SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI VÀO DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THCS SƠN LÂM"
1
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI :
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang có sự chuyển mình thì nguồn lực con người
càng trở nên quan trọng. Hơn bao giờ hết giáo dục đã trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, tham gia quyết định vào việc cung cấp những con người có đủ phẩm chất và năng
lực để hoàn thành tốt sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong quá trình
ấy, môn GDCD là một môn học có vị trí rất đặc biệt, bởi lẽ đây không chỉ là môn cung
cấp cho học sinh những kiến thức mà nó còn có vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển nhân cách của học sinh. Cùng với sự phát triển của xã hội, nền kinh tế tri thức ngày
càng chiếm ưu thế. Chính trong xu hướng ấy, nhiều bậc phụ huynh, nhiều học sinh chỉ
chú tâm vào vấn đề học chữ, học văn hoá để được đỗ đạt thành tài mà quên đi hoặc
không quan tâm đến vấn đề giáo dục và rèn luyện đạo đức cho con em của mình. Tuy
nhiên như Bác Hồ đã từng nói : "Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà
không có tài thì làm việc gì cũng khó"
Như chúng ta đã thấy trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang trên đường hội nhập và
phát triển, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhiều nền văn hoá bên ngoài cũng du
nhập vào nước ta. Ở đó có những mặt tốt, tích cực nhưng cũng có không ít hạn chế,
không phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam. Tuy vậy, một số bạn trẻ vẫn
tiếp thu một cách không chọn lọc làm cho văn hoá Việt dường như bị "hoà tan" trong
giới trẻ. Đặc biệt, hiện nay đạo đức của con người nói chung và giới trẻ nói riêng đang bị
xuống cấp trầm trọng, đáng lên tiếng. Vậy nguyên nhân từ đâu ? Trách nhiệm thuộc về
ai ? Có phải từ việc thiếu quan tâm giáo dục đạo đức cho học sinh của cha mẹ, thầy cô và
xã hội. Bộ môn GDCD ở trường THCS là một môn học rất quan trọng trong việc giáo
dục đạo đức, hình thành nhân cách cho học sinh. Rèn luyện cho học sinh những kỹ năng
sống trong chính môi trường sống của bản thân để các em có thể giao tiếp tốt, biết tư duy,
phê phán, lựa chọn cái đúng đắn, lên án cái sai Mặc dù vậy hiện nay học sinh không
hứng thú học tập môn học này. Nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên chính là việc sử
lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm được vận dụng phương pháp trò chơi trong các hoạt
động dạy học, còn lớp đối chứng không sử dụng phương pháp trò chơi. Kết quả cho thấy
tác động có ảnh hưởng lớn đến hứng thú và kết quả học tập của học sinh. Điểm trung
bình sau tác động của lớp thực nghiệm là 6,66 còn lớp đối chứng là 5,73 và kết quả kiểm
chứng T-test cho thấy p = 0,002 (P < 0,05) chứng tỏ tác động là có ý nghĩa. Điều này
chứng minh rằng việc vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học môn GDCD ở trường
THCS Sơn Lâm đã làm tăng hứng thú và kết quả học tập của học sinh.
II. GIỚI THIỆU :
1. Thực trạng :
Như chúng ta đã biết ngành giáo dục đã trải qua rất nhiều cuộc cải cách giáo dục và đã
phấn đấu thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng phù hợp với yêu cầu của các giai
đoạn cách mạng mới. Tuy nhiên, ngành giáo dục vẫn còn trăn trở là những chỉ giáo của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về phương pháp đào tạo tuy có được nghiên cứu, ứng
dụng vào thực tiễn cũng như đời sống hằng ngày nhưng chưa đạt kết quả như mong
3
muốn. Vì sao vậy? Có rất nhiều lí do dẫn đến việc giáo dục bộ môn nhân cách cho học
sinh chưa đạt hiệu quả cao.
Trước hết phải kể đến đó là việc xã hội, gia đình và bản thân ngành giáo dục còn chú
trọng các môn khoa học nhằm nâng cao trí tuệ mà chưa chú ý nâng cao nhân cách cho
học sinh nghĩa là chỉ chú ý rèn tài mà chưa chú ý rèn đức. Biểu hiện cụ thể mà ai cũng
thấy rõ là môn GDCD chưa bao giờ được Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp vào môn thi tốt
nghiệp hay vào cấp III dù chỉ một lần. Điều này làm cho giáo viên và học sinh chủ quan,
chỉ ý thức được rằng miễn là dạy học đủ bài, đúng chương trình. Chính môn GDCD
không được chọn vào các môn thi trong các kì thi quan trọng nên sách tham khảo, sách
bài tập còn ít, đặc biệt là sách viết về phương pháp dạy học bộ môn này thì càng hiếm.
Một vấn đề nữa là lượng thời gian dành cho bộ môn này còn ít (1 tuần / 1 tiết). Sách mới
viết hiện nay nội dung rất phong phú, hợp với trình độ học sinh nhưng nếu giáo viên dạy
bộ môn mà không có sự đầu tư thì giờ học sẽ rất nhàm chán, thậm chí học sinh không chú
ý lắng nghe. Thực trạng cho thấy, học sinh chưa hứng thú học bộ môn này. Thông qua
việc dự giờ các lớp và tình hình giảng dạy chung của giáo viên các khối lớp, tôi nhận
sẽ vận dụng kiến thức đã học vào việc lựa chọn cho mình cách giải quyết, ứng xử tình
huống đúng đắn, phù hợp. Giúp học sinh rèn luyện được kỹ năng sống cho bản thân &
hình thành năng lực quan sát, được rèn luỵện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của
người khác là phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Bằng trò
chơi, việc luyện tập hành vi đạo đức được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động,
không khô khan, nhàm chán. Học sinh được lôi cuốn vào quá trình học tập một cách tự
nhiên làm nâng cao hứng thú học tập, giúp các em giải trừ được những mệt mỏi, căng
thẳng trong học tập. Như vậy, rõ ràng khi sử dụng phương pháp trò chơi cũng như các
phương pháp dạy học tích cực khác đã phát huy một cách tốt nhất tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh. Bồi dưỡng năng lực tự học, tự khám phá, tự tìm hiểu,
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ở học sinh. Không chỉ thế, nó còn tác
động trực tiếp đến tình cảm, thái độ đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập cho các em,
làm cho các em cảm thấy thích thú học tập, yêu môn học, yêu trường lớp hơn. Với tác
dụng và hiệu quả mà phương pháp trò chơi mang lại đối với việc dạy và học môn GDCD,
vấn đề này cũng được một số giáo viên quan tâm nghiên cứu.
3. Một số đề tài gần đây:
Về vấn đề tạo hứng thú học tập bằng cách vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy
học đã có nhiều bài viết được trình bày. Ví dụ:
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Vận dụng các trò chơi trong dạy học môn GDCD, gây
hứng thú cho học sinh THCS” của giáo viên Nguyễn Hữu Thảo, Trường THCS EaTam,
Đăklak
- Sáng kiến kinh nghiệm: “Phương pháp thảo luận nhóm và tổ chức trò chơi trong giảng
dạy môn GDCD ở lớp 6” của nhóm giáo viên môn GDCD, Trường THCS Đông Lĩnh,
Đông Hưng, Thái Bình.
5
- Sáng kiến kinh nghiệm: “ Những phương pháp tạo hứng thú trong dạy học môn GDCD
ở bậc THCS” của Trần Tuấn Anh, giáo viên Trường THCS Bạch Đằng, quận 3, Tp. Hồ
Chí Minh.
- Sáng kiến kinh nghiệm: “Sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi trong môn GDCD ở
Trường THCS” của GV Hoàng Thế Nhân, Trường THCS Phan Chu Trinh, Krôngbông,
Lớp 7A 33 13 20 1 32
Lớp 7B 32 18 14 2 30
2. Thiết kế nghiên cứu :
Chọn tất cả học sinh của 2 lớp 7A và 7B để thực hiện nghiên cứu. Lớp 7A là lớp được
chọn làm nhóm đối chứng, lớp 7B là lớp được chọn làm nhóm thực nghiệm. Tôi lấy bài
kiểm tra học kì I môn GDCD làm bài kiểm tra trước tác động để so sánh. Sau khi lấy kết
quả và so sánh thì thấy có sự chênh lệch. Do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm
chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của 2 nhóm trước khi tác động
Kết quả: p = 0,38 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm
thực nghiệm và nhóm đối chứng là không có ý nghĩa. Do đó, hai nhóm được xem như là
tương đương.
Sử dụng thiết kế : Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương
Thiết kế nghiên cứu :
Nhóm KT trước TĐ Tác động KT sau TĐ
Thực nghiệm
(7B)
O1
Vận dụng phương pháp
trò chơi vào dạy học
O3
Đối chứng
(7A)
O2
Không vận dụng phương
pháp trò chơi vào dạy
học
O4
Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập.
3. Quy trình nghiên cứu :
- Chuẩn bị bài của giáo viên : Tôi trực tiếp giảng dạy lớp đối chứng : Khi giảng dạy lớp
GDCD 7A &
7B
1&2
28
Quyền tự do tín
ngưỡng và tôn
giáo
4. Đo lường và thu thập dữ liệu :
Tôi sử dụng bài kiểm tra kết thúc học kì I làm bài kiểm tra trước tác động và bài kiểm tra
sau tác động là bài kiểm tra sau khi đã học xong ba bài : “Quyền bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục của trẻ em Việt Nam ; Bảo vệ di sản văn hoá ; Quyền tự do tín ngưỡng và tôn
giáo” do tôi trực tiếp thiết kế và giảng dạy. Bài kiểm tra sau tác động gồm 12 câu trắc
nghiệm và 03 câu tự luận
Tiến hành kiểm tra và chấm bài : Sau khi đã dạy xong 03 bài trên tôi đã cho học sinh làm
bài kiểm tra một tiết. Sau đó chấm bài theo đáp án
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU & BÀN LUẬN KẾT QUẢ :
1. Phân tích dữ liệu :
Bảng so sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Thực nghiệm Đối chứng
Điểm trung bình cộng 6,66 5,73
Độ lệch chuẩn 1,33 1,15
8
Giá trị P của T-test 0,002
Mức độ ảnh hưởng 0,81
2. Bàn luận kết quả:
Như ở phần thiết kế nghiên cứu, từ kết quả nghiên cứu ta đã chứng minh được rằng kết
quả của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng trước tác động là tương đương nhau. Sau
quá trình tác động và kiểm chứng sự chênh lệch giá trị trung bình bằng phép kiểm chứng
t-test đã cho ta kết quả p=0,002 (mà p <=0,05 là có nghĩa). Như vậy sự chênh lệch là có ý
nghĩa giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứng. Điều này đã chứng tỏ rằng việc tác động
dữ liệu. Dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch và kiểm tra mức độ
ảnh hưởng bằng bảng tiêu chí Cohen thì cho thấy rằng việc vận dụng phương pháp trò
chơi vào dạy học môn GDCD đã tạo ra giá trị trung bình chuẩn của hai nhóm với mức độ
ảnh hưởng của nó là lớn.
Như vậy, việc vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học môn GDCD ở trường THCS
Sơn Lâm đã làm tăng hứng thú và kết quả học tập của học sinh
2. Khuyến nghị :
- Các cấp, các nghành cần quan tâm hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo
đức và với bộ môn GDCD ở trường THCS.
- Lãnh đạo nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng
dạy học đối với môn GDCD, cần gắn môn GDCD với thực tế. Trong tiết dạy giáo viên
cần liên hệ thực tế nhiều để học sinh có những thức đúng đắn.
Tuy nhiên điều quan trọng nhất để chất lượng, hiệu quả học tập được nâng cao thì các
giáo viên phải không ngừng sáng tạo, tìm ra những trò chơi mới, những phương pháp phù
hợp để thu hút toàn bộ học sinh trong lớp tham gia và có thể hiểu bài một cách nhanh
chóng
PHỤ LỤC I
Tiết 22, bài 13 : QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ CHĂM SÓC & GIÁO DỤC CỦA TRẺ
EM VIỆT NAM
I. Mục tiêu :
1. Kiến thức :
- Nêu được một số quyền cơ bản của trẻ em được quy định trong luật bảo vệ chăm sóc và
giáo dục trẻ em
- Nêu được bổn phận của trẻ em trong gia đình, nhà trường và xã hội
10
- Nêu được trách nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội trong viẹc chăm sóc và giáo dục
trẻ em
2. Kỹ năng :
- Nhận biết được các hành vi vi phạm quyền trẻ em
- Biết xử lý các tình huống cụ thể có liên quan đến quyền và bổn phận của trẻ em
- Cách tiến hành :
- GV cho HS quan sát tranh ảnh về các hoạt
động chăm sóc, giáo dục trẻ em & những việc
làm thể hiện bổn phận của trẻ em
- HS quan sát
- GV cho HS nhận xét tranh ảnh
- HS nhận xét
(?) Theo em, trẻ em có những quyền & bổn
phận nào ?
- HS trả lời
- GV nhận xét, kết luận
- GV giới thiệu các văn bản pháp luật về quyền
& bổn phận của trẻ em :
+ Công ước Liên Hiệp Quốc
+ Hiến Pháp 1992
+ Luật bảo vệ chăm sóc & giáo dục trẻ em
+ Luật giáo dục
- HS chú ý lắng nghe
- GV gọi 1 HS đọc truyện “Một tuổi thơ bất
hạnh”
- 1 HS đọc – cả lớp lắng nghe
(?) Vì sao Thái có những hành vi vi phạm pháp
1) Một số quyền và bổn phận cơ bản
của trẻ em Việt Nam :
- Trẻ em có quyền được bảo vệ,
chăm sóc & giáo dục:
+ Quyền được bảo vệ : có quyền
được khai sinh và có quốc tịch, được
nhà nước & XH tôn trọng, bảo vệ
tính mạng, thân thể, nhân phẩm,
- GV dán hình 2 cây lên bảng (1 cây xanh tốt,
1 cây lá vàng úa)
+ Đội 1 (quả đỏ) : Tìm những biểu hiện đúng
về quyền và bổn phận của trẻ em
+ Đội 2 (quả xanh) : Tìm những biểu hiện sai
về quyền và bổn phận của trẻ em
- Các đội sẽ tìm biểu hiện viết vào các quả &
dán lên các cây đã quy định. Trong 5 phút đội
nào tìm được nhiều biểu hiện hơn đội đó sẽ
2) Những biểu hiện của quyền và
nghĩa vụ của trẻ em Việt Nam :
- Quyền : được học tập, dạy dỗ, vui
chơi giải trí, tham gia các hoạt động
văn hoá, thể thao
- Bổn phận : yêu Tổ quốc, tôn trọng
pháp luật, yêu quý, kính trọng ông
bà, cha mẹ, chăm chỉ học tập
3) Vai trò & trách nhiệm của gia
13
dành chiến thắng
- Các đội tham gia – HS cỗ vũ
- GV nhận xét, uốn nắn lệch lạc (nếu có) và kết
luận, tuyên dương đội chiến thắng
Hoạt động 3 :
Mục tiêu : Hiểu được vai trò, trách nhiệm của
gia đình, nhà nước, XH
- Cách tiến hành :
(?) Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là
trách nhiệm của ai ? Vì sao ?
- HS trả lời
A. Có B. Không C. Tuỳ vào địa phương
Câu 5 : Trẻ em phải có bổn phận gì ?
A. Yêu Tổ quốc C. Chăm chỉ học tập
B. Giúp đỡ gia đình D. Tất cả các ý trên
Câu 6 : Thực hiện quyền bảo vệ, chăm sóc & giáo dục trẻ em là trách nhiệm của ai ?
A. Cha mẹ B. Nhà nước C. Tất cả mọi người
- GV nhận xét, tuyên dương
5. Hướng dẫn về nhà :
- Thế nào là môi trường, tài nguyên thiên nhiên
- Kể tên các yếu tố môi trường ? Vai trò của môi trường ?
- Nguyên nhân gây o nhiễm môi trường ? Những quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường ?
15
PHỤ LỤC II
Tiết 25, bài 15 : BẢO VỆ DI SẢN VĂN HOÁ (Tiết 1)
I. Mục tiêu :
1. Kiến thức :
- Nêu được thế nào là di sản văn hoá
- Kể được tên một số di sản văn hoá ở nước ta
2. Kỹ năng :
- Nhận biết được các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ di sản văn hoá, biết đấu tranh
ngăn chặn các hành vi đó hoặc báo cho người có trách nhiệm biết để xử lý
- Tham gia các hoạt động giữ gìn, bảo vệ, tôn tạo các di sản văn hoá phù hợp với lứa tuổi
* Kỹ năng phân tích, so sánh sự giống và khác nhau giữa di sản văn hoá phi vật thể & di
sản văn hoá vật thể
* Kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo trong việc đề xuất biện pháp giữ gìn, phát
huy giá trị của di sản văn hoá
* Kỹ năng hợp tác đảm nhận trách nhiệm trong việc tham gia bảo vệ di sản văn hoá
3. Thái độ :
- Tôn trọng & tự hào về các di sản văn hoá của quê hương, đất nước
+ Di sản văn hoá : Mỹ Sơn
+ Bến nhà rồng
+ Vịnh Hạ Long
- GV chia lớp thành 4 nhóm thảo luận
+ Nhóm 1&2 : Em có nhận xét gì về 3 bức ảnh trên ?
+ Nhóm 3&4 : Phân loại đặc điểm 3 bức ảnh trên ?
- HS các nhóm thảo luận, cử đại diện trình bày
- GV nhận xét, kết luận
(?) Vậy thế nào là di sản văn hoá ?
- HS trả lời
1) Thế nào là di sản văn
hoá?
- Là sản phẩm tinh thần,
17
- GV nhận xét, kết luận
(?) Di sản văn hoá bao gồm những loại nào ?
- HS trả lời
- GV nhận xét, kết luận
(?) Thế nào là di sản văn hoá vật thể ? Cho ví dụ ?
- HS cho ví dụ
(?) Thế nào là di sản văn hoá phi vật thể ? Cho ví dụ ?
- HS trả lời
- GV nhận xét, kết luận
(?) Hãy so sánh sự giống & khác nhau giữa di sản văn hoá
vật thể & phi vật thể ?
- HS trả lời
- GV nhận xét, kết luận
Hoạt động 2 :
Mục tiêu : Giúp HS hiểu sâu sắc hơn về khái niệm di sản
văn hoá, kể được tên các di sản văn hoá vật thể & phi vật
(?) Kể tên 1 số di sản văn hóa trên thế giới mà em biết ?
- HS trả lời
- GV nhận xét, kết luận
(?) Địa danh nào của nước ta được công nhận là kì quan
thiên nhiên mới của thế giới ?
- HS trả lời
- GV nhận xét, kết luận & cho HS xem 1 số hình ảnh các
di sản văn hóa trên thế giới : Chùa hang (Ấn Độ), Kim Tự
Tháp (Ai Cập), Vạn lý trường thành (Trung Quốc)
4. Luyện tập – củng cố :
- Trò chơi : Ô chữ
- GV dán bảng phụ với ô chữ đã kẻ sẵn gồm 6 hàng ngang & 1 hàng dọc. HS sẽ được
chọn 1 ô hàng ngang tuỳ thích. Sau mỗi câu trả lời đúng GV sẽ mở đáp án & sau khi mở
6 ô hàng ngang sẽ tìm thấy được từ chìa khoá ở ô hàng dọc
H À N Ộ I
H Ộ I A N
L Ă N G B Á C
P H O N G N H A
N H A T R A N G
S À I G Ò N
19
1) Tên thủ đô của nước ta là gì ? (5 chữ cái ) → Hà Nội
2) Đây là 1 phố cổ thuộc tỉnh Quảng Nam đã được công nhận là di sản văn hoá thế giới ?
(5 chữ cái ) →Hội An
3) Một nơi rất tôn nghiêm mà khi nhắc đến Hà Nội người ta nghĩ ngay đến nơi này ? (7
chữ cái ) → Lăng Bác
4) Tên 1 hang động nổi tiếng được công nhận là di sản văn hoá thế giới thuộc tỉnh Quảng
Bình ? (8 chữ cái ) →Phong Nha
5) Tên 1 thành phố ở tỉnh ta được nhiều du khách trong & ngoài nước biết đến ? (8 chữ
cái ) → Nha Trang
III. Các bước lên lớp :
1. Ổn định lớp :
2. Kiểm tra bài cũ :
3. Bài mới :
*) Hoạt động khởi động :
- GV cho HS đóng vai tình huống : Hoà và An đang tranh luận với nhau về vấn đề tín
ngưỡng, mê tín dị đoan . Hoà bảo : Nhà mình có bàn thờ tổ tiên và thờ thần mặt trời, đó
21
là tín ngưỡng đấy. Nhưng An bảo : Không phải đâu, việc thờ cúng đó là mê tín dị đoan,
chứ tín ngưỡng gì vì trên đời này làm gì có thần thánh, ma quỷ. Vậy để biết được ý kiến
của Hoà hay An đúng, chúng ta cùng tìm hiểu bài mới.
Hoạt động của giáo viên & học sinh Nội dung ghi bảng
Hoạt động 1 :
Mục tiêu : Giúp HS hiểu được thế nào là tín ngưỡng & tôn
giáo
- Cách tiến hành :
- GV gọi 1 HS đọc thông tin “Tình hình tôn giáo ở Việt
Nam”
- HS đọc
- GV chia lớp thành 4 nhóm thảo luận
+ Nhóm 1&2 : Tình hình tôn giáo ở Việt Nam như thế nào ?
+ Nhóm 3&4 : Nhận xét về ưu, nhược điểm của tôn giáo ở
nước ta?
- HS các nhóm thảo luận, cử đại diện trình bày
- GV nhận xét, kết luận
- GV liên hệ thực tế để giải thích cho HS hiểu vì sao có tín
ngưỡng & 1 số vấn đề vế tín ngưỡng
(?) Vậy theo em tín ngưỡng là gì ?
- HS trả lời
- GV nhận xét, kết luận
câu hỏi nếu chọn câu trả lời đúng sẽ đưa cao mặt cười, nếu
trả lời câu hỏi là sai sẽ đưa cao mặt khóc.
1. Mùng năm, mười bốn, hăm ba
Đi chơi còn lỗ huống là đi buôn
là một hình thức mê tín dị đoan ?
2. Tôn giáo hay tín ngưỡng đều tin vào những điều nhảm
nhí ?
3. Các tôn giáo đều có chung mục đích “làm lành tránh
dữ” ?
4. Mê tín dị đoan sẽ gây tổn hại lớn cho cá nhân, gia đình,
XH ?
5. Tín ngưỡng hay tôn giáo đều tin vào một cái gì đó rất
thần bí ?
6. Tín ngưỡng & tôn giáo là một ?
- Tôn giáo là một hình
thức tín ngưỡng có hệ
thống tổ chứ, với quan
niệm, giáo lý thể hiện rõ
sự tín ngưỡng với những
hình thức, lễ nghi thể
hiện sự sùng bái ấy.
3) Thế nào là quyền tự
do tín ngưỡng, tôn
giáo ?
23
- GV nhận xét, tuyên dương HS có nhiều câu trả lời đúng
Hoạt động 2 :
Mục tiêu : Giúp HS hiểu được thế nào là quyền tự do tín
ngưỡng tôn giáo
- Cách tiến hành :
“Phóng viên” có thẻ phỏng vấn bất cứ bạn nào
1) Đi nhà thờ, đọc kinh, thờ chúa trời là biểu hiện của đạo nào ?
2) Thờ chúa, thờ phật là biểu hiện của tôn giáo hay tín ngưỡng ?
3) Tin vào một cái gì đó thần bí nhưng không có tổ chức, không có giáo lí gọi là
gì ?
24
4) Nước ta có bao nhiêu % dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ?
5) Tất cả các tôn giáo, tín ngưỡng đều có mục đích chung là gì ?
6) Nhà nước ta đã có chính sách gì đối với tín ngưỡng, tôn giáo ?
5. Hướng dẫn về nhà :
- Tìm hiểu những quy định của pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Xem trước các bài tập ở Sgk
- Học thuộc bài cũ
25