MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ………………………….………………………………
1
Chƣơng 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ………… ……….
3
1.1. Lƣợc sử vấn đề nghiên cứu chi Michelia và loài Michelia citrata trên
thế giới ……………………………………… ……………………
3
1.2. Lƣợc sử vấn đề nghiên cứu chi Michelia và loài Michelia citrata tại
Việt Nam ………………………………………………… …… ………
6
1.3. Tổng quan về bảo tồn ………………………………… ……………
10
Chƣơng 2 – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ
ĐẶC ĐIỂM ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
………………………………………………………………………
13
2.1. Điều kiện tự nhiên …………………………………………………….
13
2.1.1. Vị trí địa lý ……………………………………….………
13
2.1.2. Địa hình địa thế và đặc điểm khu hệ thực vật …….… ………
14
2.2. Dân sinh kinh tế và xã hội ……………………………………………
15
2.2.1. Nhân khẩu học ………………………………… ……… ….
15
2.2.2. Sinh kế ………………………………………………………
17
2.2.3. Hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng ………………………….
41
4.1.3. Đặc điểm sinh thái ……………………………………………
41
4.2. Hiện trạng quần thể, mức độ nảy mầm và tái sinh của loài Michelia
citrata trong khu vực nghiên cứu ………………………………
49
4.2.1. Hiện trạng bảo tồn loài Michelia citrata theo tiêu chuẩn
IUCN 2013 tại Việt Nam ……………………………………
49
4.2.2. Tình trạng nảy mầm và tái sinh ngoài tự nhiên của loài
Michelia citrata
51
4.3. Thử nghiệm nhân giống hữu tính và trồng bảo tồn loàiMichelia citrata
tại Việt Nam……………………………………………
58
4.3.1. Ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tại vùng
rừng 3 xã Cao Mã Pờ - Tả Ván – Tùng Vài tới quần thể Michelia citrata
58
4.3.2. Thử nghiệm khả năng nhân giống hữu tính loài Michelia
citrata bằng hạt……………………………………………………………
59
4.3.3. Định hƣớng một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài
Michelia citrata …………………………………………………………….………
64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …………………………………………….
65
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………
68
PHỤ LỤC…………………………………………… ………………
73
Bảng 2. Thống kê sơ bộ các hộ gia đình ở 7 thôn mục tiêu đang canh tác
trong rừng ……………………………………………………………………
19
Bảng 3. Một số loài thực vật mọc chung với Michelia citrata ……………
44
Bảng 4. Tổ thành các cây gỗ mọc cùng Michelia citrata ……………… …
48
Bảng 5. Các chỉ số đánh giá tình trạng bảo tồn loài Michelia citrata
50
Bảng 6. Tình trạng nảy mầm và tái sinh tự nhiên của loài Michelia citrata
theo tuyến ……………………………………… …………………………
52
Bảng 7. Khả năng nảy mầm và tái sinh của Michelia citrata quanh gốc cây
mẹ ……………………………………………………………………………
55
Bảng 8. Tình trạng các cây Michelia citrata nảy mầm, tái sinh …………….
55
Bảng 9. Kết quả nhân giống hữu tính loài Michelia citrata bằng hạt … …
59
Bảng 10. Đo đạc các chỉ số của một số cây con ………………………….…
60
Hình 11. Đặc điểm hình thái quả Michelia citrata ……………………………
40
Hình 12. Bản đồ phân bố loài Michelia citrata tại Việt Nam và trên thế
giới ………………………………………………………………………….
43
Hình 13. Khu phân bố (EOO) của loài Michelia citrata tại Việt Nam và
trên thế giới …………………………………………….…………………
51
Hình 14. Các tuyến điều tra nghiên cứu tại khu rừng Cao Tả Tùng ……….
52
Hình 15. Bản đồ phân bố loài Michelia citrata tại khu rừng Cao Tả Tùng
53
Hình 16. Hình ảnh về nghiên cứu tái sinh quanh gốc cây mẹ ……………
57
Hình 17. Một số hình ảnh về quá trình gieo ƣơm hạt Michelia citrata …….
62
Hình 18. Cây giống Michelia citrata.……………………………………
63
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AOO
Nơi cƣ trú (Area of Occupancy)
BKF
Bangkok Forest Herbarium
CITES
Công ƣớc buôn bán quốc tế các loài động thực vật nguy cấp
(Convention on International Trade in Endangered Species of Wild
Fauna and Flora)
CPC
Trung tâm Bảo tồn Thực vật (Center of Plant Conservation)
CR
Sẽ nguy cấp (Vulnerable)
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 1 K20 Sinh học
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình phát triển kinh tế toàn cầu, rất nhiều loài thực vật đứng trước
nguy cơ bị tuyệt chủng hoàn toàn bởi các hoạt động của con người. Con người
không chỉ khai thác triệt để các loài có giá trị mà còn phá hủy sinh cảnh, môi trường
sống tự nhiên, dẫn đến nguy cơ tuyệt diệt của các loài sinh vật. Việt Nam cũng
không đứng ngoài tình trạng ấy.
Chúng ta luôn được nghe đất nước ta có “rừng vàng, biển bạc”, quả thật Việt
Nam là quốc gia có hệ thực vật vô cùng phong phú do những đặc trưng về vị trí, địa
lý, địa hình và là nơi giao lưu của nhiều luồng thực vật khác nhau. Trên thực tế, các
nhà thực vật đã thống kê được 13.766 loài thực vật, trong đó 2.393 loài thực vật bậc
thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch [6,13], và còn có thể nhiều hơn nữa.
Mặc dù có được lợi thế trên, việc nghiên cứu các loài thực vật còn rất nhiều hạn
chế, cả trong phân loại học và lĩnh vực bảo tồn, đặc biệt bên cạnh những loài mới
được khám phá ra, rất nhiều loài thực vật có giá trị đã biến mất hoàn toàn, thậm chí
có những loài mới vừa được phát hiện đã ở tình trạng nguy cấp. Sách đỏ Việt Nam
năm 2007 đã liệt kê tới 464 loài thực vật đang bị đe dọa nghiêm trọng [4]. Họ Ngọc
lan cũng nằm trong tình trạng trên. Họ Ngọc lan (Magnoliceae Juss.) thuộc bộ Ngọc
lan (Magnoliales), liên bộ Ngọc lan (Magnolianae), phân lớp Ngọc lan
(Magnoliidae), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), là họ thực vật nguyên thủy nhất
trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) [2,3,10,18,34,40,49,50]. Ngày nay trên thế
giới, họ này có 17 chi khoảng 300 loài phân bố ở vùng nhiệt đới tới vùng ôn đới ấm
đặc biệt là vùng Bắc bán cầu từ Đông Nam châu Á, Trung Mỹ, Đông Nam của Bắc
Mỹ tới miền Nam của Nam Mỹ [50,51]. Ở Việt Nam các nhà thực vật ghi nhận có
cứu sự phân bố, sinh thái, sinh học và hiện trạng bảo tồn của loài Giổi chanh –
Michelia citrata (Noot. & Chalermglin) Q. N. Vu & N. H. Xia tại xã Tùng Vài,
huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang”. Hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ
sở khoa học để thực hiện bảo tồn bền vững và phát triển loài này tại Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 3 K20 Sinh học
Chƣơng 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lƣợc sử vấn đề nghiên cứu chi Michelia và loài Michelia citrata trên thế
giới
Họ Ngọc lan - Magnoliaceae là một trong những nhóm thực vật có hoa đầu
tiên của ngành thực vật Hạt kín - Angiospermae. Họ Ngọc lan ngày nay gồm
khoảng 300 loài thuộc 17 chi, phân bố tự nhiên ở Đông Nam châu Á, Trung Mỹ,
Đông Nam Bắc Mỹ tới miền Nam của Bắc Mỹ [50,51].
Mặc dù Ngọc lan được coi là một trong những họ thực vật có hoa nguyên
thủy nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khái niệm về hoa đầu tiên
và nghiên cứu tiến hóa, hệ thống phân loại của họ lại có rất nhiều quan điểm khác
nhau, đặc biệt là sự sắp xếp thứ bậc chi. Rất nhiều trường phái phân loại khác nhau
đã được đưa ra từ khi Jussieus (1789) lần đầu tiên mô tả họ Magnoliaceae trong
“Species Plantarum” cho đến các tác giả khác như Spach (1839); Baillon (1866);
Dandy (1927, 1978); Law (1984, 1996, 2000); Nooteboom (1985, 2000); Chen &
hóa vơ
́
i tên Magnolia virginiana L. Đó là sư
̣
xuất hi ện và ra đơ
̀
i chính thư
́
c cu
̉
a tên
Magnolia, sau này chính là tên cu
̉
a ho
̣
Ngo
̣
c lan – Magnoliaceae [50].
Linnaeus (1753) là người đầu tiên công bố chi Michelia L. với loài chuẩn là
Michelia champaca L. trong tác phâ
̉
m “Species Plantarum” , đã đề cập tơ
́
i 8 loài
thuộc 3 chi, đó là: Liriodenron L. (L. tulipifera L.), Magnolia L. (M. virginiana L.,
M. glauca L., M. foetida L., M. grisea L., M. tripetala L., M. acuminata L.) và
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 4 K20 Sinh học
́
i 12 chi. Đây cũng là hệ thống được
nhiều nhà thực vật chấp nhận và sử dụng trong thời gian khá dài. Sau thời gian đó
có mô tả thêm một số chi mới như Paramanglietia của Hu et W. C. Cheng (1951),
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 5 K20 Sinh học
Dugandiodendron Lozano của G. Lozano-Contreras (1975), vơ
́
i Manglietiastrum
Law của Yu Hu Liu (Yuh Wu Law) (1979) và Woonyoungia La (1997) hay
Sinomanglietia của Z. X. Yu (1994). Đến đây chi Michelia L. vẫn được công nhận
là chi độc lập với đặc điểm cụm hoa mọc ở nách lá.
Hệ thống này với chi Michelia L. độc lập vẫn được tiếp tục chấp nhận trong
các tác phẩm của Law (1984, 2000) [50].
Sau này, Hans P. Nooteboom (1985) trong “Notes on Magnoliaceae” đã rút
gọn lại h ệ thống cu
̉
a Dandy (1927, 1964, 1974), theo đó ông gộp 4 chi: Talauma
Juss., Aromadendron Blume, Dugandiodendron Lozano, Manglietiastrum Law vào
chi Magnolia L.; gộp các chi Paramichelia Hu, Tsoongiodendron Chun và
Alcimandra Dandy vào chi Michelia L. Theo cách này phân họ Magnolioideae chỉ
còn 6 chi [44].
Đến năm 2000, Noteboom công nhận họ Ngọc lan có 3 chi Pachylanax,
Magnolia thuộc phân họ Magnolioideae và chi Liriodendrons thuộc phân họ
Liriodendroideae. Chi Magnolia được phân thành nhiều phân chi (subgenus) và tổ
(section), trong đó có phân chi Michelia. Phân chi này lại được phân thành 7 section
là: Sect. Michelia, Sect. Anisochlamys, Sect. Dichlamys, Sect. Micheliopsis, Sect.
̣
phân tách giư
̃
a 2 phân ho
̣
rõ ràng trong Magnoliaceae , đó là: (1)
Liriodendroideae và (2) Magnolioideae nhưng có sự khác biệt về phân chia, sắp xếp
các chi. Tuy nhiên sau thời gian phân tách hay nhập lại các chi, các bằng chứng về
phân loại truyền thống cũng như các nghiên cứu hiện đại về nhiễm sắc thể và phân
tử đều cho rằng nên xem chi Michelia L. là một chi độc lập được đặc trưng bởi các
đặc điểm nổi bật là hoa và chồi hoa mọc ra từ nách lá, cuống nhụy dài, các lá noãn
(hay các đại ở quả) thường rời. Từ lần mô tả đầu tiên năm 1753 bởi Linnaeus với
một loài duy nhất Michelia champaca, hiện nay trên thế giới, chi Giổi - Michelia L.
được công nhận có khoảng 70 loài phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới châu Á [50,51].
Về loài nghiên cứu, năm 2007 Chalermglin và Nooteboom đã công bố loài
Magnolia citrata Noot. & Chalermglin trên tạp chí Blumea (Blumea 52: 559) dựa
trên mẫu thu được từ Thái Lan (Chiang Mai, Mae Taeng Distr., Mon Angket, 1200
m alt.) mang số hiệu Smitinand 90-269 = BKF 96932 (HT: BKF) và được xác định
thuộc về phân chi Yulania, nhóm (section) Michelia, phân nhóm (subsection)
Michelia [26]. Lúc đó loài này được xác định là loài đặc hữu của Thái Lan, phân bố
ở Chiang Mai, Nan, Loei. Đến năm 2009, loài cũng được nhắc đến trong công trình
“The Magnoliaceae of Thailand” của Nooteboom và Chalermglin [46]. Sau này
trong nghiên cứu của mình, Vũ Quang Nam đã phát hiện loài này có ở Việt Nam và
sau khi tổ hợp lại, chuyển loài này về chi Michelia L. với tên Michelia citrata
(Noot. & Chalermglin) Q. N. Vu & N. H. Xia, tên gọi Magnolia citrata Noot. &
Chalermglin chuyển thành basionym của loài [15].
1.2. Lƣợc sử vấn đề nghiên cứu chi Michelia và loài Michelia citrata tại Việt
Nam
hay còn gọi là họ Dạ Hợp gồm có 8 chi và 50 loài, mỗi loài đã nêu tên khoa học, tên
đồng nghĩa chính, tên Việt Nam, mô tả ngắn gọn và có hình vẽ cho từng loài, một
số loài còn nêu các thông tin về công dụng [10]. Trong đó chi Michelia gồm có 19
loài.
Tiếp theo đó đến năm 2003, trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam
(Nguyễn Tiến Bân chủ biên), họ Ngọc lan - Magnoliaceae được bổ sung thêm 1 chi
Alcimandra và 1 loài mới là Manglietia hainanensis Dandy, 1930, đồng thời có một
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 8 K20 Sinh học
số chuyển đổi về danh pháp của vài loài. Như vậy tổng cộng tại Việt Nam, họ
Magnoliaceae có 9 chi, 46 loài [3], với chi Michelia có 18 loài và một thứ. Cũng
trong danh lục này, ông liệt kê 3 loài: Paramichelia braianensis (Gagnep.) Dandy,
P. baillonii (Pierre) Hu và Tsoongiodendron odorum Chun, nay đã trở thành
synonym của Michelia brainensis Gagnep., M. baillonii (Pierre) Finet & Gagnep.
và M. odora (Chun) Nooteboom & B. L. Chen.
Cho đến nay, những nghiên cứu mới nhất về chi Giổi - Michelia L. thuộc họ
Ngọc lan - Magnoliaceae có thể kể đến các bài báo của Vũ Quang Nam đã mô tả
một loài Giổi mới cho khoa học là Michelia xianianhei Q. N. Vu năm 2011; đã làm
rõ và bổ sung thêm các loài cho hệ thực vật Việt Nam là Michelia gioi (A. Chev.)
Sima & H. Yu đăng trong Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp 1: 826-829 năm 2009,
Michelia velutina DC. đăng trong Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp 3: 1012-1015 năm
2009; Michelia mannii King đăng trong J. Trop. Subtrop. Bot. 18(6): 661-664 năm
2010, Michelia fulva Chang et B. L. Chen đăng trong Tạp chí Sinh học, 32(2) năm
2010, Michelia flaviflora Y. W. Law & Y. F. Wu đăng trong Tạp chí Khoa học Lâm
nghiệp (4): 1578 năm 2010; Michelia citrata (Noot. & Chalermglin) Q. N. Vu & N.
H. Xia đăng trong Tạp chí Sinh học 33(4): 42-44 năm 2011, Michelia macclurei
Dandy đăng trong Báo cáo Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên
citrata tại thôn Păng Dung, xã Đạ K‟Nàng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng và
thu mẫu tiêu bản mang số hiệu CTTN 823.
Hiện tại trong lĩnh vực bảo tồn các loài có giá trị bảo tồn thuộc họ Ngọc lan
của Việt Nam, Trung tâm Bảo tồn Thực vật (CPC) thuộc Liên hiệp các Hội khoa
học Việt Nam đã hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế ở trong và ngoài nước thực hiện
nhiều chuyến điều tra nghiên cứu. Tại khu vực rừng thuộc ba xã Cao Mã Pờ - Tả
Ván – Tùng Vài, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, chúng tôi đã bắt gặp và thu được
mẫu loài này. Sau khi so sánh đối chiếu với các mẫu tiêu bản đã định tên và các tài
liệu mô tả về loài, xác định đây chính xác là loài Michelia citrata, đóng góp thêm
dữ liệu về vùng phân bố của loài. Hiện dự án đã thu được một khối lượng hạt và các
dữ liệu khác nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, bảo tồn loài.
Hiện nay tại Việt Nam có 22 loài thuộc chi Michelia L. [50] đã được công
nhận:
1. Michelia x alba Candolle
2. Michelia baillonii (Pierre) Finet & Gagnep.
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 10 K20 Sinh học
3. Michelia balansae (A. DC.) Dandy
4. Michelia braianensis Gagnep.
5. Michelia champaca L.
5.1. Michelia champaca var. champaca
5.2. Michelia champaca (L.) var. pubinervia (Blume) Miquel
6. Michelia chapaensis Dandy
7. Michelia citrata (Noot. & Chalermglin) Q. N. Vu and N. H. Xia
8. Michelia figo (Lour.) Spreng.
9. Michelia flaviflora Y. W. Law & Y. F. Wu
10. Michelia floribunda Finet & Gagnep.
(CR - Critically Endangered), Nguy cấp (EN - Endangered), Sẽ nguy cấp (VU -
Vulnerable), Gần nguy cấp (NT – Near Threatened), Ít lo ngại (LC – Least
Concern), Thiếu dẫn liệu (DD - Data Deficient), Không đánh giá (NE - Not
Evaluated) [58].
Việt Nam trở thành quốc gia thành viên của IUCN vào năm 1993. Dựa trên
các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, Chính phủ Việt Nam cũng
công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh
vật. Đây cũng là tài liệu khoa học được sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các
quy định, luật pháp của Nhà nước về việc quản lý bảo vệ và phát triển những loài
động thực vật hoang dã quý hiếm ở Việt Nam. Đây là công trình do Viện Khoa học
và Công nghệ Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
phối hợp với IUCN thực hiện với sự tài trợ của quỹ SIDA (Thụy Điển). Sách đỏ
Việt Nam được công bố lần đầu tiên năm 1992, phần Động vật với 365 loài trong
danh mục. Phần Thực vật được xuất bản năm 1996 với 356 loài nằm trong danh
mục. Phiên bản mới nhất hiện nay là Sách đỏ Việt Nam 2007, được công bố vào
ngày 26/6/2008, theo đó, hiện nay tại Việt Nam có 882 loài (418 loài động vật và
464 loài thực vật) đang bị đe dọa ngoài tự nhiên. Trong số đó có 8 loài thuộc họ
Ngọc lan nằm ở mức Nguy cấp và Sẽ nguy cấp. Ngoài Sách đỏ Việt Nam 2007,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam còn ban hành Danh lục đỏ Việt
Nam 2007. Bên cạnh Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ Việt Nam, Chính phủ còn
ban hành nhiều bộ luật, thông tư, nghị định về việc quản lý bảo vệ các loài động
thực vật hoang dã quý hiếm, có thể kể đến như: Luật Đa dạng Sinh học năm 2008;
Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 12 K20 Sinh học
nguy cấp, quý hiếm; Danh mục các loài Động, Thực vật hoang dã thuộc quản lý của
Công ước về buôn bán quốc tế các loài Động, Thực vật hoang dã nguy cấp năm
Từ Bảo Ngân 13 K20 Sinh học
Chƣơng 2 – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI
VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Khu vực xã Tùng Vài nơi chúng tôi nghiên cứu nằm vào dự án xây dựng khu
bảo tồn Voọc mũi hếch và Ngọc lan thuộc ba xã Cao Mã Pờ - Tả Ván – Tùng Vài
(gọi tắt là Cao Tả Tùng), chương trình hợp tác giữa Tổ chức Động thực vật quốc tế
(FFI), Trung tâm Bảo tồn Thực vật (CPC) và Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Giang đã
được UBND tỉnh Hà Giang phê duyệt. Trên cơ sở tham khảo các tài liệu của Tổ
chức Động thực vật quốc tế (FFI) và Trung tâm Bảo tồn thực vật (CPC), theo “Báo
cáo nghiên cứu khảo sát thuộc kế hoạch hành động bảo tồn loài Voọc mũi hếch và
Ngọc lan dựa vào địa phương tại vùng rừng ba xã Cao Mã Pờ - Tả Ván – Tùng Vài
(giai đoạn 2011 – 2016)” [8,11], các nhà khoa học đã công bố:
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Xã Tùng Vài, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, có tọa độ địa lý: 23
0
02'42'' độ
vĩ Bắc, 104
0
52'15'' độ kinh Đông, với độ cao 1040 m trên mặt nước biển, diện tích
toàn xã 74,15 km
2
. Phía Bắc giáp xã Cao Mã Pờ, xã Nghĩa Thuận; phía Đông giáp
xã Thanh Vân, thị trấn Tam Sơn, xã Quyết Tiến; phía Nam giáp xã Minh Tân (Vị
Xuyên), xã Tả Ván; phía Tây giáp Hạt Ma-li-po, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
Khu rừng thực hiện nghiên cứu thuộc vùng rừng ba xã Cao Mã Pờ - Tả Ván
– Tùng Vài của huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Nơi đây được xác định là rừng
phòng hộ đầu nguồn theo quyết định số 2104/QĐ-UBND ngày 01 tháng 08 năm
một cán bộ kiểm lâm địa bàn, chịu trách nhiệm báo cáo cho Hạt Kiểm lâm. Do cả 3
xã nằm ở gần biên giới với Trung Quốc nên có 1 đồn biên phòng (Đồn 193) có trụ
sở ở trung tâm xã Tùng Vài. Đồn biên phòng này có trách nhiệm tuần tra, giữ gìn an
ninh khu vực biên giới.
2.1.2. Địa hình địa thế và đặc điểm khu hệ thực vật
Địa hình chủ yếu ở khu vực này là các đồi và dải đá vôi cổ rộng lớn, rắn như
cẩm thạch, thuộc cuối kỷ Paleozoic và đầu kỷ Mesozoic. Đây là vùng núi với đặc
trưng rừng lá rộng thường xanh và rừng trên núi đá vôi ở độ cao từ 1000 đến 1700
m trên mực nước biển. Khu vực nghiên cứu nằm trên núi Tà Bốc với tọa độ địa lý
23
0
03
‟
18‟‟ độ vĩ Bắc, 104
0
50‟53‟‟ độ kinh Đông, độ cao nơi cắm trại là 1307 m, từ
đó tiến hành nghiên cứu ở các độ cao khác: 1313, 1320, 1357, 1364, 1371, 1389 và
1395 m trên mực nước biển.
Trong khu vực nghiên cứu, còn sót lại một vài mảnh rừng kín nguyên sinh
thường xanh lá rộng nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi ở độ cao từ 1300 – 1400 m ở
các thung lũng, núi thấp, sườn dốc hoặc các đỉnh núi. Dựa vào địa hình hoặc môi
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 15 K20 Sinh học
trường xung quanh, có thể chia thảm thực vật ở đây thành hai loại là: thực vật ở
thung lũng núi đá vôi, và thực vật trên sườn dốc và đỉnh núi đá vôi.
- Thảm thực vật ở thung lũng núi đá vôi: khu vực này địa hình chủ yếu bằng
phẳng trên nền đất sét phù sa. Đất phong hóa từ đá vôi thường sẫm, ẩm và giàu
hai xã Cao Mã Pờ và Tả Ván tiếp giáp với rừng và nhu cầu về tài nguyên rừng, canh
tác trong rừng chủ yếu từ những người dân ở đây. Vị trí của các thôn này được mô
tả ở Hình 1. Hình 1. Vị trí của 7 thôn (Vàng Chá Phìn, Vả Thàng 2, Tả Ván, Chúng Trải,
Lò Suối Tủng, Tùng Vài Phìn và Bản Thăng) sống dựa vào rừng
Cao Mã Pờ - Tả Ván - Tùng Vài (Nguồn: FFI)
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 17 K20 Sinh học
Phần lớn dân cư ở các thôn này là đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống kinh tế
và cơ sở hạ tầng còn hết sức khó khăn. Số liệu nhân khẩu học tổng quát ở các thôn
này được trình bày ở Bảng 1.
Bảng 1. Số liệu nhân khẩu học tổng quát ở 7 thôn sát rừng (năm 2010)
Xã/Thôn
Số hộ gia
đình
Dân tộc
Số (%) hộ
nghèo
Cao Mã Pờ
- Vàng Chá Phìn
40
Hán
46
- Lò Suối Tủng
92
H‟Mông, Nùng
67
2.2.2. Sinh kế
Ở huyện Quản Bạ, thu nhập trung bình là 6.000.000 VNĐ/người/năm vào
năm 2010 (Nghị quyết số 09/NQ-HĐND của Hội Đồng Nhân Dân huyện Quản Bạ.
2010). Ở các thôn Bản Thăng và Tùng Vài Phìn của xã Tùng Vài, thu nhập trung
bình hàng năm là 24.350.000 VNĐ/1 hộ gia đình vào năm 2008, cao hơn nhiều thu
nhập trung bình của huyện (khi đó trung bình khoảng 4.000.000 VNĐ/người/năm).
Trong số đó, 7% thu nhập là từ việc bán các lâm sản, phần còn lại từ nông nghiệp
và chăn nuôi với tỉ lệ tương đương. Tuy nhiên, thông tin do Phòng NN&PTNT
Luận văn thạc sĩ 2014 Từ Bảo Ngân 18 K20 Sinh học
huyện cung cấp và qua phỏng vấn tại xã, thôn lại cho thấy rằng việc canh tác Thảo
quả và Hương thảo là các nguồn thu lớn nhất của người dân tại các xã Tùng Vài,
Cao Mã Pờ, Tả Ván.
Hoạt động sản xuất lương thực chính ở xã là lúa, ngô và đỗ tương. Ở đây chỉ
có duy nhất thôn Bản Thăng có hệ thống nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông
nghiệp, các thôn còn lại đều không có. Ngoài các cây lương thực chính, các hộ gia
đình còn trồng bí, rau cải, đỗ để phục vụ nhu cầu của các hộ gia đình và đót, sắn,
cỏ để phục vụ cho chăn nuôi. Chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà, vịt. Tuy nhiên,
do khí hậu lạnh nên hàng năm đều có hiện tượng trâu bò chết do nhiễm lạnh và
bệnh dịch. Chăn nuôi lợn, gà, vịt chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tại chỗ của địa
phương. Cây trồng đem lại nguồn thu nhập chính cho các hộ gia đình nơi đây là
Số hộ trồng
Thảo quả gần
sinh cảnh
VMH
Số hộ trồng
Hƣơng thảo
& diện tích
Số hộ trồng
Hƣơng thảo
gần sinh
cảnh VMH
Cao Mã Pờ
- Vàng Chá Phìn
80% (56 ha)
15-20% (2 ha)
- Vả Thàng 2
49% (145
ha)
8% (14 ha)
Tùng Vài
329ha
ở đất Tùng Vài)
2.2.3.1. Canh tác Hương thảo
Hương thảo là một loại thảo dược dưới tán rừng, được thương lái Trung
Quốc đưa vào xã Tùng Vài từ 10 hoặc 12 năm trước và người dân nhanh chóng thấy
rằng nguồn lợi từ nó cao hơn từ Thảo quả. Mặc dù cho giá bán của Hương thảo chỉ
là 100.000 - 120.000 VNĐ/kg, giá của 1 kg Thảo quả là khoảng 150.000 VNĐ -