành vi) là tiền đề của hành
vi đạo đức của cá nhân. Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu
sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, sự đánh giá đối với hành vi của mình
và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm...
Từ sự lí giải trên cho thấy khi đề cập đến vấn đề đạo đức, cho thấy đạo
đức có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội. Đạo đức phản ánh
tồn tại xã hội biểu hiện bằng hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, quy tắc và
là phương thức điêu chỉnh hành vi cá nhân phù hợp chuấn mực xã hội. Nêu hệ
15
hội phát triển. Ngược lại các hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, quy tắc
chuẩn mực đạo đức lỗi thời, lạc hậu sẽ cản trở và có tác động tiêu cực đến xã
hội nên đạo đức là một hiện tượng xã hội. Đạo đức phản ánh các mối quan hệ
việc, môi trường và quan hệ với cả với lý tưởng sống của dân tộc và góp phần
giữ vững, ốn định chính trị để từ đó thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
1.1.1.2
Khải niệm về giảo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng trong giáo dục nhân
cách con người, giúp con người phát triển toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn nhắc mọi người phải có đức, có tài mới đóng góp được nhiều
lợi ích cho xã hội. Mỗi giai đoạn lịch sử phát triển xã hội có mục tiêu, nội
dung chương trình, phương pháp giáo dục cụ thê nhằm xây dựng nhân
cách toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi phát
triển của xã hội.
Bất kỳ mỗi cá nhân từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành đều chịu sự
ảnh hưởng và tác động từ những môi trường khác nhau trong cuộc sống bao
gồm cả mặt tích cực và tiêu cực. Muốn cá nhân được phát triển toàn diện thì
cần phải được giáo dục bởi vì bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ nhằm duy trì
và phát triển cộng đồng xã hội. Thông qua các kênh giáo dục khác nhau như
giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội để chăm lo giáo dục cho các thế hệ
trẻ. Mỗi con đường giáo dục đều có nội dung, hình thức riêng nhưng tất cả
đều hướng đến mục tiêu hình thành nhân cách, bồi dưỡng và giáo dục nhân
cách cho con người. Trong đó, giáo dục đạo đức là một hoạt động có mục
đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm biến những nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị
đạo đức đã được xã hội thừa nhận thành những phâm chất, giá trị đạo đức của
cá nhân. Mục đích của giáo dục đạo đức là nhằm góp phần phát triển nhân
cách của môi cá nhân, định hướng đúng những hành vi đạo đức và thúc đấy
18
tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năng chống
lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống.
Giáo dục đạo đức còn có ý nghĩa lâu dài, được thực hiện thường xuyên
và trong mọi tình huống chứ không phải chỉ được thực hiện khi có tình hình
phức tạp hoặc có những đòi hỏi cấp bách.
Trong nhà trường THCS, giáo dục đạo đức là mặt giáo dục đặc biệt được
coi trọng, nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ
được nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác.
Đế thực hiện những yêu cầu về nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh
trong trường THCS thì vai trò của tập thể sư phạm giữ một vị trí quan trọng
có tính quyết định. Vai trò của cấu trúc và nội dung chương trình môn giáo
dục công dân cũng góp phần không nhỏ đối với công tác này.
Giáo dục đạo đức đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ khái niệm
tri thức đạo đức, mà quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải được thể hiện
thành tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của học sinh.
Quá trình dạy học chủ yếu được tiến hành bằng các giờ học trên lớp, còn
quá trình giáo dục đạo đức không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp mà nó được thể
hiện thông qua tất cả các hoạt động có thể có trong nhà trường .
Đối với học sinh THCS, kết quả của công tác giáo dục đạo đức vẫn còn
phụ thuộc rất lớn vào nhân cách người thầy, gương đạo đức của người thầy sẽ
tác động quan trọng vào việc học tập, rèn luyện của các em .
tự học. Khi đã đỗ phó bảng, ông vẫn rất khiêm nhường. Tuy được hưởng một
ít bông lộc cúa làng nước, nhưng trong sinh hoạt ông phó bảng không hề xa
20
Khi tầm mắt vượt ra khỏi gia đình thì truyền thống tốt đẹp của quê
hương có tác dụng lớn trong việc hình thành nhân cách con người. Quê hương
của Hồ Chí Minh được coi là bảo tàng lịch sử. Núi Chung, giếng Cốc, ao làng
Sen vừa là nơi sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân, vừa gắn liền với tên
tuổi liệt sỹ Vương Thúc Mậu và nghĩa quân theo chiếu cần Vương kháng
Pháp. Phía Tây núi Chung cách 7 cây số, gọi là núi Đụn, nơi đó Mai Hắc Đe
xây thành Vạn An, sau khi đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường. Phía Tây núi
Chung là dãy núi Thiên Nhẫn, nơi Lê Lợi xây thành Lục Miên, đằng sau dãy
núi Thiên Nhẫn là thung lũng Ngàn Chương căn cứ kháng Pháp của nghĩa
quân Phan Đình Phùng. Phía Đông núi Chung cách 3 cây số là làng Thái Xá,
huyện Hưng Nguyên quê hương của anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn
Huệ. Phía Đông Nam núi Chung là núi Lam Thành nơi Nguyễn Biểu “ăn cổ
đầu người” nêu cao tinh thần bất khuất, quyết không khuất phục quân thù.
Sinh ra ở một vùng quê có truyền thống yêu nước, nhiều di tích lịch sử, nhiều
tấm gương anh hùng xả thân vì nước như vậy, đã sớm hun đúc lòng yêu nước,
tinh thần chống giặc ngoại xâm của cậu bé Nguyễn Tất Thành.
Sinh ra và lớn lên ở miền quê như vậy, với trí thông minh tuyệt vời
Nguyễn Tất Thành đã sớm mang trong mình tinh thần yêu nước, thương
người.
1.1.2.2. Truyền thong đạo đức dân tộc
Tinh thần tập thế cộng đồng là nét nổi bật trong đạo đức truyền thống
của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống đạo đức dân tộc, lòng
nhân ái, lòng yêu thương quý mến con người và nâng nó lên thành chủ nghĩa
nhân văn cách mạng.
Trong quá trình phát triển, người Việt Nam luôn luôn đứng trên lập
trường dân tộc tiếp thu tinh hoa đạo đức của các nguồn tư tưởng lớn của nhân
loại, đế làm giàu thêm nền đạo đức của dân tộc. Một điếm đáng chú ý nữa là
các giá trị văn hoá bên ngoài du nhập vào Việt Nam đều bị Việt hoá một cách
22
tưởng nhân nghĩa của Nho giáo, đưa lên thành một chủ nghĩa nhân đạo cao cả
và toàn diện. Tư tưởng từ bi, hỷ, xả của đạo Phật khi vào Việt Nam được hoà
nhập vào cuộc sống thực tiễn đê cứu dân, cứu nước. Quá trình tiếp biến văn
hoá này diễn ra một cách tự nhiên theo lương tri hơn là bằng tri thức, bởi vì
người Việt tiếp cận sự vật, hiện tượng bằng lương tri đế phân biệt đúng sai, tốt
xấu, phù hợp và không phù hợp để có phương thức ímg xử cho thấu tình đạt
lý.
Có thế nói, Phật giáo với những khía cạnh tích cực của nó về mặt giáo lí khi
du
nhập vào Việt Nam, trải qua nhiều thế kỷ đã được bản địa hóa, dân gian hóa,
góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa nhân đạo, truyền thống nhân ái của
dân tộc Việt Nam, cứu nhân độ thế.
Có thể nói tinh hoa về lòng nhân ái của Phật giáo là một trong những bộ
phận quan trọng trong cơ sở hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Nhưng
cũng cần thấy rằng nhờ có truyền thống nhân ái của dân tộc, nhờ có trí tuệ
uyên
bác và lí tưởng cao cả một đòi vì độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc của con
cần, kiệm, liêm, chính. Đây là những khái niệm của Khổng giáo. Đạo Khồng
đề
cao Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Hồ Chí Minh cũng từ đó đưa ra 5 tiêu chuẩn về
đạo
đức người cách mạng: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.
Qua việc sử dụng nhiều mệnh đề, thuật ngữ cả đạo đức Nho giáo thể
hiện rõ đạo đức Nho giáo có ảnh hưởng lớn đến Hồ Chí Minh. Nhưng người
đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, của dân tộc để tiếp cận học
thuyết này, khai thác những mặt tích cực, tiến bộ, loại bỏ những yếu tố tiêu
cực, không phù hợp, bố sung những yếu tố mới tạo nên một hệ thống đạo đức
24
cuộc sống của con ngưừi. Ngày ngày, tiếp xúc với các tầng lóp nhân dân ở các
nước đó, những người vẫn còn mang hoài bão về tự do, bình đắng, bác ái với
những tư tưởng của các nhà triết học nêu cao vị trí của con người trên trái đất,
với
những tác phẩm văn học phản ánh nỗi khổ đau của quần chúng, những khát
vọng
về một xã hội tiến bộ, trong đó có con người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột.
Đời sống tinh thần và trí tuệ của phương Tây, của châu Âu chịu ảnh
hưởng lâu dài và sâu sắc của cơ đốc giáo. Do nhận thức đúng đắn, khách quan
về tôn giáo này, nhận thấy mặt tích cực của nó, Hồ Chí Minh không vơ đũa cả
nắm, chưa hề bao giờ mạt sát các tôn giáo, luôn luôn yêu thương mọi người,
luôn có những tư tưởng đạo đức giàu lòng vị tha, nhân ái cao cả đối với các
tín đồ của các tôn giáo cũng như những người không theo tôn giáo.
Bên cạnh những tư tưởng đạo đức mang đậm tính nhân văn cao cả của
Trong các tác phâm của mình Ăngghen đã đề cao vai trò của con người
trong việc xây dựng xã hội tương lai. Con người rốt cuộc làm chủ đòi sống
của
mình, thì cũng trở thành chủ nhân tự nhiên, chủ nhân chính bản thân, trở thành
con người tự do, làm tròn nhiệm vụ giải phóng nhân loại là sứ mệnh lịch sử
của
giai cấp công nhân hiện đại. Tư tưởng đạo đức nhân văn ở đây đã khác hẳn so
với tư tưởng đạo đức nhân văn trước đó, là: “Vấn đề con người và quyền con
người lần đầu tiên đã được nhắc đến như một giải pháp cụ thể và khoa học rút
ra từ học thuyết Mác-Lênin về đấu tranh giai cấp về cách mạng xã hội và vai
trò của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng đó” [27, 163].
Tuy nhiên tư tưởng này phải đến cuộc Cách mạng tháng Mười Nga mới
26
đức nhân văn cộng sản là tính hiện thực, trực tiếp giải phóng con người chứ
không phải là sự cảm nhận thương xót, do vậy nó là đỉnh cao của hệ thống
luân lý và đạo đức nhân loại.
Trên cuộc hành trình tỉm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã gặp chủ
nghĩa Mác-Lênin và đây là câm nang thần kỳ, là kim chỉ nam đê giải
phóng dân tộc, giải phóng con người. Người viết “Bây giờ học thuyết
nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất
là chủ nghĩa Mác-Lênin” [16, 268]. Nhờ có chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí
Minh đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân thoát khỏi ách nô dịch của
chủ nghĩa thực dân, xây dựng một xã hội mà quyền làm chủ thuộc về nhân
dân lao động, tức là thực hiện được vấn đề cốt lõi của đạo đức cách mạng.
Trong việc tiếp thu học thuyết Mác-Lênin, đáng chú ý nhất là Hồ Chí