BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN TRUNG PHONG
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ INTERNET BANKING TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TRƯƠNG TẤN QUÂN
HUẾ, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riieng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác. Tôi cũng xin cam
đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cám ơn.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả
Trần Trung Phong
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển dịch vụ Internet banking(IB) là tất yếu khách quan của xu thế liên
kết toàn cầu; thực hiện đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và hiện đại hóa công nghệ
ngân hàng đối với các ngân hàng Việt Nam, trong đó có ngân hàng TMCP Đầu
tư và phát triển Việt Nam (BIDV). Qua nghiên cứu, tìm hiểu tôi nhận thấy dịch
vụ Internet banking trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, chưa thực sự tương
xứng với tiềm năng phát triển của nó. Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã lựa
chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ Internet banking tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt nam – Chi NhánhTỉnh Quảng Trị.” làm luận văn nghiên cứu của
mình.
2. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp điều tra khảo sát: số liệu được thu thập sơ bộ từ NH TMCP
BIDV – CN Quảng Trị và từ khách hàng của BIDV – CN Quảng Trị
+ Phương pháp thống kê: dựa vào số liệu thống kê từ các nguồn báo cáo của
BIDV – CN Quảng Trị, các tạp chí, sách báo, internet, phân tích định tính và
đinh lượng.
3. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn:
Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá được thực trạng phát triển dịch vụ Internet
banking và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện việc phát triển dịch vụ Internet
banking tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – CN Quảng Trị
Nghiên cứu có giá trị ứng dụng trong thực tiễn và là nguồn tài liệu tham khảo
không chỉ cho các nhà quản lý tại BIDV – CN Quảng Trị mà còn cho tất cả các
ngân hàng khác có sự quan tâm.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TM§T
VPBank
Việt Nam
Ng©n hàng thương mại cổ phần Qu©n Đội
Ng©n hàng thương mại cổ phần Việt Nam và
Sacombank
Thịnh Vượng
Ng©n hàng thương mại cổ phần Sài Gßn Thương
Banknet
ATM
WB
IB
PGD
NCCDV
TÝn Việt Nam
C«ng ty chuyÓn m¹ch tµi chÝnh quèc gia
M¸y rót tiÒn tù ®éng
World Bank – Ng©n hµng ThÕ giíi
Internet banking
Phòng Giao Dịch
Nhà cung cấp dịch vụ
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỤC LỤC
xu thế liên kết toàn cầu; thực hiện đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và hiện đại
hóa công nghệ ngân hàng đối với các ngân hàng Việt Nam, trong đó có ngân
hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV).
Là một trong những Ngân hàng Thương mại hàng đầu trên địa bàn,
ngân hàng BIDV - chi nhánh Quảng Trị không ngừng phấn đấu để mở rộng
và phát triển dịch vụ internet banking để phù hợp xu thế phát triển và đáp ứng
7
nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Tuy nhiên, qua nghiên cứu và tìm
hiểu tôi nhận thấy hoạt động kinh doanh dịch vụ Internet banking trên địa bàn
tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, chưa thực sự tương xứng với tiềm năng phát triển
của nó. Đó cũng là lý do mà internet banking tại BIDV chưa là công cụ hữu
hiệu để ngân hàng thu hút khách hàng mới, giữ gìn khách hàng củ và chưa trở
thành đòn bẩy quan trọng để ngân hàng cạnh tranh với các ngân hàng khác.
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ
Internet banking tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt nam –
Chi NhánhTỉnh Quảng Trị.” làm luận văn nghiên cứu của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ internet banking của
BIDV – Chi nhánh Quảng Trị,từ đó đưa ra định hướng và giải pháp phát triển
dịch vụ internet banking tại chi nhánh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh
cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ ngân hàng điện tử,
dịch vụ internet banking và phát triển dịch vụ internet banking;
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ internet bankingtại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh
internet banking. Bên cạnh đó, số liệu điều tra cũng tìm hiểu về thái độ và
hành vị sử dụng internet banking của người dân tỉnh Quảng trị. Số liệu được
thu thập từ tháng 10/2015 đến tháng 12/2015.
4.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng để hệ thống hoá và tổng
hợp tài liệu điều tra theo các tiêu thức phù hợp với mục đích nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: Dựa trên số liệu bảng khảo sát từ khách hàng,
tác giả tiến hành so sánh và phân tích nhằm đưa ra các kết luận cụ thể.
9
- Trên cơ sở các tài liệu đã được xử lý, tổng hợp, vận dụng các phương
pháp phân tích thống kê, phân tích kinh tế để đánh giá thực trạng hoạt độnghệ
thống kênh phân phối.
- Việc xử lý và tính toán các số liệu và chỉ tiêu nghiên cứu được tiến
hành trên máy tính theo các phần mềm EXCEL, SPSS 16.0 .
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiển phát triển dịch vụ ngân hàng điện
tự và dịch vụ internet banking.
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ internet Banking tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Quảng Trị.
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ internet banking tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Quảng Trị.
10
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
suất dịch vụ, tiết kiệm chi phí nhân công, chi phí cung cấp dịch vụ, mở rộng
giao dịch với khách hàng và quản lý tốt hơn dữ liệu về khách hàng, đáp ứng tốt
hơn các yêu cầu của khách hàng về chất lượng dịch vụ cũng như thời gian.
Trong vài thập kỷ trở lại dây thuật ngữ “ngân hàng điện tử - Electronic
banking” được sử dụng khá phổ biến. Theo nghiên cứu của Keivani và các
cộng sự (2008) thì ngân hàng điện tử là “một thuật ngữ cho quy trình mà
trong đó khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua các
kênh điện tử mà không cần phải đến các cơ sở/chi nhánh ngân hàng.” [9]. …
Theo quan điểm của Hội đồng giám định tài chính quốc gia Iran (2006) thì
“dịch vụ ngân hàng điện tử sẽ cung cấp một cách tự động các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng truyền thống cũng như hiện đại trực tiếp đến cho khách hàng
thông qua các kênh điện tử. Như vậy, dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ
thống cho phép khách hàng, bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp, xem số dư
tài khoản, thực hiện các giao dịch, thu thập thông tin về các sản phẩm và dịch
vụ tài chính thông qua các mạng công cộng hoặc tư nhân, bao gồm cả mạng
Internet. Dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm dịch vụ ngân hàng trực tuyến
(Internet banking), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (telephone banking or
mobile phone banking), dịch vụ ngân hàng qua hệ thống Tivi (TV-based
banking) và dịch vụ ngân hàng qua hệ thống máy tính (PC banking/offline
banking). Hê thống này sẽ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng thông qua
các thiết bị thông tin hiện đại như máy tính cá nhân(personal computer), máy
kỹ thuật số hổ trợ cá nhân(personal digital assistant, chẳng hạn như Ipad),
máy rút tiền tự động (automated teller machine - ATM), máy chấp nhận thanh
toán thẻ(POS), hệ thống Kiosk và các điện thoại cảm ứng.
Tóm lại, ngân hàng điện tử chính là kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử; là khả năng khách hàng có thể
12
được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử[1]. Đồng thời, tại Điều 4 Luật Giao
dịch điện tử tại Việt Nam 2005 cũng làm rỏ khái niệm về phương tiện điện tử
được sử dụng trong giao dịch điện tử là “làcác phương tiện hoạt động dựa trên
công nghệ điên, điện tử, kỹ thuật số, từ tín, truyền dẫn không dây, quang học
điện tử hoặc công nghệ tương ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng Internet,
mạng điện thoai, mạng vô tuyến, mạng extranet…”
Dựa trên các khái niệm được nêu ra có thể nhận thấy rằng thực chất của
dịch vụ ngân hàng điện tử là việc thiết lập một kênh trao đổi thông tin tài
chính giữa khách hàng và ngân hàng nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng dịch vụ
ngân hàng một cách nhanh chóng, an toàn và thuận tiện.
1.1.3.2.Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử
Sự ra đời và phát triển của dịch vụ NHDT là một xu hướng tất yếu phù
hợp với nhu cầu và sự phát triển của xã hội. Dịch vụ NHDT là một loại dịch
vụ đặc biệt vì nó cung cấp một “dịch vụ ảo” và nhạy cảm liên quan đến tài
chính của khách hàng và tham gia vào việc cung ứng công nghệ cao và công
nghệ mới. Bên cạnh một số đặc đặc điểm chung như mang lại lợi ích cho
khách hàng và lợi nhuận cho ngân hàng thì dịch vụ NHDT cũng có một số nét
đặc trưng cơ bản khác biệt so với cá dịch vụ ngân hàng truyền thống nói
chung. Cụ thể :
-Phạm vi hoạt động rộng, khả năng trạnh tranh cao
Sự hiện diện khắp toàn cầu của công cụ Internet đã mang lại lợi ích to
lớn cho dịch vụ ngân hàng điện tử. Các ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ
cho khách hàng tại bất kỳ thời điểm nào và bất cứ nơi đâu trên thế giới, xóa
bỏ khoảng cách về địa lý giữa các quốc gia, nâng cao khả năng cạnh tranh,
đem lại sự hiện diện toàn cầu cho nhà cung cấp, giúp các NHTM thực hiện
chiến lược toàn cầu hóa mà không cần mở thêm chi nhánh ở trong nước cũng
như ở nước ngoài. Ngân hàng điện tử cũng là công cụ quảng bá thương hiệu
của NHTM một cách sinh động, hiệu quả.
15
chung và thông tin cá nhân. Call Center có thể linh hoạt trả lời các thắc mắc
của khách hàng, tuy nhiên phải có người trực 24/24 giờ.
Dịch vụ Phone-banking
Dịch vụ Phone-banking sử dụng Call Center tự động, chỉ cần gọi từ
điện thoại cố định hoặc di động vào tổng đài tự động của ngân hàng và thực
hiện theo hướng dẫn sẽ được những thông tin về sản phẩm dịch vụ ngân hàng,
thông tin tài khoản cá nhân.
Dịch vụ Home-banking
Dịch vụ Home-banking là dịch vụ cho phép khách hàng có thể ngồi tại
nơi làm việc thực hiện hầu hết các giao dịch với ngân hàng như chuyển tiền,
liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất, báo nợ, báo có…
Với Home-banking, khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nội
bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng. Các giao dịch được tiến hành tại
nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính ngân hàng
Dịch vụ Internet-banking
Dịch vụ Internet-banking giúp khách hàng thực hiện các giao dịch với
ngân hàng qua mạng Internet (mạng toàn cầu).
Để tham gia, khách hàng truy cập vào website của ngân hàng và thực
hiện giao dịch, truy cập thông tin cần thiết. Khách hàng cũng có thể truy cập
vào các website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với ngân hàng.
Kiosk Ngân hàng
Là sự phát triển của dịch vụ Ngân hàng hướng tới việc phục vụ khách
hàng với chất lượng cao nhất và thuận tiện nhất. Trên đường phố sẽ đặt các
trạm làm việc với đường kết nối Internet tốc độ cao. Khi khách hàng cần giao
dịch hoặc yêu cầu dịch vụ, họ chỉ cần truy cập, cung cấp số chứng nhận cá
nhân và mật khẩu để sử dụng dịch vụ của hệ thống ngân hàng phục vụ mình.
khách hàng sử dụng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm online có thể sử dụng số dư
17
trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm để thế chấp, cầm cố vay vốn tại các tổ chức
tín dụng hoặc có thể chuyển nhượng tài khoản tiền gửi tiết kiệm.
+ Dịch vụ đăng ký vay online: Đây cũng là một trong những sản phẩm
mới của các ngân hàng trong thời gian gần đây. Cũng giống như dịch vụ tiền
gửi tiết kiệm online, khách hàng không cần phải trực tiếp đến ngân hàng để
thực hiện các khoản vay. Thủ tục vay, diều kiện được vay, các giấy tờ cần xác
nhận thông tin của kháh hàng đều được đặt tại trang web của các ngân hàng.
Các khoản vay online hiện nay đang được áp dụng tại các ngân hàng hiện nay
bao gồm: cho vay mua nhà ở, cho vay mua ô tô, cho vay du học nước ngoài,
cho vay sản xuất kinh doanh thông thường, cho vay cá nhân kinh doanh tại
chợ, cho vay cửa hàng cửa hiệu, cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn.
+ Dịch vụ “giao chứng từ - xác thực điện tử”: Ngày nay, các hình thức
giao dịch thông qua các phương tiện điện tử của các cá nhân và các tổ chức
đang ngày càng trở nên phổ biến, các giao dịch bằng hình thức này được gọi
là giao dịch điện tử. Giao dịch điện tử bao gồm rất nhiều hình thức phong phú
và đa dạng như việc gửi, nhận và cung cấp dữ liệu, thông tin qua mạng, ký kết
các hợp đồng, thanh toán điện tử, hoá đơn, chứng từ điện tử...Một yếu tố rất
quan trọng trong giao dịch điện tử là việc chứng thực xác nhận tính nguyên
bản của dữ liệu và xác điịnh danh tính người gửi bằng việc sử dụng chứng
thực điện tử và chữ ký điện tử. Nắm bắt được xu thế trên, từ năm 2013 một số
các ngân hàng Việt Nam đã đưa ra một loại hình dịch vụ mới có tên gọi “giao
chứng từ - xác thực điện tử”. Theo đó, các khách hàng đã ký hợp đồng giao
dịch tín dụng, thanh toán quốc tế, dịch vụ tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ với
ngân hàng, khi thực hiện các giao dịch phát sinh thì không cần phải đến quầy
giao dịch mà chỉ cần gửi email các chứng từ đã được xác thực bằng chữ ký
phủ, các đơn vị kinh doanh và cá nhân, giúp dòng chảy tiền tệ được lưu thông
rõ ràng và trơn tru hơn. Bên cạnh đó, ngành Thuế sẽ chống được thất thu do
sự minh bạch của hệ thống thông tin được hỗ trợ bởi hệ thống ngân hàng.
19
+ Việc phát triển các dịch vụ internet banking giúp chu chuyển vốn
tăng nhanh, tiết kiệm thời gian của xã hội và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu
thanh toán của nền kinh tế. Chính điều đó sẽ làm cho luồng tiền vào ngân
hàng lớn hơn tạo điều kiện thay đổi cơ cấu tiền lưu thông, chuyển từ nền kinh
tế tiền mặt qua nền kinh tế chuyển khoản. Thông qua việc thực hiện các giao
dịch điện tử, ngân hàng có thể kiểm soát hầu hết các chu chuyển tiền tệ, cũng
từ đó hạn chế được các vụ rửa tiền, chuyển tiền bất hợp pháp, tham nhũng.
Mạng thông tin giúp cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng chặt chẽ,
kịp thời chấn chỉnh những vi phạm, giữ vững an toàn hệ thống.
+ Cùng với xu hướng toàn cầu hóa các dịch vụ ngân hàng điện tử nói
chung và dịch vụ internet banking nói riêng giúp nâng cao trình độ văn minh của
xã hội, góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế giữa các
quốc gia, thúc đẩy hoạt động kinh tế thương mại, dịch vụ và du lịch phát triển.
b. Đối với ngân hàng:
* Giảm chi phí tăng hiệu quả kinh doanh
Đối với ngân hàng, việc chuyển sang không gian Internet làm giảm chi
phí gắn với việc thuê và duy trì (khấu hao, sửa chữa, lắp đặt, vận hành...) trụ
sở làm việc mà sự cần thiết của nó trong chế độ phục vụ tự động sẽ mất đi.
Nhờ tự động hoá quá trình quản lý tài khoản ngân hàng nên đã giảm mạnh số
nhân sự cần thiết, nghĩa là chi phí tiền lương cũng được giảm theo. Kết quả là
gía trị giao dich giảm, kinh doanh ngân hàng trở nên hấp dẫn, thậm chí khi
phục vụ các chủ tài khoản có số dư trên tài khoản không lớn lắm.
Trên thực tế tiết kiệm chi phí dường như chưa phải là căn cứ quan
khách hàng có thể giao dịch với ngân hàng tại bất kỳ nơi đâu, bất cữ luc nào
mà họ cảm thấy thuận tiện nhất. Bên cạnh đó dịch internet-banking hiện nay là
một dịch vụ đa ngành, không chỉ cung cấp các dịch vụ liên quan đến hệ thống
ngân hàng, mà còn liên kết rất mạnh mẽ với các công ty tài chính, chứng
khoán, bảo hiểm, các công ty điện, nước, viễn thông...làm cho các sản phẩm
21
được cung cấp ngày càng đa dạng và mang tính cạnh tranh cao. Nhờ đó, năng
lực cạnh tranh của các ngân hàng cũng được thúc đẩy một cách mạnh mẽ nhờ
các gói sản phẩm ngày càng phong phú của mình.Thế mạnh về dịch vụ ngân
hàng điện tử nói chung và internet banking nói riêng cũng là một đặc điểm
được các ngân hàng hiện đại tạo dựng môi trường cạnh tranh trong kinh doanh.
*Thực hiện chiến lược toàn cầu hóa.
Một lợi ích quan trọng khác mà dịch vụ internet bangking đem lại cho
ngân hàng, đó là ngân hàng có thể thực hiện chiến lược “toàn cầu hóa”, chiến
lực “bành trướng” mà không cần phải mở thêm chi nhánh. Ngân hàng có thể
vẫn tiết kiệm chi phí do không phải thiết lập quá nhiều các trụ sở hoặc văn
phòng, đồng thời lại có thể phục vụ một khối lượng khách hàng lớn hơn.
Internet một phương tiện có tính kinh tế cao, giúp các ngân hàng có thể mở
rộng hoạt động kinh doanh của mình ra các quốc gia khác mà không cần đầu
tư vào trụ sở hoặc cơ sở hạ tầng. Theo cách này các ngân hàng lớn đang vươn
cánh tay khổng lồ và dần đần thiết lập cơ sở của mình, thâu tóm dần nền tài
chính toàn cầu.
*Xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu toàn cầu
Thông qua Internet, ngân hàng có thể đăng tin tức của những thông tin
tài chính, tổng giá trị tài sản, các dịch vụ của ngân hàng mình, để phục vụ cho
mục đích xúc tiến, quảng cáo. Có thể ngân hàng chưa thể tiến hành các giao
dịch tài chính trực tuyến, song bằng cách thiết lập các trang web của riêng
lạc với ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện để có thể thực hiện một
số nghiệp vụ ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào và ở bất cứ nới đâu có
Internet. Dịch vụ Internet-banking giúp cho khách hàng dể dàng hơn trong
vấn đề chuyển khoản, thanh toán qua mạng. Việc mua bán hàng hóa qua
mạng đặc biệt là hàng hóa số hóa thì thanh toán trực tuyến rất tiện lợi cho cả
người mua và người bán.
23
1.2.3.2 Rủi ro trong quá trình sử dụng internet banking:
Rủi ro trong quá trinh sử dung dịch vụ internet banking là rui ro hiện tại
và tiểm năng đối với thu nhập và vốn của ngân hàng phát sinh do sự gian lận,
sai sót, hoặc do mất khả năng cung cấp sản phẩm hay dịch vụ, duy trì lợi thế
cạnh tranh và quản lý thông tin. Rủi ro giao dịch luôn có trong mỗi sản phẩm
và dịch vụ ngân hàng cung cấp và tiềm ẩn trong việc phát triển và cung ứng
sản phẩm, xử lí giao dịch, ước tính và triển khai hệ thống, tính phức tạp của
sản phẩm và dịch vụ, môi trường kiểm soát nội bộ.
Các sản phẩm Internet banking có mức độ rủi ro giao dịch cao, đặc biệt
là khi quy trình cung cấp sản phẩm không được hoạch định, thực hiện và theo
dõi đầy đủ. Các ngân hàng có cung cấp sản phẩm và dịch vụ qua Internet có
thể gặp rủi ro khi không đảm bảo đủ khả năng cung ứng các dịch vụ chính
xác, kịp thời và đáng tin cậy để làm cho khách hàng tin tưởng hơn vào thương
hiệu của mình. Khách hàng giao dịch qua Internet thường ít kiên nhẫn với
những thiếu sót của ngân hàng, ngược lại, cái họ mong đợi là sản phẩm luôn
có sẵn liên tục và trang web dễ sử dụng.
Rủi ro giao dịch còn xuất hiện khi các cuộc tấn công và thâm nhập vào
máy tính, hệ thống mạng của ngân hàng. Đây là rủi ro có tính chất nghiêm
trọng nhất trong các dạng rủi ro giao dịch. Rủi ro thuộc thể loại này phụ thuộc
nhiều yếu tố khách quan nên rất khó phòng tránh và khắc phục. Hậu quả của
một người sử dụng để lấy thông tin về hệ thống, chẳng hạn như thay đổi mật
khầu.
- Ngựa Trojan (Trojan Horse): một lập trình viên có thể cài mã vào hệ thống
cho phép lập trình viên đó hoặc người khác xâm nhập bất hợp pháp vào hệ
thống.
- Chặn dữ liệu (Hijacking): chặn dữ liệu đường truyền, sau đó cố gắng khai
thác thông tin từ dữ liệu có được. Internet banking đặc biệt dễ bị tấn công
theo cách này.
25