Phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Thăng Long - Pdf 28

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
**********
ĐINH THỊ VÂN ANH
PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH
TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM - CHI NHÁNH THĂNG LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2013
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
**********
ĐINH THỊ VÂN ANH
PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH
TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM - CHI NHÁNH THĂNG LONG
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 6034.0201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn Khoa học: TS. PHẠM THỊ HOÀNG ANH
HÀ NỘI – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long” là công
trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc
để hình thành hướng nghiên cứu. Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng
nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên
cứu là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây.
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn
Đinh Thị Vân Anh

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tín dụng theo đối tượng khách hàng Error: Reference source
not found
Biểu đồ 2.3: Số món bảo lãnh từ năm 2010-2012 Error: Reference source not
found
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu các loại hình bảo lãnh Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.5: Dư bảo lãnh phân theo thời hạn Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.6: Dư bảo lãnh theo đối tượng khách hàng bảo lãnh Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2.7: Dư bảo lãnh theo ngành kinh tế Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.8: Doanh thu phí bảo lãnh Error: Reference source not found
SƠ ĐỒ
40
44
66
67
70
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trước đây, hoạt động truyền thống của các ngân hàng là huy động vốn và
cho vay. Nhưng trước những đòi hỏi của nền kinh tế, ngân hàng buộc phải chuyển
hướng phát triển theo mô hình đa năng, hiện đại nếu muốn tồn tại và khẳng định vị
thế của mình trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Bên cạnh các sản
phẩm truyền thống, ngân hàng không ngừng sáng tạo, vận dụng và phát triển những
sản phẩm mới nhằm đa dạng hoá danh mục sản phẩm dịch vụ, tăng thị phần, phân
tán rủi ro và mang lại lợi nhuận cao nhất, bảo lãnh ngân hàng là một trong những
sản phẩm như vậy.
Bảo lãnh là dịch vụ ngân hàng hiện đại, ra đời vào những năm 70 của thế kỷ
XX và ngày càng phát triển trên thế giới. Ở Việt Nam, bảo lãnh ngân hàng được áp
dụng từ năm 1994 và đã đóng góp tích cực vào sự phát triển của các NHTM, nhân
tố quan trọng trong việc thực hiện thành công các giao dịch kinh tế, đặc biệt là trong

thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long trong 03 năm gần nhất
(2010, 2011, 2012).
4. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp thống kê,
phân tích tổng hợp, đánh giá so sánh, xử lý số liệu;
- Kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh và phát triển nghiệp vụ bảo
lãnh của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long.
Chương 3: Giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long.
2
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH VÀ PHÁT TRIỂN
NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh tế kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ, với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và thực
hiện vai trò trung gian thanh toán. Trong đó, cho vay là hoạt động quan trọng, là sản
phẩm sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
NHTM có vị trí đặc biệt quan trọng trong các trung gian tài chính và có ảnh
hưởng lớn đến nền kinh tế của mỗi quốc gia. NHTM có những vai trò cơ bản sau:
Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm huy động từ các thành phần

tư 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì
định nghĩa: “Bảo lãnh ngân hàng (sau đây gọi là bảo lãnh) là hình thức cấp tín
dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh;
bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận”.
1.1.2. Đặc điểm của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
1.1.2.1. Bảo lãnh ngân hàng là hoạt động đa phương
Trong hợp đồng bảo lãnh có ít nhất ba chủ thể tham gia ký kết bao gồm: ngân
hàng phát hành bảo lãnh, người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh (người thụ
hưởng bảo lãnh) với ba mối quan hệ sau:
Mối quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh. Đây
là mối quan hệ gốc làm cơ sở phát sinh nhu cầu bảo lãnh. Nó được thể hiện bằng
hợp đồng gốc ràng buộc hai bên như hợp đồng mua bán, thi công, đấu thầu….
Mối quan hệ giữa ngân hàng và người được bảo lãnh thông qua hợp đồng bảo
lãnh. Trên cơ sở hợp đồng gốc thì khách hàng gửi đơn yêu cầu bảo lãnh đến ngân
4
hàng yêu cầu phát hành bảo lãnh và cam kết hoàn trả cho ngân hàng khi ngân hàng
đứng ra trả thay cho họ.
Mối quan hệ giữa ngân hàng với người nhận bảo lãnh thông qua cam kết bảo
lãnh. Khi người có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng gốc thì ngân hàng đứng ra thực hiện
trả thay cho khách hàng của mình (người được bảo lãnh).
Như vậy, ba mối quan hệ trên có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng ràng buộc lẫn
nhau và tác động trực tiếp tới quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.
1.1.2.2. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập
Tính độc lập với hợp đồng gốc là một đặc trưng nổi bật của bảo lãnh. Mục
đích của bảo lãnh là bồi hoàn cho người thụ hưởng những tổn thất từ việc không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng của người được bảo lãnh trong quan
hệ hợp đồng, nhưng việc thanh toán bảo lãnh chỉ căn cứ vào các điều kiện và điều
khoản quy định trong hợp đồng bảo lãnh. Mọi tranh chấp giữa người được bảo lãnh

bảo quyền lợi, hạn chế rủi ro cho người nhận bảo lãnh. Nó mang tính độc lập cao,
ngân hàng không liên quan đến các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng cơ sở cũng
như các tranh chấp, tố tụng phát sinh từ hợp đồng của hai bên. Nhưng nó lại có thể
làm tăng tính rủi ro cho ngân hàng khi khách hàng và đối tác của họ không trung
thực hay vi phạm cam kết với nhau trong kinh doanh. Điều này sẽ được làm rõ hơn
trong phần rủi ro của hoạt động bảo lãnh.
1.1.2.5. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng
Bảo lãnh ngân hàng là một cam kết có điều kiện của ngân hàng và người được
bảo lãnh, ngân hàng bị ràng buộc với trách nhiệm thanh toán cho người nhận bảo
lãnh. Do vậy, ngân hàng sẽ theo dõi khoản bảo lãnh này ở ngoại bảng và không làm
thay đổi bảng cân đối tài sản của ngân hàng.
Khi phát sinh trách nhiệm trả thay cho người được bảo lãnh, ngân hàng sẽ phải
theo dõi số tiền đó như một khoản nợ của người được bảo lãnh. Nó trở thành một bộ
phận cấu thành bảng cân đối tài sản của ngân hàng. Như vậy, bảo lãnh còn mang
tính chuyển đổi.
1.1.3. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng
6
1.1.3.1. Bảo lãnh ngân hàng là công cụ bảo đảm
Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh. Bằng việc cam kết chi trả bồi
thường khi xảy ra các vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, các ngân hàng phát
hành bảo lãnh đã tạo ra sự bảo đảm chắc chắn về tài chính cho người nhận bảo lãnh.
Người nhận bảo lãnh hoàn toàn không mong đợi bên được bảo lãnh vi phạm
hợp đồng để nhận bồi hoàn từ bên bảo lãnh. Họ chỉ coi đó là một công cụ có tính
chất bảo đảm an toàn cho mình khi có vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh.
Hơn nữa, bảo lãnh được dùng trong hợp đồng thi công, bảo lãnh sản phẩm, dự thầu
công trình… là những thỏa thuận không mang tính mua bán hay thanh toán. Trong
thực tế, tỷ trọng các bảo lãnh được yêu cầu thanh toán không cao, thông thường chỉ
khoảng dưới 5% (tại Mỹ là khoảng 1%) trong tổng số các bảo lãnh ngân hàng phát
hành. Do vậy, bảo lãnh là công cụ bảo đảm chứ không phải là công cụ thanh toán.
1.1.3.2. Bảo lãnh là một công cụ tài trợ

thể xảy ra, họ sẽ luôn cố gắng hoàn thành tốt nhất nghĩa vụ đã cam kết với đối tác.
Như vậy, bảo lãnh ngân hàng chính là một công cụ hữu hiệu không những
giúp các chủ thể kinh tế thuận lợi hơn mà còn là công cụ giúp đôn đốc các bên hoàn
thành nghĩa vụ đã ký kết.
1.1.3.4. Bảo lãnh là công cụ đánh giá
Trước khi nhận bảo lãnh cho một khách hàng, ngân hàng sẽ thực hiện đánh giá
toàn diện các mặt của bên được bảo lãnh như: năng lực pháp lý, năng lực tài chính,
uy tín trong kinh doanh, khả năng thực hiện hợp đồng… từ đó quyết định có nên
phát hành bảo lãnh hay không. Với những khách hàng có uy tín, ngân hàng sẽ đồng
ý phát hành bảo lãnh, đồng thời có biện pháp để tăng cường mối quan hệ lâu dài với
khách hàng đó. Còn những khách hàng không hội tụ đủ điều kiện đề ra thì ngân
hàng từ chối cấp bảo lãnh nhằm đảm bảo an toàn cho mình.
1.1.4. Phân loại bảo lãnh của ngân hàng thương mại
1.1.4.1. Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh
 Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng chịu trách nhiệm phát
8
hành bảo lãnh trực tiếp theo yêu cầu của người được bảo lãnh (không qua trung
gian), trong đó cam kết sẽ thanh toán không hủy ngang với người thụ hưởng.
Sau khi ngân hàng thực hiện bồi thường cho người thụ hưởng, ngân hàng thực
hiện truy đòi bồi hoàn trực tiếp từ người được bảo lãnh. Bảo lãnh trực tiếp thông
thường có ba bên tham gia: ngân hàng phát hành, người được bảo lãnh, người thụ
hưởng bảo lãnh. Trong trường hợp người thụ hưởng là người nước ngoài, thì xuất
hiện thêm một ngân hàng ở cùng quốc gia với người đó đóng vai trò là ngân hàng
thông báo.
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quy trình thực hiện bảo lãnh trực tiếp
(1): Hợp đồng chính được ký kết giữa người được bảo lãnh và người thụ
hưởng bảo lãnh.
(2): Khách hàng yêu cầu phát hành bảo lãnh và cam kết bồi thường.
(3a): Ngân hàng phát hành bảo lãnh và chuyển đổi trực tiếp cho người thụ hưởng.

(1): Hợp đồng gốc ký giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh
(2): Khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình ra chỉ thị cho ngân hàng
phát hành bảo lãnh.
(3): Ngân hàng thứ nhất chỉ thị cho ngân hàng thứ hai phát hành bảo lãnh,
đồng thời cam kết bồi hoàn trên cơ sở bảo lãnh đối ứng.
(4a): Ngân hàng phát hành bảo lãnh chuyển trực tiếp cho người thụ hưởng.
(4b): Ngân hàng phát hành bảo lãnh và chuyển cho người thụ hưởng bảo lãnh
qua ngân hàng thông báo.
1.1.4.2. Căn cứ vào mục đích bảo lãnh
 Bảo lãnh vay vốn
Bảo lãnh vay vốn là cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ trả
nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không trả đầy
đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh.
10
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng
chỉ thị
Người được
bảo lãnh
Ngân hàng
thông báo
Người thụ hưởng
bảo lãnh
(1)
(4b)
(4b)
(3)
(2)
(4a)

bên.Thông thường để tránh rủi ro lạm dụng của người thụ hưởng, văn bản bảo lãnh
loại này quy định bảo lãnh chỉ có hiệu lực khi điều kiện tiền đề đã được thỏa mãn.
 Bảo lãnh dự thầu
Bảo lãnh dự thầu là cam kết của ngân hàng với Chủ đầu tư (Bên mời thầu) sẽ
trả tiền thay trong phạm vi thời hạn và số tiền bảo lãnh nếu bên dự thầu có vi phạm
mà không nộp hoặc không nộp đủ số tiền phạt cho bên mời thầu.
Mục đích của bảo lãnh dự thầu nhằm bù đắp thỏa đáng những thiệt hại về thời
gian và chi phí cho Bên mời thầu thầu do những vi phạm của bên tham gia dự thầu,
đảm bảo chắc chắn rằng người dự thầu không rút lui, thay đổi hồ sơ dự thầu trước
khi chủ thầu thông báo kết quả đấu thầu, và bên dự thầu sẽ chấp nhận ký kết hợp
đồng nếu được thông báo trúng thầu.
 Các loại bảo lãnh tài chính khác
Ngày nay, do các giao dịch thương mại diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp
hơn nên có rất nhiều loại bảo lãnh tài chính khác ra đời, để đảm bảo nghĩa vụ tài
chính của khách hàng nhằm đối phó với các loại rủi ro đặc thù. Các loại bảo lãnh
như: bảo lãnh vận đơn, bảo lãnh bảo hành sản phẩm, bảo lãnh thuế quan…
- Bảo lãnh vận đơn
Mục đích của bảo lãnh vận đơn là nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của
người nhập khẩu/người xuất khẩu trước sự lợi dụng vận đơn. Số tiền bảo lãnh từ
100% - 150% trị giá hàng hóa.
Nếu người xuất khẩu là người đề nghị phát hành: ngân hàng cam kết với người
nhập khẩu bồi thường mọi thiệt hại có thể phát sinh đối với họ, nếu vận đơn gốc
không được xuất trình hoặc được xuất trình không kịp thời.
Nếu người nhập khẩu là người đề nghị phát hành: ngân hàng cam kết với chủ
hãng vận tải sẽ bồi thường mọi thiệt hại nếu hàng hóa được giao cho một người
không có quyền nhận hàng, do chứng từ thất lạc đến chậm hơn tàu hoặc chủ hàng
vận tải được ủy nhiệm nhận hàng không có chứng từ để sử dụng.
- Bảo lãnh thuế quan
Mục đích của bảo lãnh thuế quan là đảm bảo cho người có trách nhiệm nộp
12

13
hành vi vi phạm nghĩa vụ của người được bảo lãnh.
- Người thụ hưởng xuất trình yêu cầu thanh toán, không cần thêm loại chứng
từ nào khác nữa.
Nhược điểm của loại bảo lãnh này là gây ra chậm trễ trong thanh toán đền bù
cho người thụ hưởng. Đối với ngân hàng thì họ đòi phải có trách nhiệm và năng lực
ở mức độ cao hơn để tránh rủi ro.
 Bảo lãnh kèm phán quyết của trọng tài hoặc tòa án
Đây là loại bảo lãnh mà điều kiện thanh toán là ngân hàng yêu cầu người thụ
hưởng phải cung cấp được phán quyết của trọng tài hoặc tòa án, chứng minh sự vi
phạm nghĩa vụ của người được bảo lãnh và trách nhiệm bồi hoàn đối với người thụ
hưởng. Do tính phức tạp, không phù hợp với thông lệ quốc tế cho nên bảo lãnh kèm
phán quyết của trọng tài hoặc tòa án thông thường ít sử dụng trong thực tế.
1.1.4.4. Căn cứ vào vai trò của Ngân hàng bảo lãnh
 Bảo lãnh đồng nghĩa vụ
Đặc trưng của loại bảo lãnh này là nghĩa vụ của ngân hàng phát hành bị chi
phối bởi quy tắc đồng phạm vi, tức là ngân hàng và người được bảo lãnh được xem
là cùng nghĩa vụ: nghĩa vụ của khách hàng là nghĩa vụ đầu tiên, còn nghĩa vụ của
ngân hàng là bổ sung. Nghĩa vụ bổ sung được thực hiện khi và chỉ khi có các chứng
cớ xác nhận là nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm. Loại bảo lãnh này chủ yếu được sử
dụng trong phạm vi nội địa mà ít được sử dụng trong quan hệ quốc tế.
 Bảo lãnh độc lập
Bảo lãnh độc lập hoạt động trên hai nguyên tắc cơ bản: độc lập và hoàn
toàn phù hợp. Theo đó, nghĩa vụ của ngân hàng tách rời với nghĩa vụ của người
được bảo lãnh. Việc thực hiện thanh toán chỉ căn cứ vào điều kiện, điều khoản
quy định trong văn bản bảo lãnh được thỏa mãn. Bảo lãnh độc lập có nhiều ưu
điểm, mang lại nhiều thuận lợi cho người nhận bảo lãnh và ngân hàng phát hành
bảo lãnh. Trong thương mại quốc tế sử dụng rất phổ biến loại bảo lãnh này.
1.1.4.5. Căn cứ vào mô hình nghiệp vụ bảo lãnh
 Mô hình một ngân hàng

Bên thụ hưởng
bảo lãnh
(2)
(1) (3)
(4)
(5)
trường hợp người yêu cầu không hoàn toàn tin tưởng vào ngân hàng bảo lãnh ban
đầu hoặc do ngân hàng này muốn san sẻ rủi ro trong quá trình bảo lãnh.
Sơ đồ 1.4: Mô hình tái bảo lãnh
(1): Bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh ký kết hợp đồng cơ sở
(2): Ngân hàng bảo lãnh chính phát hành thư bảo lãnh
(3): Người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng với người thụ hưởng bảo lãnh
(4): Ngân hàng bảo lãnh chính không trực tiếp thanh toán
(5): Ngân hàng tái bảo lãnh thanh toán cho người thụ hưởng
(6): Ngân hàng tái bảo lãnh đòi tiền ngân hàng bảo lãnh chính.
1.1.5. Quy trình thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
1.1.5.1. Chủ thể tham gia
Trong nghiệp vụ bảo lãnh, thường có ít nhất ba thành phần tham gia bao gồm:
Người bảo lãnh (The Guarantor): là người phát hành bảo lãnh theo yêu cầu
của khách hàng, dùng uy tín của mình đứng ra cam kết chịu trách nhiệm thực
hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng khi người được bảo lãnh không hoàn thành
đúng hợp đồng.
Người được bảo lãnh (The Principal): là khách hàng, là người yêu cầu ngân
hàng phát hành bảo lãnh để trả thay cho đối tác của họ khi họ vi phạm hợp đồng.
Người thụ hưởng bảo lãnh (The Beneficiary): là người nhận cam kết bảo lãnh,
được ngân hàng bồi thường khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng.
16
Ngân hàng bảo
lãnh chính
Người được bảo

bỏ ra trả thay được xử lý như một khoản nợ quá hạn. Vì vậy, trình tự và thủ tục
trong một nghiệp vụ bảo lãnh cũng có nhiều điểm tương tự như trong nghiệp vụ cho
vay. Thông thường quy trình bảo lãnh thường trải qua năm bước như sau:
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status