ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN MẠNH SỸ PHÁP LUẬT VỀ TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY Ở
VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN MẠNH SỸ
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1.1.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án 31
2.1.1.3. Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp nội bộ công ty bằng tố tụng
tòa án 33
2.1.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng các phương thức khác 37
2.1.2.1. Giải quyết tranh chấp nội bộ công ty bằng thủ tục tố tụng trọng tài . 37
2.1.2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài 39
2.1.2.3. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng 40
2.1.2.4. Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải 41
2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp nội bộ 42
2.2.1. Về lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp 42
2.2.1.1. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng 43
2.2.1.2. Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải 44
2.2.1.3. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài 46
2.2.1.4. Giải quyết tranh chấp bằng tòa án 49
2.2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp trong một số vụ án 52
2.2.2.1. Tranh chấp liên quan đến việc xác lập tư cách thành viên công ty 52
2.2.2.2. Tranh chấp liên quan đến vốn góp 58
2.2.2.3. Tranh chấp liên quan đến quyết định của cơ quan quản lý công ty 68
2.2.3. Nhận xét và kết luận 70
2.2.3.1. Về tranh chấp nội bộ công ty 70
2.2.3.2. Về phương thức giải quyết tranh chấp 71
Chương 3: CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY 72
3.1. Định hướng hoàn thiện giải quyết tranh chấp nội bộ công ty 73
3.1.1. Định hướng liên quan đến phương thức hòa giải 73
3.1.2. Định hướng liên quan đến phương thức trọng tài 76
3.1.3. Định hướng liên quan đến phương thức tòa án 80
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TCNBCT : Tranh chấp nội bộ công ty
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự
Công ty CP : Công ty Cổ phần
Công ty TNHH : Công ty TNHH
ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông
HĐTV : Hội đồng thành viên
HĐQT : Hội đồng quản trị
LDN 2005 : Luật Doanh nghiệp 2005
LTM 2005 : Luật Thương mại 2005
LTTTM 2010 : Luật Trọng tài thương mại 2010
TAND : Tòa án nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tranh chấp nội bộ công ty (TCNBCT) liên quan đến việc thành lập, hoạt
động, tổ chức lại và giải thể công ty là một trong những vấn đề mới phát sinh
kể từ công cuộc Đổi mới 1986. Thời điểm đó, nước ta bắt đầu thực hiện
đường lối đổi mới với ba nội dung chính: Chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường; Phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần trong đó khu vực dân doanh đóng vai trò ngày
càng quan trọng và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới một cách
hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Đây chính là
nguyên nhân dẫn đến hàng loạt sự thay đổi toàn diện về cả chính trị, kinh tế
và xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Nhiều thành phần kinh tế mới xuất
hiện, Luật Công ty 1990 được ban hành dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ về số
lượng và quy mô hoạt động của công ty. Hệ quả tất yếu dẫn đến là các tranh
của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiếu; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2006 “Giải
quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp – những vấn đề lý luận và thực
tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2008
“Giải quyết tranh chấp giữa các cổ đông và giữa cổ đông với người quản lý
công ty trong công ty cổ phần” của tác giả Trần Duy Bình; Luận văn thạc sĩ
Luật học năm 2010 “Tranh chấp nội bộ công ty theo pháp luật Doanh nghệp
Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hiền;Pháp luật giải quyết tranh chấp nội bộ
công ty: nhận thức, thực trạng và cải cách (Ngô Huy Cương, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật. Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 11/2012, tr. 48 – 58).
Các công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam về tranh chấp nội bộ công ty. Tuy nhiên, trong quá trình
nghiên cứu, tác giả thấy rằng việc nghiên cứu chuyên sâu về việc giải quyết
tranh chấp nội bộ công ty vẫn còn bỏ ngõ nhiều vấn đề, các vấn đề lý luận và
thực tiễn đang tiếp tục được đặt ra và có nhu cầu giải quyết hoặc chưa được
3
cập nhật theo pháp luật hiện hành , và đây vẫn là vấn đề đòi hỏi các nhà
nghiên cứu pháp luật quan tâm tìm hiểu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra mục đích là nghiên cứu tổng quát về tranh chấp nội bộ công
ty, các phương thức giải quyết tranh chấp nội bộ công ty theo pháp luật Việt
Nam hiện hành, từ đó đề xuất những kiến nghị về việc hoàn thiện các quy
phạm pháp luật liên quan đến tranh chấp nội bộ công ty và phương thức giải
quyết tranh chấp nội bộ công ty nhằm có một cái nhìn tổng quát, đồng bộ,
khoa học về vấn đề này để làm rõ nguyên nhân dẫn đến tranh chấp nội bộ
công ty, từ đó đưa ra các kiến giải về phương thức giải quyết phù hợp với
thực tiễn của sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể như sau:
trung nghiên cứu trong phạm vi khảo sát là các tranh chấp nội bộ công ty
được giải quyết bằng thủ tục tố tụng tại tòa án, lý do là với điều kiện thực tế
hiện nay tại Việt Nam, tranh chấp nội bộ công ty chủ yếu được giải quyết
bằng con đường Tòa án.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu khoa học khác nhau như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh,
chứng minh, tổng hợp. Các phương pháp xã hội học như thống kê, tham khảo
ý kiến đánh giá và quan điểm của những người làm công tác thực tiễn cũng
như những học giả quan tâm đến chủ đề này. Bên cạnh đó, trong quá trình
nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích các tình huống cụ thể kết
hợp với phương pháp tổng kết thực tiễn để hoàn thành luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Hiện nay, tranh chấp nội bộ công ty và phương thức giải quyết tranh
chấp nội bộ công ty đang có xu hướng gia tăng, đa dạng và phức tạp. Đây là
hệ quả tất yếu của sự phát triển đa dạng và mạnh mẽ của các loại hình công ty
5
trong khi pháp luật điều chỉnh về các mối quan hệ này chưa kịp hoàn thiện và
đáp ứng được với sự phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa
quan trọng về mặt khoa học cũng như thực tiễn.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm có 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp nội bộ công ty.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp nội bộ công ty
và thực tế áp dụng pháp luật ở Việt Nam.
Chương 3: Các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
giải quyết tranh chấp nội bộ công ty.
Pháp luật hiện hành không giải thích cụ thể khái niệm về thành viên
công ty. LDN 2005 chỉ nêu ra một số khái niệm có liên quan như sau: Thành
viên sáng lập là người, tổ chức góp vốn, tham gia xây dựng, thông qua và ký
tên vào bản điều lệ đầu tiên của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh. Cổ đông là người, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của
công ty cổ phần. Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh
nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng
thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng
giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định. Thành
viên hợp danh là thành viên chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về các nghĩa vụ của công ty hợp danh.
Thành viên công ty trong hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn (Công
ty TNHH) có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Đối với hình thức Công ty TNHH
Hai thành viên trở lên, thành viên công ty bao gồm: hội đồng thành viên;
người quản lý doanh nghiệp; trong trường hợp có từ 11 thành viên trở lên phải
có ban kiểm soát [31, Mục 1, Chương III]. Đối với hình thức Công ty TNHH
Một thành viên, thành viên công ty có thể là cá nhân, tổ chức bao gồm: chủ sở
7
hữu công ty; người quản lý doanh nghiệp; kiểm soát viên [31, Mục 2, Chương
III].
Thành viên công ty trong hình thức Công ty Cổ phần (Công ty CP) có
thể là cá nhân, tổ chức được xác định bao gồm: đại hội đồng cổ đông; hội
đồng quản trị; người quản lý doanh nghiệp; ban kiểm soát [31, Chương IV].
Thành viên Công ty hợp danh phải là cá nhân trong trường hợp là thành
viên hợp danh, về thành viên góp vốn LDN 2005 không quy định cụ thể vì
vậy có thể hiểu là thành viên góp vốn là cá nhân hoặc tổ chức. Trong điều
hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau
đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty, chủ tịch hội đồng
thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của công ty.
Cơ quan quản lý công ty, trong Công ty CP cơ quan quản lý công ty là
Chủ tịch HĐQT, HĐQT, Đại hội đồng cổ đông(ĐHĐCĐ), Giám đốc và các
Cơ quan tương ứng trong Công ty TNHH, công ty Hợp danh.
1.1.2. Khái niệm tranh chấp nội bộ công ty
Theo từ điển tiếng Việt, tranh chấp là việc giành nhau một cách giằng
co, không rõ thuộc về bên nào. Cũng có thể hiểu tranh chấp là sự đấu tranh
giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các
bên[23, tr. 1204]. Dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể hiểu tranh chấp là
những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong cùng
một quan hệ pháp luật nhất định.
Tranh chấp nội bộ công ty được xếp vào những tranh chấp kinh doanh,
thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án [34, Điều 29]. Tuy nhiên,
khái niệm về tranh chấp kinh doanh, thương mại chưa có sự thống nhất về
cách dùng.
Theo LDN 2005, kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
9
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi [34,
Khoản 2, Điều 4]. Vậy có thể hiểu tranh chấp kinh doanh là các mâu thuẫn,
bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào thực hiện một,
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ
sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Theo Luật Thương mại 2005 (LTM 2005), hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,
đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Chủ thể của hoạt động thương mại là thương nhân [32, Khoản 1, Điều 3]. Vì
vậy có thể hiểu tranh chấp thương mại là các mâu thuẫn, bất đồng về quyền
viên công ty vv. Có thể nhận thấy rằng, không phải tất cả các thành viên
trong một công ty đều có quyền lợi như nhau, đều có khả năng chi phối, tham
gia hoạt động quản lý, kiểm soát công ty giống nhau. Điều này dẫn đến lợi ích
của họ không đồng nhất, vì vậy mâu thuẫn tiềm ẩn rất lớn trong các quan hệ
này, đặc biệt là trong các công ty cổ phần mà tại đó “cổ đông lớn có khả năng
lợi dụng sức mạnh để bóc lột cổ đông thiểu số”[21, tr. 256] . Bên cạnh đó,
mối quan hệ giữa các thành viên công ty với công ty cũng có thể xảy ra mâu
thuẫn liên quan đến quyền và lợi ích đặc biệt trong vấn đề phần vốn góp. Xét
đến cùng, cho dù cá nhân nào đó là chủ sở hữu công ty thông qua vốn góp thì
tài sản đã góp vào công ty thuộc sở hữu của công ty, dẫn đến việc tách bạch
quyền và lợi ích về tài sản đó một cách rõ ràng. Về mặt hình thức, với tư cách
là một chủ thể pháp lý độc lập, công ty vẫn có những quyền và nghĩa vụ của
mình đối với thành viên, có quyền đòi hỏi các thành viên công ty thực hiện
nghĩa vụ đối với mình và ngược lại và mâu thuẫn phát sinh trong quá trình
này.
Tuy không có khái niệm rõ ràng nhưng theo quy định tại BLTTDS 2004
có thể hiểu: Tranh chấp nội bộ công ty là tranh chấp giữa công ty với các
11
thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan
đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển
đổi hình thức tổ chức của công ty [34, Điều 29]. Theo đó, tại Nghị quyết số
01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân(TAND) Tối cao quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, tranh
chấp nội bộ bao gồm tranh chấp giữa công ty và các thành viên trong công ty
và tranh chấp giữa các thành viên trong công ty với nhau.
Như vậy, việc xác định tranh chấp nội bộ công ty phải thỏa mãn 2 điều
kiện: (i) các tranh chấp phải là tranh chấp giữagiữa các thành viên trong công
ty với nhau, giữa công ty với thành viên công ty, giữa thành viên công ty với
trong lĩnh vực chuyên ngành nào thì áp dụng theo sự điểu chỉnh của luật
chuyên ngành đó. Do đó, tranh chấp trên xác định là tranh chấp lao động.
Qua quá trình nghiên cứu, tổng hợp theo các phân tích ở trên, tác giả đưa
ra khái niệm về tranh chấp nội bộ công ty như sau: Tranh chấp nội bộ công
ty là những mâu thuẫn giữa các thành viên, các cơ quan quản lý công ty có
liên quan trong quan hệ nội bộ công typhát sinh trong quá trình thành lập,
tổ chức quản lý, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển
đổi hình thức tổ chức của công ty.
Trong thực tế, có một dạng tranh chấp trong quá trình thành lập, hoạt
động về các hợp đồng phát sinh trước khi công ty có đăng ký kinh doanh là
tranh chấp tiền công ty như hoạt động liên quan đến góp vốn, phân công công
việc để thành lập công ty vv. Trong trường hợp công ty được thành lập thì
xác định tranh chấp đó vẫn là tranh chấp nội bộ công ty, trong trường hợp
công ty không được thành lập thì xác định tranh chấp đó là tranh chấp hợp
đồng dân sự hay được gọi là tranh chấp tiền công ty [31, Điều 14].
1.2. Phân biệt tranh chấp nội bộ công ty với tranh chấp khác
13
So với những tranh chấp trong các lĩnh vực xã hội khác như lao động,
hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, tranh chấp nội bộ công ty có những
đặc điểm khác biệt. Cụ thể như:
Thứ nhất, về chủ thể: Chủ thể của quan hệ tranh chấp nội bộ công ty là
các thành viên công ty, các cơ quan quản lý công ty. Những chủ thể này thông
thường có tâm lý mong muốn xác định quan hệ ổn định, lâu dài trên cơ sở hợp
tác, tin cậy lẫn nhau khi tham gia hoạt động kinh doanh của công ty. Trong
quan hệ nội bộ công ty, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn tương xứng
với nhau trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng với mục đích tối đa là lợi ích kinh
tế. Vì vậy, các tranh chấp phát sinh sẽ có nguy cơ đe dọa và ảnh hưởng xấu
đến quyền, lợi ích của các bên trong điều kiện lợi ích kinh tế của các bên phụ
vốn góp vào công ty; về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt
động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức
của công ty.
Thứ hai, các tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau gồm
các tranh chấp giữa các thành viên của công ty về trị giá tài sản góp vào công
ty; về chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công
ty hoặc cho người ngoài công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếu không ghi
tên và cổ phiếu có ghi tên; về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành và trái
phiếu của Công ty CP hoặc về quyền sở hữu tài sản, quyền được chia lợi
nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công ty
Nếu giữa công ty với các thành viên của công ty hoặc giữa các thành
viên của công ty có tranh chấp với nhau, nhưng tranh chấp đó chỉ liên quan
đến các quan hệ khác như quan hệ lao động, quan hệ dân sự, thì tranh chấp đó
không phải là tranh chấp về kinh doanh, thương mại. Ví dụ như tranh chấp về
hợp đồng vay tiền giữa chủ tịch hội đồng quản trị và thành viên trong hội
15
đồng quản trị, cho dù về bản chất việc thành viên trong hội đồng quản trị vay
tiền của chủ tịch hội đồng quản trị với mục đích mua lại cổ phần của cổ đông
khác, tuy nhiên về phương diện pháp lý thì tranh chấp này được xác định là
tranh chấp dân sự.
1.3.2. Căn cứ vào nội dung tranh chấp
Căn cứ vào nội dung tranh chấp, các tranh chấp trong nội bộ công ty
được phân thành các loại tranh chấp, cụ thể:
Thứ nhất, tranh chấp về tư cách cổ đông, thành viên công ty: Các cổ
đông, thành viên thường tranh chấp với nhau vì cổ đông, thành viên thường tự
coi mình là cổ đông, thành viên sáng lập trong khi hoàn toàn không góp tiền
cho số cổ phần cam kết góp hoặc số vốn cam kết góp. Các cổ đông, thành
viên góp không đủ số cổ phần, số vốn góp đã đăng ký, nhưng vẫn yêu cầu
phát hành; không bàn giao quyền quản lý điều hành công ty cho người mới
được bổ nhiệm; khiếu kiện, khiếu nại lên cơ quan nhà nước (có thẩm quyền
và không có thẩm quyền); hoặc yêu cầu thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh
doanh của công ty.
Thứ tư, tranh chấp tư cách thành viên, cổ đông doanh nghiệp: cổ
đông/thành viên không góp đủ vốn đã đăng ký nhưng yêu cầu được hưởng lợi
ích đầy đủ như các cổ đông đã góp đủ vốn. Tranh chấp phát sinh từ phương
thức góp và tài sản góp vốn: định giá tài sản cao hơn giá trị thực tế; không
chuyển sở hữu tài sản góp vốn; không thỏa thuận với nhau trước về việc góp
vốn và giá trị góp vốn bằng tài sản.
Thứ năm, tranh chấp về việc mua cổ phần chào bán của các công ty cổ
phần. Tranh chấp từ việc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp và tính hợp
pháp của các hợp đồng chuyển nhượng liên quan. Tranh chấp về phương thức
quản lý, điều hành nội bộ trong doanh nghiệp. Tranh chấp liên quan tới việc
thủ tục tổ chức các cuộc họp đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, hội
17
đồng thành viên công ty. Tranh chấp về thẩm quyền thông qua các quyết định
quản lý nội bộ doanh nghiệp. Tranh chấp về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức giám đốc, người đại diện pháp luật của công ty.
1.4. Giải quyết tranh chấp nội bộ công ty và các phương thức giải quyết
tranh chấp nội bộ công ty
1.4.1. Giải quyết tranh chấp nội bộ công ty
Giải quyết tranh chấp nội bộ công ty theo nghĩa chung nhất có thể được
hiểu là cách thức, phương pháp hay các hoạt động để điều chỉnh các bất đồng,
các xung đột trong nội bộ công ty nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp
đã phát sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên công
ty và các chủ thể khác, bảo vệ trật tự kỷ cương của công ty.
Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh, trong đó bao hàm quyền tự do lựa