Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh daklak - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỤY NGỌC OANH

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM CHI NHÁNH DAKLAK

Chuyên ngành: Tài Chính Ngân Hàng
Mã số: 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ


Đà Nẵng - Năm 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................1

PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH DĂKLĂK....................................37
2.2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển.................................37
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực................................................38
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010-2012.....................39
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI BIDV
DAKLAK........................................................................................................45
2.2.1. Những quy định chung..................................................................45
2.2.2. Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ bảo lãnh tại BIDV DakLak
qua 3 năm 2010-2012..............................................................................51
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI
BIDV DAKLAK.............................................................................................64
2.3.1. Những kết quả đạt.........................................................................64
2.3.2. Những hạn chế tồn tại...................................................................65
2.3.3. Nguyên nhân các tồn tại................................................................68
Kết luận Chương 2..........................................................................................71
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI
NHÁNH DAKLAK......................................................................................72
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG KINH DOANH VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA BIDV DAKLAK.............................................72
3.1.1. Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam chi nhánh Đak lak đến năm 2015 tầm nhìn 2020....................72


3.1.2 Mục tiêu chủ yếu phát triển hoạt động kinh doanh đến năm 2015
của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt nam chi nhánh Đăklăk73
3.1.3. Định hướng phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đak lak..........................................74
3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI BIDV
DAKLAK........................................................................................................75

Kết quả huy động vốn qua 4 năm 2010-2013
Dư nợ tín dụng qua 4 năm 2010-2013
Kết quả kinh doanh
Các loại bảo lãnh tại BIDV Daklak
Doanh số dịch vụ bảo lãnh tại BIDV DakLak từ 20102013
Dư nợ dịch vụ bảo lãnh tại BIDV DakLak từ 2010-2013
Dư nợ bảo lãnh theo đối tượng khách hàng
Thu phí từ bảo lãnh qua 4 năm 2010-2013 của chi nhánh
Doanh thu thu phí bảo lãnh của BIDV DakLak và một số
NHTMNN
Dư nợ bảo lãnh so với dư nợ tín dụng
Tình hình tăng trưởng số lượng khách hàng và số món
bảo lãnh qua 4 năm 2010-2013
Tình hình tăng trưởng về mạng lưới qua 4 năm 20102013
Dư nợ bảo lãnh quá hạn qua 4 năm 2010-2013

Trang
40
41
44
50
52
54
55
57
58
59
60
61
63

guồng quay đó.
Trước tình hình khó khăn của nền kinh tế - xã hội như vậy, việc kinh
doanh sản phẩm chính của ngân hàng là cho vay đã không mang lại hiệu quả
như các ngân hàng mong đợi. Vì vậy các ngân hàng thương mại chuyển sang
đẩy mạnh tìm kiếm nguồn thu từ hoạt động dịch vụ. Mà tăng tỷ trọng từ dịch
vụ là xu hướng phát triển của các ngân hàng hiện đại ngày nay. Bảo lãnh là
một hình thức dịch vụ Ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế.
Lợi ích trực tiếp của bảo lãnh đó là sự đóng góp của phí bảo lãnh vào lợi
nhuận của Ngân hàng. Không những đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh làm đa
dạng hóa các loại hình dịch vụ của ngân hàng, làm giảm sự phụ thuộc vào tín
dụng. Ngoài ra thực hiện bảo lãnh giúp Ngân hàng thực hiện chính sách khách
hàng. Một mặt đáp ứng nhu cầu và gắn bó hơn với khách hàng truyền thống,
mặt khác thu hút được các khách hàng mới. Điều này làm lợi cho ngân hàng
không chỉ về mặt thu phí bảo lãnh mà còn thúc đẩy các hoạt động khác của
ngân hàng như huy động vốn, thanh toán và tín dụng phát triển... Sự hỗ trợ
của bảo lãnh và và các hoạt động khác của ngân hàng thể hiện ở chỗ chúng
tác động lẫn nhau trong việc cung cấp thông tin về khách hàng, thực hiện
chính sách khách hàng và cùng làm tăng uy tín ngân hàng.
Bảo lãnh nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân hàng đặc biệt
là trên trường quốc tế. Thông qua bảo lãnh ngoài nước, ngân hàng mở rộng
quan hệ đối ngoại của mình. Bảo lãnh thành công, ngân hàng tạo được thế
mạnh và uy tín, giúp ngân hàng tăng bạn hàng và lợi nhuận.


2

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh tỉnh DakLak
( BIDV DakLak) là một trong những ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực
cung ứng dịch vụ bảo lãnh trên địa bàn tỉnh DakLak. Tuy nhiên, sự phát triển
của dịch vụ bảo lãnh trong những năm qua vẫn chưa thực sự tương xứng với

Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển chi nhánh DakLak
6. Tổng quan tài liệu
Trong những năm gần đây, đề tài về dịch vụ bảo lãnh tại các ngân hàng
thương mại đã được quan tâm và được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc
độ khác nhau. Để hoàn thiện luận văn của mình tác giả đã tham khảo một số
công trình nghiên cứu sau:
1. Luận văn: ”Phát triển hoạt động bảo lãnh tại NHNo&PTNT Việt Nam
chi nhánh Quảng Nam” của tác giả Lê Thị Phương Thảo, thực hiện năm
2010. Bằng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh… tác giả đưa ra
các giải pháp nhằm phát triển hoạt động bảo lãnh. Tác giả chưa đưa ra được
hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động bảo lãnh để từ đó đề ra
được các giải pháp.
2. Luận văn: “ Phát triển dịch vụ bảo lãnh ngân hàng tại chi nhánh
NHNo &PTNT thành phố Đà Nẵng” của tác giả Đặng Thị Khánh Phượng,
thực hiện năm 2010. Đây là luận văn được thực hiện khá công phu, ngoài việc
tác giả xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phát triển dịch vụ bảo
lãnh, tác giả còn thiết kế bảng câu hỏi điều tra chất lượng cung cấp dịch vụ
bảo lãnh của NHNo&PTNT thành phố Đà Nẵng, từ đó đưa ra các giải pháp
phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng này. Tuy nhiên theo cá nhân tôi, các


4

chỉ tiêu tác giả Đặng Thị Khánh Phượng đưa ra còn có một số chỉ tiêu trùng
lắp, không thực sự hiệu quả khi đưa vào đánh giá.
3. Luận văn: “ Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng và thực tiễn tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Techcombank ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thị
Khánh Phượng, thực hiện năm 2011. Luận văn này tập trung nghiên cứu pháp
luật liên quan đến bảo lãnh tại Việt Nam nói chung và Ngân hàng

Bảo lãnh là sự nhận cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy
đủ quyền lợi và nghĩa vụ nếu người xin bảo lãnh không thực hiện những cam
kết đó đối với người thụ hưởng bảo lãnh. Bảo lãnh cần thiết khi hai bên tham
gia vào một mối quan hệ kinh tế, chính trị hay xã hội còn chưa tín nhiệm
nhau. Uy tín và lời hứa của bên này chưa đủ tin cậy đối với bên kia nhưng bên
kia cũng không đủ khả năng về thời gian; Chi phí và kỹ thuật nghiệp vụ để
đánh giá về bên kia. Lúc đó sự xuất hiện của bên thứ 3 có đủ độ tin cậy đối
với cả hai bên thực hiện bảo lãnh sẽ là cầu nối giữa hai bên, đưa họ đến một
quan điểm thống nhất.
Từ khái niệm trên, ta thấy rõ hai đặc tính cơ bản của bảo lãnh:
+ Trong hoạt động bảo lãnh luôn có ba bên tham gia: Bên bảo lãnh, bên
được bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh.
+ Trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ trước tiên thuộc về bên được bảo


6

lãnh. Bên bảo lãnh chỉ thực hiện các nghĩa vụ đó trong trường hợp bên được
bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình.
Theo điều 361 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 khái
niệm bảo lãnh được xác định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (Bên bảo lãnh)
cam kết với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho
bên có nghĩa vụ (Bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo
lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có
thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được
bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.”
Như vậy, theo định nghĩa trên trong bảo lãnh bao giờ cũng có ít nhất ba
bên liên quan:
 Bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh.
 Quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên trong bảo lãnh được thể hiện

pháp hóa công cụ tài trợ và bảo đảm quốc tế. Việc sử dụng bảo lãnh ngân
hàng bùng nổ mạnh khi các thương vụ ký kết liên quan đến các dự án xây
dựng quốc tế, phức tạp, rủi ro cao, đòi hỏi nhiều nỗ lực và sự hợp tác của
nhiều đối tác trong quá trình thực hiện dự án. Việc thực hiện các dự án quốc tế
này liên quan đến tất cả các nguồn lực như lực lượng lao động, sự cộng tác
của nhiều công ty đối tác, các kỹ sư, kiến trúc sư, các nhà thầu chính, thầu
phụ, các nhà cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu, các công ty vận chuyển phân
phối hàng, các nhà cung cấp tài chính, các công ty bảo hiểm… Sự không hoàn
thành trách nhiệm của bất kỳ đối tác nào trong một dãy mắt xích các đối tác
hoặc sự bất thuận từ các tổ chức ngoài dự án như chính quyền, các tổ chức phi
chính phủ, các tổ chức cộng đồng,… cũng có thể hủy hoại sự thành công
chung của một dự án. Đây chính là một trong những nhân tố tiền đề thúc đẩy
sự phát triển mạnh của dịch vụ bảo lãnh ngân hàng.
1.1.2. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng thường được thể hiện là cam kết của ngân hàng dưới


8

hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ các
nghĩa vụ đã thoả thuận với bên yêu cầu bảo lãnh, được quy định cụ thể tại thư
bảo lãnh của ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng có một số đặc tính hết sức quan trọng đó là tính độc
lập với hợp đồng. Mặc dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho
người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người
được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng nhưng việc thanh toán một bảo lãnh
chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và các điều kiện như được quy định
trong thư bảo lãnh và ngân hàng không thể dựa vào những quyền kháng nghị
có được từ quan hệ hợp đồng. Như vậy, một khi các điều khoản và điều kiện

Xét theo khía cạnh học thuật, bảo lãnh ngân hàng là hình thức “ Tín dụng
chữ ký – Signature Credit”, là hoạt động sinh lời mà các ngân hàng không
phải bỏ vốn.
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng là hình thức tài trợ ngoại
thương, nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng bảo lãnh cho sự
vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan.
Tại Việt Nam, theo thông tư 28/2012/TT-NHNN do Ngân hàng nhà nước
Việt Nam ban hành ngày 03/10/2012 quy định về bảo lãnh ngân hàng thì khái
niệm bảo lãnh ngân hàng được hiểu: “Bảo lãnh ngân hàng (sau đây gọi là bảo
lãnh) là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản
với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo
lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ
và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận”.


10

1.1.3. Đặc điểm, chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng
a. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng
Nghiên cứu đặc điểm của bảo lãnh cho chúng ta cơ sở phân biệt giữa bảo
lãnh với công cụ thanh toán và bảo đảm khác như thư tín dụng, bảo hiểm….
bảo lãnh ngân hàng có các đặc điểm sau:
- Bảo lãnh ngân hàng thể hiện mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn
nhau: Khi một bảo lãnh ngân hàng phát sinh, thường có ba hợp đồng riêng
biệt, độc lập nhau: Hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh;
hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh; hợp đồng
giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Hợp đồng bảo lãnh
sẽ không thể tồn tại nếu không có mối quan hệ trên. Dù có sự phân chia, ba
chủ thể này có liên hệ, tác động và ảnh hưởng đến nhau.

- Bảo lãnh được dùng như công cụ bảo đảm: Chức năng quan trọng nhất
của bảo lãnh là cung cấp một sự bảo đảm cho người thụ hưởng. Trong các
giao dịch kinh tế, thương mại giữa các đối tác, đặc biệt là các đối tác ở các
quốc gia khác nhau, các bên tham gia ký kết hợp đồng không có sự hiểu biết
lẫn nhau thì một trong những yêu cầu đầu tiên để hợp đồng có thể được ký kết
là có sự đảm bảo của các ngân hàng ở các quốc gia khác nhau đã thiết lập mối
quan hệ đại lý với nhau. Bằng việc cam kết chi trả cho người nhận bảo lãnh
một khoản bồi hoàn tài chính khi có những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp
đồng của người xin bảo lãnh gây ra, ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra
sự bảo đảm chắc chắn về quyền lợi cho bên nhận bảo lãnh. Đây chính là mục
đích ra đời của bảo lãnh ngân hàng. Chính sự tin tưởng này tạo điều kiện cho
các giao dịch được tiến hành một cách thuận lợi và dễ dàng. Với chức năng
này, ngân hàng phát hành bảo lãnh phải thường xuyên kiểm tra, giám sát, tạo
áp lực thực hiện tốt hợp đồng, giảm thiểu vi phạm về phía người được bảo
lãnh.
- Bảo lãnh được dùng như công cụ tài trợ: Nhà thầu thường yêu cầu chủ


12

đầu tư ứng trước một khoản tiền để đảm bảo tiến độ thi công và hiệu quả của
dự án. Trong rất nhiều trường hợp, nhờ có bảo lãnh ngân hàng mà người được
bảo lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợ,
hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ…Như vậy, mặc
dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với việc phát hành bảo lãnh, ngân hàng đã
giúp cho khách hàng của họ được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi
được cho vay thực sự. Với ý nghĩa này, bảo lãnh ngân hàng được coi là một
trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng kịp thời các
yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt căng thẳng
về nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp.

c. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
 Đối với nền kinh tế
Bảo lãnh là loại hình dịch vụ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong
nền kinh tế thể hiện ở các mặt sau :
- Sự tồn tại bảo lãnh ngân hàng là một khách quan đối với nền kinh tế,
đáp ứng yêu cầu làm cho nền kinh tế ngày một phát triển. Bảo lãnh ngân hàng
có vai trò như một chất xúc tác làm điều hòa và xúc tiến sự hợp tác trên tất cả
các mặt của nền kinh tế - xã hội trong nước và thế giới. Nhờ có sự bảo lãnh,
các bên yên tâm tham gia ký hợp đồng và có trách nhiệm với các nghĩa vụ đã
ký kết. Trên cơ sở đó giảm thiểu các rủi ro cho doanh nghiệp và nền kinh tế
nói chung.
- Bảo lãnh ngân hàng còn góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh hoạt
động tín dụng thương mại giữa các đối tác và có tác dụng đáng kể trong việc
giải quyết nhu cầu về vốn trong hầu hết các nghành, các lĩnh vực. Sản xuất
phát triển kéo theo các lợi ích kinh tế - xã hội như: giảm thất nghiệp, tăng
tổng sản phẩm quốc dân, tăng vị thế hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.
- Bảo lãnh ngân hàng tác động đến chiến lược phát triển của ngành kinh
tế, thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn, các khu vực trọng điểm phát triển


14

thông qua chính sách ưu tiên trong bảo lãnh vay vốn và các bảo lãnh khác như
ưu đãi về tỉ lệ phí bảo lãnh, giúp tiếp cận được nguồn vốn vay với lãi xuất
thấp. Từ đó bảo đảm cho các doanh nghiệp này có khả năng đứng vững trên
thị trường.
 Đối với bên được bảo lãnh
- Bảo lãnh ngân hàng được xem như “giấy thông hành” giúp bên được
bảo lãnh tham gia các giao dịch ngay cả khi chưa đủ uy tín và lòng tin với đối
tác. Bảo lãnh ngân hàng cũng giúp các doanh nghiệp nhận được nguồn tài trợ từ

a. Theo mục đích bảo lãnh
- Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo
lãnh về việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng
không trả hoặc trả không đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh.
- Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh về
việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp
khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán
với bên nhận bảo lãnh khi đến hạn.
- Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của TCTD với bên mời thầu để đảm bảo
nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp khách hàng phải nộp
phạt do vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ tiền
phạt cho bên mời thầu thì TCTD sẽ thực hiện ngay.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của TCTD với bên nhận bảo
lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng
theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trong trường hợp khách hàng
không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng thì TCTD sẽ
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: Là cam kết của TCTD với bên
nhận bảo lãnh, đảm bảo việc khách hàng thực hiện đúng các thỏa thuận về
chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh.


16

Trường hợp khách hàng vi phạm chất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho
bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì
TCTD sẽ thực hiện thay.
- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: là cam kết của TCTD với bên nhận
bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng
theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi

chi phối của các quy định về bảo lãnh của nước mà ngân hàng bảo lãnh trực
thuộc. Bảo lãnh này khi hết hạn có thể trực tiếp tất toán với người bảo lãnh
mà không cần hoàn trả thư bảo lãnh.

3

Ngân hàng
thông báo

Ngân hàng
phát hành
5
2

4

Người yêu cầu
bảo lãnh

1

Người
thụ hưởng

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp
(1) Người được bảo lãnh và người thụ hưởng thoả thuận hợp đồng chính.
(2) Người được bảo lãnh đề nghị ngân hàng phục vụ mình phát hành bảo
lãnh cho người thụ hưởng.
(3) Ngân hàng bảo lãnh phát hành bảo lãnh cho người thụ hưởng thông
qua ngân hàng thông báo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status