Tiểu thuyết của nguyễn huy thiệp dưới góc nhìn thể loại luận văn ths văn học 60 22 32 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
----------------

NGUYỄN THỊ KIỀU HƢƠNG

TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN HUY THIỆP DƢỚI
GÓC NHÌN THỂ LOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lí luận văn học

Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
----------------

NGUYỄN THỊ KIỀU HƢƠNG

TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
DƢỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 32

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS PHẠM THÀNH HƢNG

Hà Nội - 2013

2.1.2. Yêu về cầu thể loại nhìn từ một số đặc điểm của tiểu thuyết .................. 35
2.2. Hiện tình sáng tác của tiểu thuyết Nguyễn Huy Thiệp ................................................ 39
2.2.1. Phạm vi hiện thực trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Thiệp .................................... 40
2.2.2. Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp ............................................ 43
2.2.3. Hình thức cấu trúc trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Thiệp....................................... 46
2.3. Vết rạn gãy trong bước chuyển đổi thể loại của Nguyễn Huy Thiệp .............. 50
2.3.1. Tiểu thuyết Nguyễn Huy Thiệp và dấu ấn đậm nét của truyện ngắn ...... 50
2.3.2. Độc giả và sự tiếp nhận tiểu thuyết Nguyễn Huy Thiệp.......................... 52
3


Chương 3: TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN HUY THIỆP - CUỘC THỬ
NGHIỆM NGHỆ THUẬT BẤT THÀNH .................................. 56
3.1. Bối cảnh và diện mạo chung của nền văn học đương đại ................................ 56
3.2. Nhìn lại cuộc thử nghiệm tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp ...................................... 61
3.2.1. Nỗi trăn trở của người cầm bút ................................................................................. 62
3.2.2. Chuyển đổi thể loại - bài toán khó của thử nghiệm nghệ thuật .......................... 65
3.3. Những quy luật thẩm mĩ nhìn từ cuộc thử nghiệm tiểu thuyết của Nguyễn
Huy Thiệp ................................................................................................................ 67
3.3.1. Con đường từ khao khát đến hiện thực và thành công ............................ 68
3.3.2. Nhà văn và những thử thách mới trong đời sống văn nghệ ..................... 69
3.3.3. Độc giả và những cuộc thử nghiệm nghệ thuật ....................................... 74
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 79

4


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật qua ý thức, khát khao sáng tạo mang tính chủ
quan mà còn phải hiện thực hoá và khẳng định nó bằng chính con đường sáng
tác văn học. Thực tế, mỗi người nghệ sĩ đều có cả một thế giới tinh thần
phong phú, một cá tính sáng tạo cũng như một hành trình đi tìm cái đẹp riêng.
Nó có thể hiện hữu trong cách thức họ đi khai thác và thể hiện các mảng đề
tài, chủ đề, tư tưởng ý nghĩa; xây dựng những tình huống, cốt truyện hay nhân
vật thật độc đáo, điển hình; hoặc qua lối tổ chức kết cấu, hành văn, cách tạo
dựng không gian nghệ thuật trong tác phẩm sao cho đạt hiệu quả thẩm mĩ cao
nhất... Song, ẩn đằng sau mỗi con đường tìm tòi, thử nghiệm ấy không phải
đơn thuần chỉ là sự mài giũa, chau chuốt những yếu tố thuộc địa hạt thi pháp
mà còn là câu chuyện về sự vận động của thể loại. Trong khi đó, bản chất của
thể loại là phản ánh những khuynh hướng phát triển bền vững và vĩnh hằng
của văn học [12; 300]. Vì vậy, sẽ thật thiếu sót khi nghiên cứu quá trình sáng
tạo của nhà văn mà người tiến hành lại bỏ qua những nỗ lực thử nghiệm về
mặt thể loại trong sáng tác của nhà văn đó.
Bước vào văn đàn dân tộc trong không khí cở mở, hừng hực khí thế hiện
đại hoá của văn học thời kỳ đổi mới (sau 1986), Nguyễn Huy Thiệp đã không
ngừng nỗ lực sáng tác và nhanh chóng trở thành một trong những “hiện tượng
văn học” độc đáo, tiêu biểu cho đội ngũ tác giả văn xuôi tự sự giai đoạn này.
Trên con đường sáng tác văn học, Nguyễn Huy Thiệp đã luôn ý thức
rằng: “Công việc viết văn vốn rất nhọc nhằn, phức tạp, lại buồn tẻ nữa” [38;
148] nhưng không vì thế mà ông chấp nhận một thứ văn chương dễ dãi, minh
họa. Nhà văn quan niệm viết như một sự giải thoát, hóa thân đầy bất chấp,
phưu lưu và cao quý: “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục
tung lên, thoát thành bướng và hoa” [38; 256]. Người nghệ sĩ ấy đã chứng tỏ
bản lĩnh nghệ thuật của mình bằng việc liên tục tìm tòi và sẵn sàng đưa ra
cách thử nghiệm, nhìn nhận, kiến giải các vấn đề đặt ra trong sáng tác của
mình một cách táo bạo nhất, khác người nhất khi có thể. Để rồi trong giai
6




năng lực sáng tạo của mình. Nguyễn Huy Thiệp cũng không nằm ngoài quy
luật đó. Sau khi trở thành một trong những cây bút truyện ngắn tiêu biểu cho
nền văn học đương đại, ông đã lần lượt cho ra đời 4 cuốn tiểu thuyết gồm:
Tuổi 20 yêu dấu (2005), Võ lâm ngoại sử (2005), Tiểu long nữ (2006) và Gạ
tình lấy điểm (2007).
Tiểu thuyết hay truyện ngắn đều là những sản phẩm tinh thần đầy tâm
huyết và nỗ lực của nhà văn. Tuy nhiên, với sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp,
con đường tiếp nhận và khảo sát hai loại hình tác phẩm này nơi công chúng
và những người nghiên cứu lại hoàn toàn khác nhau. Ở thể loại truyện ngắn,
ngay từ những sáng tác đầu tay in trên báo Văn nghệ năm 1986, 1987 như: Cô
Mỵ, Vết trượt, Những truyện kể bất tận của thung lũng Hua Tát (sau đổi tên
thành: Những ngọn gió Hua Tát), Huyền thoại phố phường, Tướng về hưu
v.v... nhà văn đã nhanh chóng gây được ấn tượng mạnh cho đông đảo bạn đọc
yêu văn nghệ. Tuy nhiên, đến những truyện ngắn sau đó như: Kiếm sắc, Vàng
lửa, Nguyễn Thị Lộ, Trương Chi... trong công chúng, giới phê bình đã nảy
sinh hàng loạt ý kiến phê bình, tranh luận nhiều chiều thậm chí đối lập nhau
được đăng tải trên các tờ báo, tạp chí quan tâm tới đời sống văn nghệ cả trong
và ngoài nước. Đồng thời, ở phương diện nghiên cứu văn học cũng có rất
nhiều tiểu luận, luận án, luận văn... đã chọn những truyện ngắn này làm đối
tượng khảo sát và tìm hiểu. Các vấn đề về thân phận con người; Cuộc giao
tranh giữa Thiện - Ác, giữa Cao cả - Thấp hèn; Vấn đề về đổi mới nghệ thuật
thể loại truyện ngắn (nghệ thuật trần thuật, giọng phức điệu - đa thanh, cái kì
ảo, cổ mẫu trong sáng tác...); Quan niệm sáng tác và xây dựng hình tượng văn
học của nhà văn v.v... đều là những nội dung được giới nghiên cứu khai thác
rất kĩ lưỡng sâu sắc với truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Không dừng ở đó, Tạp chí Sông Hương còn xuất bản cuốn Nguyễn Huy
Thiệp tác phẩm và dư luận; nhà lí luận - phê bình văn học Phạm Xuân
Nguyên cũng dày công sưu tầm và biên soạn cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp

qua mỗi sáng tác. Người trân trọng, ngợi ca, kẻ bất bình, phê phán... Nhưng
dù ở bình diện nào những độc giả chân chính ấy đều mong muốn hướng tới
9


khám phá và tiếp nhận đến tận cùng cái đẹp của văn chương nghệ thuật.
Chúng tôi khi triển khai đề tài luận văn này cũng là những độc giả đã và
đang khao khát đi tìm nhà văn qua công trình nghiên cứu của mình. Nguyễn
Huy Thiệp được biết đến như một “hiện tượng” độc đáo và tiêu biểu cho đội
ngũ nhà văn thời kì đổi mới. Do đó, những sáng tác của ông ở từng lĩnh vực
đều rất đáng được giới nghiên cứu quan tâm khảo sát. Tuy nhiên, với đề tài
“Tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp dưới góc nhìn thể loại” đối tượng và
phạm vi nghiên cứu chúng tôi hướng tới không phải là toàn bộ những tác
phẩm của ông mà chỉ dừng ở việc tìm hiểu “hiện tình” thử nghiệm và sáng tác
ở thể loại tiểu thuyết của nhà văn khi ông đã trở thành một cây bút sở trường
truyện ngắn. Nói cách khác bài viết tập trung vào nghiên cứu hai phạm vi đối
tượng là các tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp và cuộc thử nghiệm chuyển
đổi thể loại trong hoạt động sáng tác của ông.
Như chúng ta đã biết, thể loại là một trong những vấn đề lý luận lớn và
quan trọng bậc nhất của hoạt động nghiên cứu văn học - nghệ thuật. Trong
mỗi thể loại văn học lại luôn hàm chứa những yếu tố vừa cũ vừa mới, vừa ổn
định nhưng cũng biến đổi không ngừng. Nó cho ta thấy bản chất thẩm mĩ của
văn học đồng thời cũng phản ánh xu hướng vận động và phát triển của loại
hình nghệ thuật đặc biệt ấy [21; 346]. Chính vì vậy, nguồn tư liệu nghiên cứu
về thể loại trên cả bình diện lý luận lẫn thực tiễn đều rất phong phú và đa
dạng. Tuy nhiên, với phạm vi khảo sát của luận văn, chúng tôi sẽ trực tiếp sử
dụng hai nguồn tư liệu chính:
Thứ nhất là nguồn tư liệu mang tính thực tiễn về sáng tác (đặc biệt là
những tiểu thuyết) của Nguyễn Huy Thiệp. Nó bao gồm 4 tiểu thuyết của nhà
văn là: Tuổi 20 yêu dấu (NXB E’ditions de l’Aube, Paris, 2002), Tiểu long nữ

Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn và giới thiệu, Khảo về tiểu thuyết - Vũ Bằng, Tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại - Phan Cự Đệ, Bàn về tiểu thuyết - Bùi Việt Thắng
v.v...) Các nguồn tư liệu này là những công cụ lý thuyết được sử dụng làm cơ
sở, nền tảng cho phép chúng tôi nắm bắt được đặc trưng, yêu cầu về thi pháp
của thể loại để từng bước đối chiếu với thực tiễn cuộc thử nghiệm sáng tác
11


của Nguyễn Huy Thiệp, từng bước triển khai và hoàn tất đề tài luận văn một
cách mạch lạc, hiệu quả.
Về mục đích nghiên cứu, với đối tượng và phạm vi vấn đề nêu trên,
chúng tôi sẽ đi sâu vào khảo sát sự vận động, biến đổi ở các bình diện hình
thức của loại tiểu thuyết mà Nguyễn Huy Thiệp đã sáng tác. Từ đó, ta có thể
nắm bắt được ít nhiều giá trị cốt lõi của các tiểu thuyết trong dòng chảy chung
của thể loại và ghi nhận được tâm huyết, sự nỗ lực của nhà văn. Hơn nữa, đây
cũng là cơ sở thực tiễn để chúng tôi khái quát, chỉ ra, lý giải về những quy
luật thẩm mĩ đã chi phối và quyết định sự thành - bại của người nghệ sĩ khi
chọn con đường thử nghiệm nghệ thuật thông qua sự chuyển đổi thể loại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
“Tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp dưới góc nhìn thể loại” là một đề tài
mang đầy những thách thức đối với người nghiên cứu. Bởi lẽ, muốn tri nhận
khách quan những đóng góp, thành công của một nhà văn ở một thể loại đã
khó, việc khảo sát để chỉ ra những mặt hạn chế, chưa thành công của họ khi
chuyển từ thể loại này sang thể loại khác lại càng khó khăn hơn. Do đó, để đạt
được đích đề ra, đề tài cũng luôn đòi hỏi người tiến hành phải có sự lựa chọn
và vận dụng những phương pháp nghiên cứu thật phù hợp, hiệu quả.
Khi triển khai luận văn, chúng tôi sẽ chủ yếu sử dụng bốn phương pháp
chính là phương pháp so sánh, phương pháp tâm lý, phương pháp nghiên cứu
tác phẩm văn học và phương pháp nghiên cứu tác giả văn học để lần lượt giải
quyết vấn đã đặt ra.

NGHỆ THUẬT
Văn học nói riêng và con đường sáng tạo nghệ thuật nói chung vốn là
một hành trình vừa “khổ hạnh”, vừa “cao quý” (Nguyễn Tuân). Thực không
quá khó để viết một câu chuyện, làm một bài thơ nhưng để trở thành người
nghệ sĩ có tên tuổi, được độc giả và đời sống văn nghệ quan tâm, tri nhận thì
chẳng dễ dàng chút nào. Câu nói “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”
[19; 9] của Hoàng Ngọc Hiến dường như đã dự báo ít nhiều duyên nợ, nổi
chìm trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp ngay từ những buổi đầu
ông bước vào làng văn. Bản lĩnh, sắc sảo, đầy tâm huyết nhưng cũng có phần
chua chát, bất cần… là ấn tượng nổi bật mà chúng ta dễ nhận thấy khi tiếp xúc
hay tìm hiểu về con người, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của người nghệ
sĩ tài hoa ấy.
1.1. Nguyễn Huy Thiệp - cuộc đời và văn nghiệp
Nguyễn Huy Thiệp (29/4/1950) sinh ra trên mảnh đất ngoại đô (Thanh
Trì, Hà Nội).
Thuở nhỏ, nhà văn từng theo gia đình sống ở nhiều nơi của vùng nông
thôn Đồng bằng Bắc Bộ nên hình ảnh về những miền quê nghèo khó, lam lũ
cứ trở đi trở lại trong trang văn ông như một nỗi nhớ, niềm thương. Khi thì tác
giả nâng niu Những bài học nông thôn bởi một điều thật giản dị: “Mẹ tôi là
nông dân, còn tôi sinh ở nông thôn” [39; 120]; Lúc ông lại khắc khoải Thương
nhớ đồng quê bằng một sự tự ý thức, một niềm yêu thầm kín: “Tôi sinh ra ở
làng quê, lớn lên ở làng quê” [39; 166].
Sau đó, ấp ủ bao ước mơ, hoài bão, Nguyễn Huy Thiệp đã thi đỗ và trở thành
một sinh viên Khoa sử của trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tốt nghiệp trong vai
14


trò một người thầy giáo, ông đã gắn bó bao năm tháng của tuổi trẻ để mang cái
chữ về cho những ngôi trường nhỏ nơi miền dẻo cao Tây Bắc xa xôi...
Đến năm 1980, Nguyễn Huy Thiệp chuyển về công tác ở Bộ giáo dục,

nhận định: “Nếu xem nhà văn như một người sản xuất đơn lẻ, thì không có bất
cứ một ý nghĩa văn học nào có thể nói nữa. Nhà văn có được một ý nghĩa văn
học, trở thành một nhà văn đích thực, đó là sự việc tiếp sau, khi mà một người
quan sát đứng trên lập trường của người đọc có thể cảm thấy anh ta giống một
nhà văn [22; 45]. Nghĩa là con đường sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ
chỉ thực sự trọn vẹn khi những sáng tác, thử nghiệm của họ đến được tay
người đọc và được quá trình tiếp nhận của xã hội đánh giá, thẩm định.
Xuất hiện vào giữa những năm tám mươi của thế kỉ XX, Nguyễn Huy
Thiệp không chỉ có may mắn là đăng đàn đúng vào giai đoạn văn học nước
nhà nô nức bước vào thời kì đổi mới mà ông còn là nhà văn “phùng thời” với
đời sống tiếp nhận của công chúng, bạn đọc. Các sáng tác của ông khi xuất
hiện lập tức đón nhận ngay sự phản hồi, đối thoại sôi nổi, hào hứng từ phía
độc giả mà không phải qua một độ lùi hay gián cách về mặt thời gian. Do đó,
con đường sáng tạo văn chương của người nghệ sĩ ấy một mặt được động
viên, tiếp sức bởi không khí cởi mở của thời đại, mặt khác cũng phải đối diện
với sức ép và phản ứng mãnh liệt, thẳng thắn, không khoan nhượng từ phía dư
luận đương thời.
Gần 30 năm cầm bút, Nguyễn Huy Thiệp đã viết khoảng 40 truyện ngắn,
gần 10 vở kịch, 4 cuốn tiểu thuyết và một số tiểu luận - phê bình văn học…
Lượng sáng tác ấy chưa thật dồi dào, áp đảo so với những cây bút văn chương
cùng thời nhưng nó vẫn phản ánh khá rõ nét tài năng, tâm huyết và nỗ lực
sáng tạo không mệt mỏi của ông trên con đường kiếm tìm cái đẹp. Để làm
mới mình qua mỗi trang viết, cây bút ấy đã không ngần ngại khám phá và thử
nghiệm từ lối nhìn nhận, khai thác vấn đề đến các hình thức biểu hiện nghệ
thuật. Thậm chí, tác giả còn bất chấp cả đòn roi dư luận sục sạo vào những
“vùng thiêng” của quá khứ, của lịch sử dân tộc để “giải thiêng” thần tượng chỉ
với một khao khát sáng tạo và khẳng định cái mới như một chân giá trị của
văn học đương thời. Chính sự bất chấp và dấn thân ấy vô tình đã đẩy người
16




tạo của nhà văn và mang về nhiều thành công cho tác giả hơn cả. Với những tác
phẩm thuộc địa hạt này, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra “chất lạ” đầy quyến rũ và mê
hoặc trên cả hai phương diện nội dung và hình thức tác phẩm [31; 168].
1.2.1. Những khám phá về nội dung của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Tính “sở trường” về truyện ngắn được Nguyễn Huy Thiệp bộc lộ ngay trong
cách nhà văn chủ động tung hoành, khai thác, nhìn nhận và thể hiện các vấn đề,
các phạm vi lớn nhỏ của hiện thực đời sống. Từ đó, ông đã tạo ra một bức
tranh đa diện, sống động về con người và cuộc đời qua từng trang viết.
Nếu quan sát từ những đặc trưng thẩm mĩ về đề tài, cốt truyện, chúng ta
có thể tạm chia truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thành những tiểu loại như:
. Truyện mang màu sắc cổ tích, huyền thoại: Chảy đi sông ơi, Con gái
Thuỷ Thần, Những ngọn gió Hua Tát v.v...
. Truyện thế sự, kể về con người và cuộc sống đương đại: Tướng về hưu,
Cún, Không có vua, Những người thợ xẻ, những bài học nông thôn, Huyền
thoại phố phường, Tâm hồn mẹ, Thổ cẩm, Truyện tình kể trong đêm mưa, Tội
ác và trừng phạt, Chuyện ông Móng, Chú hoạt tôi v.v...
. Truyện về đề tài lịch sử, danh nhân: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết,
Chút thoáng Xuân Hương, Nguyễn Thị Lộ, v.v...
Rõ ràng ngay trong cách khai thác đề tài, cốt truyện nhà văn đã hấp dẫn
người đọc bằng một phạm vi phản ánh hiện thực trong tác phẩm vô cùng
phong phú, linh hoạt. Ta thấy được một bức tranh đời sống đương đại vừa gần
gũi, vừa bộn bề chen và không ít sự mông muội, u mê trong những câu
chuyện về thế sự, lại thấy một không gian huyền thoại chứa đầy cái li kì, màu
nhiệm trong những câu chuyện mang hơi hướng cổ tích, huyền thoại…Hai thế
giới thực, ảo cứ đồng hiện, song hành, có khi xen kẽ, bện chặt vào nhau. Rồi
bức tranh cuộc sống từ thành thị về nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, từ
quá khứ, lịch sử đến hiện tại, đương thời… tất cả đều được tác giả chủ động
tiếp cận và tái hiện trong các truyện ngắn của mình.

không thì sự tồn tại ấy đều là hữu hạn. Nhưng những cảnh huống, sự kiện,
biến cố, bất thường có thể xảy ra trong đời người lại vô hạn và khôn lường.
19


Cũng như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao hay Vũ Trọng Phụng,
Nguyễn Huy Thiệp luôn đề cao tinh thần phê phán hiện thực để phản ánh và
truy tìm cái bản chất, cái khách quan của cuộc sống. Nhưng không phải lúc
nào nhà văn cũng chăm chú xây dựng nên một hoàn cảnh điển hình để cho ra
một tính cách điển hình cho nhân vật mà luôn lạnh lùng đẩy họ vào giữa
những tình huống nghịch lý đến phi lý, vô thường và nhân vật phải tự chọn
lựa, tự bộc lộ trạng thái hiện thời của chính mình. Ông Thuấn trong Tướng về
hưu rõ ràng là một vị tướng già oai phong, là người anh hùng với nhiều chiến
công trên mặt trận, người chiến thắng trong quá khứ…xứng đáng với một
quãng cuối đời đầy yên bình và viên mãn. Nhưng khi trở về đời thường, trong
thực tế ông lại dễ dàng bị thất bại, cô đơn, lạc điệu vì chẳng thể nhập hòa với
cuộc sống hiện tại thực dụng của những người thân trong chính gia đình mình.
Lão Kền trong truyện Không có vua vốn là một người cha tần tảo, chịu cảnh
nhọc nhằn “gà trống nuôi con” bao năm vậy mà nếp nhà ông dày công cắt đặt,
gây dựng thực chất lộn xộn, bông phèng không có vua, cha - con, anh - em
đều vô luân “cá mè một lứa”: Cha nấp sau cửa để nhìn trộm con dâu tắm, em
chồng luôn tìm cách chòng ghẹo đòi ngủ với chị dâu, anh em trong nhà sẵn
sàng nói chuyện với nhau bằng nắm đấm, dao búa và sự sỉ nhục, mạt sát…
Danh vọng, tiền bạc, đàn bà là những thứ tưởng chừng như quả ngọt, trong
tầm tay mà Phong (trong truyện Giọt máu) chỉ bằng vài thủ đoạn mạnh bạo
hơn người có thể dễ dàng đoạt được thì tới phút cuối đời đó lại là thứ “quả
báo” khốc liệt giáng xuống đầu kẻ đã giết người, lừa bạn, cướp vợ. Chị Thắm,
người con gái đẹp và nhân hậu cả đời đưa đò, cứu người bị nạn nhưng cuối
cùng chị lại bị chết đuối mà không ai ra tay cứu vớt (Chảy đi sông ơi). Chàng
Chương bất chấp mọi gian khổ, cát bụi ở đời để đi tìm tung tích của Mẹ Cả người con gái diệu kì đã choáng hết tâm hồn chàng trai trẻ - để rồi bẽ bàng

cuộc sống và tâm hồn con người. Bất chấp những bất đồng, phản ứng, quy kết
quyết liệt từ phía dư luận, ông vẫn lạnh lùng “lột trần” đối tượng miêu tả. Ta
không khỏi rùng mình khi đọc tới chi tiết ông Thuấn (trong Tướng về hưu) dắt
con trai vào bếp, chỉ cho anh ta một nồi cám trong đó có đầy những mẩu thai
nhi bé xíu và có cả những ngón tay nhỏ hồng hồng; Sẽ không ít người kinh
21


lợm khi hình dung cảnh ông Móng (trong Chuyện ông Móng) thản nhiên đập
nhặng và kiểm định chất lượng hàng hóa “đặc biệt” trong khu chợ “độc nhất
vô nhị” chuyên bán mua thứ xú uế, chất thải của con người và động vật; Hay
lạnh người hình dung ra cảnh cô gái 16 tuổi (trong Tội ác và trừng phạt) giết
cha: cô đứng dạng hai chân, bình thản ngắm nghía rồi lấy hết sức bổ mạnh
chiếc rìu vào giữa trán người cha đang ngủ làm cho óc bắn lên tung tóe như bã
đậu [39; 337]… Tất cả những cảnh huống ấy dường như mang về một màu bi
thiết, u á đến tàn nhẫn cho hiện thực và cuộc đời. Người đọc bị bóp nghẹt
trong những ám ảnh khi những góc khuất, cái xấu và tội ác trong cuộc sống
được phơi bày không kiêng nể trên từng trang viết của Nguyễn Huy Thiệp.
Dồn độc giả vào tận cùng của sự ám ảnh, bế tắc để rồi cởi giải, “thanh
lọc” tâm hồn người bằng chính sự ban sơ, tự nhiên, hướng thiện của nhân thế.
Đó là cách truyền cảm xúc rất mãnh liệt, rất riêng mà nhà văn đã thể hiện khá
thành công trong thể loại truyện ngắn này. Aristote trong cuốn Thi pháp học
(Nghệ thuật thi ca) đã từng quan niệm, ở thể loại bi kịch, thông qua những
cảm xúc mãnh liệt, sự xót thương và sợ hãi được thể hiện trong tác phẩm mà
những sáng tác có thể giúp tâm hồn con người được tẩy rửa, thanh lọc
(katharsis) [44; 34]. Nguyễn Huy Thiệp ở đây cũng vậy, với các truyện ngắn
của mình, ông viết nhiều đến cái bi và rất bạo tay khi phơi bày hiện thực. Đó
chính là một liều “thuốc đắng” mà tác giả muốn dùng để cảnh tỉnh, để “giã
tật” cho những đổi thay, lầm lạc, vô minh của con người.
Luôn trăn trở về nỗi đau xói mòn nhân cách trong con người đương đại

hết mình chúng ta cũng cần tỉnh táo để không sa vào sức cám dỗ ma lực của
danh lợi bất chính và đồng tiền mà đánh mất đi sự trân trọng những giá trị bản
nguyên của tự nhiên, phần nhân cách cao đẹp, hướng thiện của con người. Bởi
vậy, đến với những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, người đọc vừa bị ám
ảnh bởi sự “tàn nhẫn”, “cay đắng” chính xác đến lạnh lùng của cách khai thác
bức tranh đời sống, vừa cuốn hút bởi “Chất kiêu bạc”, lãng mạn trong những
niềm yêu mếm thẳm sâu mà tác giả giành cho chính con người và cuộc đời
[31;186]. Đó là những tín hiệu thẩm mĩ, là giá trị hiện thực và chiều sâu tư
tưởng, cảm xúc làm nên chất men riêng cho các sáng tác truyện ngắn của ông.
23


1.2.2. Những sáng tạo về hình thức của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Truyện ngắn là thể loại ghi dấu được nhiều thành công nhất trong sự
nghiệp sáng tác văn chương của Nguyễn Huy Thiệp. Chất tài hoa, sự mới mẻ
trong cách khám phá, sáng tạo của nhà văn không chỉ được bộc lộ ở bình diện
nội dung mà còn được khẳng định rõ nét trên những phương diện thuộc về
mặt hình thức.
Trước hết, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp gây ấn tượng và có sức
hút mạnh với công chúng bởi nhà văn rất chủ động và “bạo liệt” trong cách
khai thác các chi tiết nghệ thuật.
Trong tác phẩm văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng, chi tiết là
một trong những phương tiện nghệ thuật góp phần đắc lực cho việc miêu tả,
khái quát bản chất đối tượng phản ánh của nhà văn. Do đó, những chi tiết hay,
độc đáo thường có sức tải vấn đề rất lớn, giàu giá trị biểu đạt và ám ảnh lòng
người. Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ta có thể không chú tâm nhiều
đến nội dung, diễn biến cốt truyện nhưng rất khó để làm ngơ trước những chi
tiết táo bạo mà tác giả sử dụng. Người đọc sẽ không thể quên chi tiết về nồi
cám chó đầy những mảnh thai nhi và có cả những ngón tay hồng hồng nhỏ xíu
trong nhà vị Tướng về hưu. Nó vừa rùng rợn vừa xót xa, ám ảnh lòng người.

cội nguồn của sự thanh bình, phong túc, là sự linh diệu để rừng kết muối,
bung nở loài hoa hiện thân cho sự may mắn, phồn thịnh, vững bền… Tất cả
những điều đó cho ta thấy, Nguyễn Huy Thiệp rất có tài khai thác, miêu tả các
chi tiết và dùng các chi tiết xác thực, gợi cảm, ám ảnh để khái quát những giá
trị hiện thực, tính nhân văn trong từng tác phẩm.
Không dừng ở đó, sở trường về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp còn
bộc lộ ngay trong cách ông tạo ra sự đa dạng, bất ngờ ở phương diện tình
huống và cốt truyện. Với sự giới hạn nhất định về mặt dung lượng đặc thù của
thể loại, truyện ngắn thường xây dựng dựa trên một tình huống, tình thế chính là cái “cớ” vững chắc, cái hoàn cảnh vừa cụ thể, vừa bất ngờ, riêng biệt
mà qua đó cho phép người cầm bút bộc lộ rõ nét tính chất xung đột cũng như
chủ đề tư tưởng tác phẩm.
Trở lại với những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, hầu như ở sáng
25


Trích đoạn Quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp về thể loại tiểu thuyết Con đường từ khao khát đến hiện thực và thành công Nhà văn và những thử thách mới trong đời sống văn nghệ Độc giả và những cuộc thử nghiệm nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status