Trần Đình Sử – Toàn cảnh thi pháp học (Phần 1) - Pdf 28

Trần Đình Sử – Toàn cảnh thi pháp học (Phần 1)
Posted on Tháng Chín 13, 2010
Lời giới thiệu: Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết rất công phu của GS.TS Trần
Đình Sử – “Toàn cảnh thi pháp học”. Ở bài viết này, tác giả đã trình bày một cách hệ
thống các quan niệm về thi pháp học, sự vận động của thi pháp học, những khả năng mà
thi pháp học đem đến cho nghiên cứu văn học, tình hình nghiên cứu và ứng dụng thi
pháp học trên thế giới và Việt Nam. Do bài viết khá dài nên trên trang web này, chúng
tôi dự kiến đăng thành hai phần.
*
1. Thi pháp học là một lĩnh vực nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong ngành nghiên cứu
văn học thế kỉ XX, tuy có cội nguồn xa xưa nhưng đã được cải tạo triệt để, mang nội dung
mới, rất đa dạng về quan niệm, phương pháp, đồng thời tự nó cũng biến đổi nhanh chóng
chưa từng thấy trong lịch sử.
Mọi người đều biết thuật ngữ “thi pháp học”(poétique, poetics, 诗诗) có nguồn gốc từ tiếng
Hi Lạp “Poietike”, chỉ một lĩnh vực tri thức về các quy tắc chuyên ngành sáng tác nghệ
thuật, phân loại về thể loại nghệ thuật, thể hiện tập trung trong công trình Poetica của
Aristote (384 – 322)[1], mặc dù trước ông đã có nhiều người đề xuất. Aristote kết hợp tư
tưởng mua vui và nhận thức khi nhìn nhận bản chất nghệ thuật, từ đó, ông lần lượt xem
xét các thể loại bi kịch, sử thi, cấu trúc cho đến ngôn từ. Ông kết hợp lí thuyết với thực
hành phân tích nghệ thuật cụ thể. Nhưng qua hàng nghin năm tồn tại và phát triển, thi
pháp học nhiều lần được hiểu khác nhau, khi thì thu hẹp vào loại hình thi ca, vào thi luật,
phép làm thơ, biến thành quy phạm, giáo điều, khi thì mở rộng chỉ toàn bộ nghệ thuật,
khi lại bị coi thường như một thứ hình thức chủ nghĩa ít có ý nghĩa và cho đến nay cách
hiểu vẫn còn phân tán. Từ thế kỉ XVIII trở đi, với sự chuyển hướng từ siêu hình học cổ đại
sang nhận thức luận hiện đại, diễn ra sự phân loại các khoa học, sự hình thành dần dần
khoa nghiên cứu văn học, thì thi pháp học chuyển hướng sang nhận thức luận, nghiên
cứu các vấn đề nội dung như cái đẹp, xã hội, chính trị, đạo đức, chức năng phản ánh hiện
thực, giáo dục.., hầu như bị hoà lẫn vào các hoạt động xã hội khác và các khuynh hướng
nghiên cứu văn học khác như triết học, chính trị học, xã hội học, ngữ văn học, tâm lí học,
đặc biệt là lịch sử văn học…Đó là cái logíc khiến cho thi pháp học bị bỏ qua ở những nơi
xã hội học văn học ngự trị. Phương pháp luận nghiên cứu nặng về diễn dịch triết học và

sự”, bao giờ cũng muốn có một cái chung được mọi người chấp nhận. Nhưng đó là điều
không tưởng, bởi vì trong thế kỉ tri thức khoa học bùng nổ và đổi thay nhanh chóng như
thế kỉ chúng ta, thì không thể có một định nghĩa nào được mọi người chấp nhận. Và nếu
có thì có nghĩa là thi pháp học đã dẫm chân tại chỗ. Tuy nhiên từ những định nghĩa khác
nhau ấy chúng ta vẫn có thể nhận ra một phạm vi nhất định của bộ môn chuyên ngành
này là nghiên cứu hình thức và ngôn ngữ của văn học. Dưới đây giới thiệu một số định
nghĩa tiêu biểu. V. Girmunski : “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (tức là văn
học) như là một nghệ thuật.(Nhiệm vụ của thi pháp học). Viacheslav Ivanov : “Thi pháp
học là khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn họcvà hệ thống các phương tiện thẩm mĩ
được sử dụng trong đó. Thi pháp học bao gồm thi pháp học đại cương, nghiên cứu các
phương tiện và quy luật xây dựng bất cứ tác phẩm nào; thi pháp học miêu tả thực hiện sự
miêu tả cấu trúc của tác phẩm cụ thể của tác giả riêng biệt hoặc của cả một thời kì; và thi
pháp học lịch sử nghiên cứu sự phát triển của các phương tiện nghệ thuật. Trong cách
hiểu rộng hơn, thi pháp học trùng với lí luận văn học, khi hiểu hẹp thì trùng với nghiên
cứu ngôn ngữ thơ hay ngôn từ nghệ thuật. (…) Thi pháp học đại cương nghiên cứu các
phương thức có thể có trong việc thể hiện cấu tứ (замысел) nghệ thuật của nhà văn văn
và các quy tắc kết hợp, các phương thức phụ thuộc vào thể loại, loại hình văn học(…) Các
phương tiện nghệ thuật có thể được phân loại theo các cấp độ khác nhau giữa cấu tứ nghệ
thuật, coi như cấp độ cao nhất và sự thể hiện cuối cùng của văn bản ngôn từ”(…). Thi
pháp học miêu tả đặt mục đích tái hiện con đường từ cấu tứ đến văn bản cuối cùng, qua
đó nhà nghiên cứu có thể hoàn toàn thâm nhập vào cấu tứ của tác giả. Ở đây, các cấp độ
và bộ phận của tác phẩm được xem xét như một chỉnh thể (…). Thi pháp học lịch sử
nghiên cứu sự phát triển của các biện pháp nghệ thuật riêng lẻ (định ngữ, ẩn dụ, vần,…);
nghiên cứu các phạm trù (thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, các đối lập cơ
bản), cũng như cả hệ thống các thủ pháp hay phạm trù vốn có của những thời đại văn học.
(Bách khoa văn học toát yếu, T. 5, tr. 936 – 943). M. L. Gasparov: “Thi pháp học – khoa
học về hệ thống các phương tiện biểu hiện trong tác phẩm văn học. (…) Trong nghĩa rộng
thi pháp học trùng với lí luận văn học, trong nghĩa hẹp trùng với một trong các lĩnh vực
của thi pháp lí thuyết. Là lĩnh vực của lí luận văn học thi pháp học nghiên cứu đặc trưng
của các loại hình, thể loại văn học, các dòng và trào lưu, các phong cách, phương pháp,

Phương pháp chủ yếu của thi pháp học là miêu tả cấu trúc của văn bản (diễn ngôn) với các
thành phần của chúng. (Poétique,1973). Cuối cùng có rất nhiều tạp chí, từ điển, tập bình
luận lấy “thi pháp” làm nhan đề của mình, nội dung càng phong phú, bác tạp.
Từ các định nghĩa trên, ta thấy thi pháp học chủ yếu là một lĩnh vực nghiên cứu về đặc
trưng, tổ chức, các phương thức, phương tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm mĩ của văn
học trong tính chỉnh thể của văn bản. Đó là lĩnh vực nghiên cứu quy luật nội tại của tác
phẩm, cấu tạo và phong cách, nó phân biệt (chứ không đối lập) với các lĩnh vực nghiên
cứu khác. Thi pháp về thực chất là hệ thống ngôn ngữ (kí hiệu) nghệ thuật, mang tính
mở. Thi pháp học bao gồm các bộ phận lí thuyết, miêu tả và lịch sử, gồm cả phong cách
học, và ngày nay bao gồm cả tự sự học, tu từ học (Rhetorica) mỗi bộ phận có đối tượng
riêng, nhưng đều không ra ngoài phạm vi nói trên. Xét về cách tiếp cận còn có thể phân
biệt thi pháp học lịch sử, thi pháp học ngôn ngữ học (cấu trúc), thi pháp học so sánh, thi
pháp học xã hội học, thi pháp học văn hoá. Nhiều nhà nghiên cứu có xu hướng đồng nhất
thi pháp học với lí luận văn học, theo R. Wellek, trong trường hợp đó, nên dùng thuật ngữ
“lí luận văn học” thay cho thi pháp học[2]bởi vì hàm ý của lí luận văn học rộng hơn thi
pháp học. Tuy nhiên người ta vẫn thích nói “thi pháp” để nhấn mạnh tính chất nghiên
cứu nội tại của nó. Tất cả các trường phái nghiên cứu thi pháp học về cơ bản đều thống
nhất trong phạm vi và tính chất đó, mặc dù nguyên tắc xuất phát có thể khác nhau. Mặc
dù từ những năm 20 thế kỉ trước, M.Bakhtin đã phê phán chủ nghĩa hình thức Nga, chỉ
trích tính chất thiếu mĩ học và triết học của nó, đề xướng thi pháp học xã hội học, gắn với
ý thức hệ, nhưng bản thân Bakhtin cũng đánh giá cao chủ nghĩa hình thức và tự mình
cũng không ra ngoài phạm vi thi pháp ngôn ngữ văn học như là khuynh hướng của thời
đại[3]. Và mặc dù các cuộc đấu tranh ý thức hệ đã diễn ra gay gắt, khốc liệt, nhưng thực tế
chỉ kìm hãm thi pháp này, chỉ làm chậm chứ không thể thủ tiêu nó khỏi bản đồ nghiên
cứu văn học. Viện sĩ Nga Averincev ví thi pháp của văn học như là ngữ pháp trong ngôn
ngữ, cho đến nay đã có nhiều lí thuyết và cách miêu tả ngữ pháp, nhưng không có một lí
thuyết duy nhầt miêu tả đầy đủ, trọn vẹn về ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể nào. Tình
hình đó cũng giống như thi pháp học. (Thi pháp văn học Bizantin trung đại thượng kì)
Nói đến thi pháp học là nói đến nhiều thi pháp học, chứ không phải là chỉ có một thi
pháp học nào đó như có người lầm tưởng. Mỗi thi pháp học chỉ dựa vào một số nguyên tắc

thế giới. Thi pháp học hiện đại bắt đầu với chủ nghĩa hình thức Nga. Chủ nghĩa hình thức
Nga bao gồm Trường phái ngôn ngữ học Matscova do Jakobson đứng đầu (còn có
Vinokur, Tomashevski, Brik…) , và Hội nghiên cứu ngôn ngữ thi ca ở Peterburg do V.
Shklovski đứng đầu ( gọi tắt là OPOJAZ, thành viên còn có Aykhenbaum, Jakubinski,
Tynianov, Girmunski, Polivanov, Vinogradov…), chịu ảnh hưởng lí thuyết ngôn ngữ hệ
thống của F. de Saussure, nhận thức thi pháp như là ngôn ngữ độc lập của văn học, phân
biệt hẳn với đời sống và ngôn ngứ sinh hoạt, cũng khác với ngôn ngữ khoa học. Họ chủ
trương nghiên cứu văn học một cách khách quan, khoa học, dựa vào các sự thực về ngôn
ngữ. V. Shklovski tuyên bố : “Lí luận văn học của tôi là nghiên cứu quy luật nội bộ của văn
học. Nếu lấy ví dụ từ tình hình nhà máy thì cái tôi quan tâm không phải là thị trường
bông sợi thế giới hay chính sách của các tập đoàn sản xuất mà là số sợi bông và phương
pháp dệt vải”, “lá cờ thi pháp không cùng màu với lá cờ trên toà thị chính”. Ông khẳng
định ý thức nghiên cứu nội tại, xem “thủ pháp” (прием) là đối tượng và nội dung của văn
học. Thủ pháp đối với ông là tất cả những cách thức, phương tiện biến một nội dung
thông thường, trung tính, quen thuộc thành cái thẩm mĩ mới lạ. Ông nghiên cứu thủ
pháp “lạ hoá” (отраннение, defamiliarization) của văn học trên mọi cấp độ: ngôn từ,
truyện kể, các hình thức quy ước (ước lệ) của văn học. Các nhà hình thức Nga như B.
Tomashevski xây dựng lại khái niệm truyện kể cùng các yếu tố của nó, mở đầu một quan
niệm mới về tác phẩm tự sự mà sau này R. Barthes sẽ phát triển
Ở nước Nga đương thời, sau cách mạng tháng Muời, ngoài chủ nghĩa hình thức Nga còn
có nhiều trường phái thi pháp học xã hội học lí thuyết, trong đó nổi lên M. Bakhtin, V. F.
Pereverzev. Bakhtin nhấn mạnh tính đối thoại, một tư tưởng có ý nghĩa chống độc thoại,
đáp ứng nhu cầu tư tưởng hiện đại. Thi pháp học của M. Bakhtin ngày nay được định
danh là thi pháp học văn hoá. Theo tôi, định danh như vậy sát và đúng hơn là thi pháp xã
hội học do chính Bakhtin đưa ra. Pereverzev thì quan tâm vấn đề nguồn gốc xã hội của
sáng tác. Xã hội học văn học về sau phát triển thành lí luận văn học mác xít, chủ yếu chỉ
quan tâm đến các vấn đề nội dung tư tưởng của văn học theo nguyên lí nội dung quyết
định hình thức, các phạm trù hình thức ít được chú ý, mãi đến sau năm 1960 mới dược
nối lại ở nước Nga.
[1] Poitike của Aristote trước nay vẫn dịch là Bàn về nghệ thuật thơ ca, nay thấy dịch như

Just another WordPress.com site
Trần Đình Sử – Toàn cảnh thi pháp học (Phần 2)
Ph ầ n 1
Cùng thời gian đầu thế kỉ, trường phái phê bình mới Anh, Mĩ gồm I. A. Richards, J. C.
Ransom, A. Tate, C. Brooks, W. Empson, W. Wimsatt, R. Wellek… lấy văn bản làm đối
tượng trung tâm của nghiên cứu, khám phá tính văn học qua cấu trúc và cơ chất (texture)
của ngôn từ. Lấy văn bản làm bản thể của văn học, phê phán hiểu lầm về ý đồ tác giả,
nghiên cứu các đặc tính của ngôn ngữ thơ như trương lực, tính mơ hồ, đa nghĩa, tính
nghịch lí, tính biểu tượng, tính giả vờ (Irony – có nguồn gốc Hi Lạp, chỉ sự giả vờ của diễn
viên, sách Trung Quốc dịch là “phản ngữ”, tức lai “lối nói ngược”, nghĩa rộng hơn “mỉa
mai”), vai trò của ngữ cảnh. Họ chủ trương một cách đọc kĩ (close reading) đối với văn
bản để phát hiện các tính chất đó. Các phạm trù này giúp người ta hiểu rõ hơn bản chất
của ngôn ngữ văn học. Wellek và Warren phát triển lí thuyết cấu trúc văn bản và phân
biệt nghiên cứu nội tại với nghiên cứu ngoại tại.
Cũng gần như cùng thời với các trường phái hình thức ở Nga và Anh, Mĩ ở Đức, do chịu
ảnh hưởng của triết học hiện tượng học xuất hiện trường phái nghiên cứu thế giới tinh
thần và thế giới nghệ thuật của nhà văn biểu hiện qua văn bản ngôn ngữ. Fredric Gundolf
chủ trương phân biệt cuộc sống kinh nghiệm thực tế của nhà văn với cuộc sống trong tác
phẩm nghệ thuật. E.R. Curtius căn cứ vào ngôn ngữ mà nghiên cứu thế giới tinh thần của
nhà văn, phản đối lối nghiên cứu dựa vào các quy tắc để đánh giá sáng tác. Eric Auerbach
nghiên cứu phương thức “mô phỏng” thế giới của các văn bản kinh điển mà ông trích
từng đoạn để phân tích, so sánh, chỉ ra cách cảm nhận con người, không gian, thời gian,
đồ vật. Leo Spitzer được coi là tác giả nổi bật trong giới nghiên cứu phong cách chủ
trương đi tìm “thế giới bên trong”, “cách cảm nhận thế giới” của nhà văn và giải thích
bằng hệ thống biểu hiện ngôn ngữ, nhưng không loại trừ tác động của các nhân tố thời
đại, thực tại. Họ đã nhận thấy nghệ thuật là một thế giới chủ quan của nghệ sĩ, phân biệt
với thực tại khách quan. Trường phái này cùng triết học hiện tượng học đã ảnh hưởng đến
trường phái Genève chủ trương nghiên cứu ý thức nhà văn thể hiện trong tác phẩm mà
đại biểu là Marcel Raymon, George Poulet, J. Rousset, J. Jarobinski, các nhà phê bình
Mĩ Paul de Man, J. Hillis Miller, các nhà mĩ học Pháp Dufrènne, Merleau-Ponty, nhà mĩ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status