Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác dưới góc nhìn liên văn bản - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRẦN VÂN TRANG SÔNG CÔN MÙA LŨ
CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC
DƢỚI GÓC NHÌN LIÊN VĂN BẢN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, năm 2014

Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ MINH HIỀN
tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đã và đang nhận được sự quan tâm
khám phá của nhiều nhà phê bình nghiên cứu.
Từ 1986 trở đi, hàng loạt tiểu thuyết lịch sử theo hướng mới
gây được tiếng vang như Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Bão
táp triều Trần (Hoàng Quốc Hải), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Gió
lửa (Nam Dao)… Một trong những thành công ấy phải kể đến
Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác. Tác phẩm hấp dẫn
không phải bởi sự ồn ào, chấn động của các sự kiện, tình tiết trung
thành với quá khứ hào hùng; mà bằng con đường nhẹ nhàng, chậm
rãi nhưng thâm sâu, ý vị để khám phá những trở trăn, giằng xé của
con người trước và sau mỗi sự kiện lịch sử, kiến tạo lớp nhân vật
lịch sử và hư cấu cùng việc xây dựng đời sống tâm linh người Việt
trên cơ sở tích hợp, chuyển hóa nhiều “tiền văn bản”. Con người
trong Sông Côn mùa lũ là hình ảnh chắt chiu từ những yếu tố đời
thường, những bản năng vốn có và những cốt lõi văn hóa; nó
2

không quá cao xa mĩ lệ như lịch sử khắc ghi mà vừa tầm với của
mọi bạn đọc, vừa đủ khoảng cách để độc giả chiêm nghiệm, đối
thoại và xây dựng hình tượng nhân vật lịch sử cho riêng mình.
Nghiên cứu Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác là cơ hội
vừa khám phá tác phẩm nói riêng, vừa kiểm chứng và bổ sung
thêm nhận thức về tiểu thuyết lịch sử đương đại.
Từ khi ra mắt bạn đọc đến nay, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về Sông Côn mùa lũ; tuy nhiên, hướng đi liên văn bản
lại ít được lưu tâm. Soi chiếu bộ trường thiên tiểu thuyết theo lý
thuyết liên văn bản, chúng tôi hi vọng sẽ giải mã được ý nghĩa của
các tầng vỉa văn hóa, lịch sử, địa lý… được hòa quyện nhuần
nhuyễn trong tác phẩm ở phương diện nội dung và nghệ thuật.
Đó là những lí do chúng tôi chọn đề tài “Sông Côn mùa

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các “tiền văn bản” có ảnh hưởng quan trọng chi phối nội
dung và nghệ thuật Sông Côn mùa lũ và sự vận dụng các “tiền văn
bản” đó vào tác phẩm.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, gồm
2 tập, do Nhà xuất bản Văn học - Trung tâm nghiên cứu quốc học
xuất bản năm 2003.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp phân tích – tổng hợp:
4

Xem xét, đánh giá, lí giải các yếu tố “tiền văn bản” trong
tác phẩm
4.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu:
So sánh sự “gặp gỡ” về chủ đề, đề tài hình tượng nhân vật
Nguyễn Huệ của Sông Côn mùa lũ với các tác phẩm của Nguyễn
Mộng Giác và của một số nhà văn khác như Giàn thiêu (Võ Thị
Hảo), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh)
4.3. Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Để nghiên cứu tác phẩm Sông Côn mùa lũ dưới góc nhìn
liên văn bản, cần phải sử dụng thêm các phương pháp nghiên cứu
văn hóa, lịch sử như chọn mẫu, so sánh lịch sử
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Tài liệu tham khảo; Nội
dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác trong
dòng chảy tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986
Chương 2: Liên văn bản trong Sông Côn mùa lũ của

đời ngày 2 tháng 7 năm 2012. Cuộc đời của nhà văn là những cuộc
dịch chuyển không ngừng nghỉ giữa ba nơi Bình Định – Huế - Sài
Gòn. Nhưng con người của ông vẫn đậm đà bản tính “thàng hậu”
của người dân xứ Nẫu.
1.1.2. Hành trình sáng tạo nghệ thuật – một “giấc mộng”
dài bị đứt quãng
6

Hành trình sáng tạo của Nguyễn Mộng Giác cũng không
“xuôi chèo mát mái”, đó là một “giấc mộng” dài bị đứt quãng.
Những năm 70 của thế kỉ trước, văn đàn ghi nhận tên tuổi Nguyễn
Mộng Giác qua các bài viết đăng trên tạp chí Bách Khoa, gồm
năm tác phẩm: Nỗi băn khoăn của Kim Dung (tiểu luận, 1972),
Bão rớt (truyện ngắn, 1973), Tiếng chim vườn cũ (truyện dài,
1973), Qua cầu gió bay (truyện dài, 1974), Đường một chiều (hay
Bóng thuyền say – truyện dài, 1974). Sau khoảng bốn năm ngừng
viết, nhà văn sáng tác trở lại và trong 4 năm (từ 1977 đến 1981) bộ
trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ đã ra đời. Những năm
sau đó, Nguyễn Mộng Giác có thêm 2 tập truyện ngắn Ngựa nản
chân bon (1984), Xuôi dòng (1987) và bộ tiểu thuyết thứ hai Mùa
biển động gồm tập I (Những đợt sóng ngầm), tập II (Bão nổi), III
(Mùa biển động), IV (Bèo Giạt), V (Tha hương) lần lượt được viết
vào những năm 1982, 1985, 1986, 1988, 1989. Ngoài ra, Nguyễn
Mộng Giác còn có một tập tiểu luận Nghĩ về Văn học hải ngoại
(2003); một tạp luận Bạn Văn, một thuở (2005). Hành trình sáng
tạo của Nguyễn Mộng Giác chấm dứt vào năm 2004.
Có thể nói, các tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác bao gồm
nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài, tiểu luận, tạp
luận, tiểu thuyết… Tuy nhiên, nhà văn vẫn khẳng định mình ở thể
loại trường thiên tiểu thuyết,

8

Theo Nguyễn Mộng Giác, “bộ trường thiên tiểu thuyết phải
là một bức bích họa lớn của một thời đại, do đó phải trải dài trên
một không gian và thời gian rộng, bao trùm lên số phận của nhiều
người” [25, tr.172]. Vì vậy, trong tiểu thuyết lịch sử của mình, ông
chọn thời điểm chiến tranh – một không gian đầy ma lực xô đẩy
con người bộc lộ tất cả khả năng và chân tướng của mình.
Khi bắt tay viết tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Mộng Giác luôn
tự nhắc nhở mình: “Đừng để cho sự kiện lịch sử lấn át đời sống”.
Để dung hòa giữa sự thật (lịch sử) và hư cấu (tiểu thuyết), nhà văn
đã dụng công xây dựng nhân vật ở hai góc nhìn: trí – thức – hóa
và hiện thực tâm lí xã hội.
1.3. SÔNG CÔN MÙA LŨ – MỘT DẤU ẤN MỚI CỦA TIỂU
THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM
1.3.1. Những cách tân cơ bản của tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam sau Đổi mới
Ở phương diện nội dung, tiểu thuyết lịch sử nhào nặn lại
lịch sử trong cảm hứng thế sự - hiện đại. Hệ quả là tiểu thuyết lịch
sử đã rút ngắn khoảng cách sử thi trong khi tiếp cận các nhân vật
lịch sử. Từ đó có sự nới rộng đa dạng và phức tạp hệ chủ đề mà
nổi bật là ba chủ đề: khát vọng tự do, khát vọng tình yêu và những
trăn trở về số phận con người.
Ở phương diện nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử có sự cách
tân tương xứng khi đặt nguyên tắc đối thoại lên hàng đầu. Điều
này giúp độc giả không còn tiếp nhận “thụ động” lịch sử mà biết
“phản biện”, “chất vấn” để được hiểu lịch sử theo quan điểm của
mình. Bên cạnh đó, sự gia tăng tính đối thoại khiến việc lựa chọn,
9


chùa, Bão táp triều Trần, Giàn thiêu Vì vậy, Sông Côn mùa lũ
“gặp gỡ” với khoảng 17 tác phẩm viết về triều đại Tây Sơn –
Quang Trung – Nguyễn Huệ. Sự “gặp gỡ” này không phải ngẫu
nhiên mà là một quá trình tiếp nhận, thẩm thấu và tự giác ngộ của
Nguyễn Mộng Giác. Cho nên, giai đoạn tao loạn thời Tây Sơn và
người anh hùng Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ có sự “va
đập” với nhiều trường liên tưởng trong các tác phẩm khác ở cả hai
mặt kế thừa và tiệm tiến.
Cuốn tiểu thuyết còn cùng “tần số” với các tác phẩm khác
(Hồ Quý Ly, Hội thề, Gió lửa, Giàn thiêu ) ở đề tài người trí
thức. Người trí thức trong Sông Côn mùa lũ là những con người
vừa kiêu hãnh với vị thế xã hội vừa mặc cảm lạc lõng trong ý thức
sâu xa về nhân cách, về bản thể, về mối quan hệ với cộng đồng.
Bên cạnh đó, Nguyễn Mộng Giác còn tự “liên đới” đề tài trí thức
trong các tác phẩm của mình (Mùa biển động, Ngựa nản chân
bon, Dư sinh, Ngựa đá sang sông, Trái tim bên phải ).
11

Ngoài hai đề tài lớn trên, trong Sông Côn mùa lũ, chúng tôi
còn tìm thấy hệ thống các đề tài nhỏ lẻ nằm xen kẽ rất quen thuộc
trong văn chương Việt như đề tài người phụ nữ, tình yêu chiến
tranh, tình thầy trò, tình bằng hữu
2.1.2. Ở chủ đề
Chủ đề bao trùm Sông Côn mùa lũ là thân phận con người
trong “dòng lũ” loạn lạc chiến tranh. Do đó, tiểu thuyết “gặp gỡ”
rất nhiều tác phẩm khác ở việc khám phá thế giới nội tâm con
người (Đám cưới không có giấy giá thú, Thiên sứ, Nỗi buồn chiến
tranh, Bến không chồng, Ăn mày dĩ vãng, Cánh đồng bất tận,
Người Sông Mê, Ngồi, Cơ hội của Chúa, ).
Khu biệt phạm vi giao thoa, Sông Côn mùa lũ “chung

bọn con buôn, nông dân trước những biến thiên của xã hội. Do
đó, dù viết về đề tài lịch sử, Sông Côn mùa lũ vẫn là một cuốn tiểu
thuyết đúng chất.
2.2.2. Bức tranh đời thƣờng – sự kết hợp tƣ duy văn
chƣơng hiện đại – dã sử – văn hóa
Sông Côn mùa lũ tồn tại một hiện thực sinh hoạt rộng lớn từ
sự tương tác có ý thức lẫn vô thức của tư duy văn chương hiện đại
– dã sử – văn hóa. Tư duy tiểu thuyết xóa bỏ “khoảng cách sử thi”
(M.Bakhtin), soi chiếu con người ở góc độ cá nhân và xem các giá
trị chỉ mang tính tương đối và hoàn toàn có thể thay đổi. Nó sẽ
điều phối sự chọn lựa dã sử và phát huy vốn văn hóa (cả ý thức lẫn
tiềm thức) của Nguyễn Mộng Giác. Nguồn tư liệu dã sử sẽ bổ
13

sung “khoảng trắng” lịch sử. Vốn văn hóa trong Sông Côn mùa lũ
tiếp biến văn hóa gốc nông nghiệp và tri thức văn hóa của Nguyễn
Mộng Giác. Những yếu tố “tiền văn bản” trên không đứng riêng
lẻ, tách biệt mà “va đập” bổ khuyết cho nhau để định hình 2 lớp
hiện thực là bức tranh văn hóa vùng miền và đời sống kinh tế - xã
hội nghèo nàn bức bách của người dân thời Tây Sơn nhưng họ
luôn biết ứng biến linh hoạt với mọi hoàn cảnh để tạo niềm vui,
không khí phấn khởi trước vận hội mới của dân tộc.
Sự kết hợp giữa tư duy tiểu thuyết với dã sử và văn hóa
chứng tỏ rằng bên cạnh giá trị lịch sử, Sông Côn mùa lũ còn có giá
trị văn hóa, nhân đạo, hiện thực.
2.2.3. Đời sống tâm linh – sự nối kết tôn giáo và tín
ngƣỡng dân gian
Trong văn hóa Việt, đời sống tâm linh được biểu hiện ở hai
yếu tố tín ngưỡng dân gian và sự tiếp biến tư tưởng Nho – Phật –
Đạo. Tín ngưỡng dân gian bao gồm tín ngưỡng sùng bái thiên

Sơn và chuyện gia đình giáo Hiến. Từ đó, phái sinh thêm nhiều
câu chuyện đời khác. Việc xác định các “văn bản” đan xen theo
kết cấu “truyện lồng truyện” có ý nghĩa bổ sung lịch sử, làm giàu
hiện thực đời tư của con người.
Dưới góc nhìn liên văn bản, kết cấu trong Sông Côn mùa lũ
còn được hiểu là sự đan cài nhiều lớp diễn ngôn của các lĩnh vực
như văn hóa, quân sự, chính trị, kinh tế, tôn giáo, tâm lí, lịch sử,
địa lí, âm nhạc… Mỗi diễn ngôn có một tác dụng riêng trong việc
tường thuật lịch sử và khai thác tính cách, tâm trạng nhân vật.
Với dung lượng đồ sộ của tiểu thuyết, việc sử dụng hai lối
kết cấu này sẽ giúp Nguyễn Mộng Giác chuyển tải trọn vẹn những
luận giải của mình về nhiều nội dung vừa diễn ra ở quá khứ vừa
tồn đọng ở hiện tại.
3.1.2. Phục dựng lớp nhân vật lịch sử bằng sự hấp thụ tƣ
duy lịch sử hiện đại và nguyên lý văn hóa lƣỡng hợp
Nguyễn Mộng Giác đã tiếp thu và chuyển hóa những quan
điểm mới của Greg Dening, G. Lukacs, các nhà chủ nghĩa tân lịch
16

sử trong việc “viết lại lịch sử”. Vì thế, Nguyễn Nhạc, Nguyễn
Huệ, Nguyễn Lữ, giáo Hiến, Nguyễn Hữu Chỉnh, Trần Văn Kỷ,
Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Bá Lãm, Thọ Hương, Ngọc
Hân… không phải là con người lịch sử khách quan nữa mà là
những cá nhân có thể lí giải thỏa đáng sự hình thành tính cách, suy
nghĩ, số phận. Họ là nhân vật lịch sử nhưng đã “đầu thai” thành
nhân vật tiểu thuyết trong Sông Côn mùa lũ.
Nguyên lý văn hóa lưỡng hợp được biểu hiện ở hai phương
diện: lưỡng hợp văn hóa giao tiếp (ứng xử) và lưỡng hợp không
gian địa – văn hóa. Lưỡng hợp văn hóa giao tiếp giúp Nguyễn
Mộng Giác khai thác nhân vật lịch sử từ nhiều góc độ khác nhau

điển hình. Song, nhà văn còn chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa
truyền thống nên sự nổi loạn của Chinh dễ dàng rơi vào bi kịch.
Ngoài ra, tác giả Sông Côn mùa lũ còn kết hợp nguyên lí tính Mẫu
(văn hóa) cùng tư duy triết học hiện sinh để kiến tạo hệ thống
nhân vật nữ (An, cô Cúc, cô Sáu Nguyệt, thím Bảy Thìn, vợ viên
cai đội, người vợ trẻ, người vợ già, chị chủ quán…).
Sự hòa lẫn tư duy triết học hiện sinh với sử liệu và văn hóa
là biểu hiện của sự kết hợp giữa ý thức và tâm thức văn hóa của
Nguyễn Mộng Giác - một người luôn khát khao tìm lại những giá
trị văn hóa truyền thống của dân tộc khi đất nước sang một
chương mới.
18

3.2. NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
3.2.1. Tăng cƣờng tính đối thoại
Khả năng đối thoại của Sông Côn mùa lũ diễn ra trên hai
trục (theo J.Kristeva) là trục dọc (văn bản – ngữ cảnh) và trục
ngang (chủ thể viết – chủ thể nhận).
Khảo sát Sông Côn mùa lũ, trước hết chúng tôi nhận thấy có
sự đối thoại ở trục dọc qua hình thức tiểu thuyết đa thanh. Tác
phẩm dày đặc các lời hội thoại của nhân vật hữu danh (lịch sử +
hư cấu) và nhân vật vô danh (hư cấu). Mỗi đoạn đối thoại giữa các
nhân vật có thể xem là một văn bản khảm chứa nhiều “trích dẫn”
từ các văn bản khác có trước đó (ngữ cảnh). Những văn bản này
ảnh hưởng đến việc tường thuật tư tưởng, suy nghĩ hay nhận định
của nhân vật.
Dưới góc nhìn liên văn bản, tính đối thoại của Sông Côn
mùa lũ còn thể hiện ở trục ngang. Thông qua hội thoại của kiểu
nhân vật – tư tưởng, Sông Côn mùa lũ là một trường đối thoại lớn
giữa tác giả và độc giả về những vấn đề như quá khứ và hiện tại,

phần đời sống của dân thường bằng những lời ru, câu hát dân gian.
Có thể nói, công năng của nhiều thể loại được phát huy tối
đa để trợ giúp nhà văn trần thuật và luận giải những vấn đề có tính
lịch sử hoặc đơn giản là phản ánh một vài khía cạnh văn hóa và
đời sống dân thường.
20

3.2.3. Tích hợp nhiều lớp ngôn ngữ
Viết về đề tài lịch sử, việc sử dụng lớp ngôn ngữ quan
phương, cổ kính là điều hiển nhiên và cần thiết bởi nó góp phần
tạo độ tin cậy về mặt cứ liệu lịch sử, không khí thời đại lịch sử.
Sông Côn mùa lũ sử dụng lớp từ ngữ tái hiện mốc thời gian (đầu
năm Mậu Tý, năm Tân Mão, từ tháng 4 đến tháng 6 năm Đinh
Dậu…) giúp sự kiện lịch sử được xác tín, chân thật hơn. Bên cạnh
đó, còn có lớp từ xưng hô phù hợp với lễ giáo triều đình (bệ hạ,
trẫm, chúng thần, muôn tâu, dạ, bẩm, thưa…), cách gọi tên nhân
vật gắn liền với ngôi vị, chức tước (vua Thái Đức, Long Nhương
tướng quân, Chính Bình Vương, vua Quang Trung, tả quân đô đốc
Vũ Văn Nhậm, hữu quân đô đốc Nguyễn Hữu Chỉnh…). Có thể
nói, việc sử dụng lớp từ quan kính, cổ xưa có tác dụng tái lập
không khí cổ xưa, trang trong, cung kính trong triều đình, phân
chia thứ bậc giữa quan lại… Qua lớp từ này, hơi thở của thời đại
bàng bạc trong tiểu thuyết lịch sử.
Tuy vậy, đóng vai trò chủ đạo không phải là lớp ngôn ngữ
cổ xưa mà là lớp ngôn ngữ đời sống (ngôn ngữ tiểu thuyết). Sông
Côn mùa lũ sử dụng lớp từ xưng hô gần gũi (anh – em, chị – em,
ta – chú…). Ngôn ngữ đời thường hiện hữu trong lời ăn tiếng nói
hằng ngày của cả hai lớp nhân vật lịch sử và hư cấu. Đặc biệt,
Nguyễn Mộng Giác còn chú ý đưa vào ngôn ngữ đời sống những
câu thành ngữ, tục ngữ để xóa đi khoảng cách giữa người nghe và

của Nguyễn Mộng Giác mà còn khẳng định được vị trí đặc biệt
của nó trong dòng chảy tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986.
2. Sông Côn mùa lũ là sự “gặp gỡ” của đề tài và chủ đề với
các tác phẩm văn học khác. Tái hiện lại bức tranh hiện thực lịch sử
và cuộc sống con người từ các “tiền văn bản”, Nguyễn Mộng Giác
đã vận dụng sáng tạo các dữ liệu vừa quen thuộc với chính sử, vừa
lạ lẫm với nhiều chi tiết bổ sung để luận giải các vấn đề quá khứ
và hiện tại. Trong Sông Côn mùa lũ, Nguyễn Mộng Giác đã bằng
bức tranh văn hóa mỗi vùng miền và đời sống kinh tế - xã hội
nghèo nàn thời Tây Sơn để lí giải tính cách của nhân vật cũng như
nguyên nhân khởi binh của anh em Nguyễn Nhạc. Với tâm thức
23

văn hóa nông nghiệp cùng truyền thống lịch sử của dân tộc,
Nguyễn Mộng Giác khẳng định tính cách ứng biến linh hoạt và
tinh thần đoàn kết của con người Việt Nam trong mọi hoàn cảnh,
đặc biệt là khi đất nước có ngoại xâm. Nhờ sự nối kết giữa tôn
giáo và tín ngưỡng dân gian, đời sống tâm linh trong Sông Côn
mùa lũ không chỉ nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa truyền thống của
dân tộc mà còn là phương tiện xoa dịu tinh thần cho người dân
trong những hoàn cảnh bế tắc.
3. Ở phương diện nghệ thuật, Sông Côn mùa lũ có kết cấu
“truyện lồng truyện” và sự đan cài của nhiều lớp diễn ngôn. Hai
kiểu kết cấu này giúp nhà văn có thể linh hoạt lồng ghép nhiều
mẩu chuyện đồng thời phân tích được tính cách, tâm trạng… của
các nhân vật theo một cơ chế sáng tạo riêng. Lớp nhân vật lịch sử
được phục dựng bằng sự hấp thụ tư duy lịch sử hiện đại và nguyên
lý văn hóa lưỡng hợp khiến nhân vật lịch sử không còn bất khả
xâm phạm mà trở thành một cá thể có thể mổ xẻ, phân tích, luận
bàn đồng thời tạo ra những nhân cách văn hóa làm tiền đề cho sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status