BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đồng Văn Đẹp
VẤN ĐỀ CHÂN THẬT LỊCH SỬ VÀ HƯ CẤU
NGHỆ THUẬT TRONG “SÔNG CÔN MÙA LŨ”
CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đồng Văn Đẹp
VẤN ĐỀ CHÂN THẬT LỊCH SỬ VÀ HƯ CẤU
NGHỆ THUẬT TRONG “SÔNG CÔN MÙA LŨ”
CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số:
60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHÙNG QUÝ NHÂM
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 5
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 7
3. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................. 8
4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 12
5. Đóng góp của luận văn ................................................................................................. 13
6. Kết cấu của luận văn .................................................................................................... 13
CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ TỪ1986 ĐẾN NAY VÀ “SÔNG CÔN
MÙA LŨ” CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC ............................................................. 15
1.1. Tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay ......................................................................... 15
1.1.1. Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử ........................................................................... 15
1.1.2. Quá trình sáng tác của tiểu thuyết lịch sửtừ 1986 đến nay ................................... 20
1.1.3. Nội dung chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay ................................... 23
1.1.4. Những đặc trưng nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay................... 27
1.2. Tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác .......................................... 29
1.2.1. Đôi nét về tác giả Nguyễn Mộng Giác .................................................................. 29
1.2.2. Đôi nét về “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác....................................... 33
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ CHÂN THẬT LỊCH SỬ TRONG “SÔNG CÔN MÙA
LŨ” CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC ........................................................................ 38
2.1. Vấn đề chân thật trong tiểu thuyết lịch sử .............................................................. 38
2.2. Vấn đề chân thật lịch sử trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác ...... 43
phát triển theo hướng hiện đại hóa, tốc độ phát triển của các thể loại văn học thời kì này hết
sức nhanh chóng. Trong vòng 10 năm (1932 – 1941), thơ mới liên tục phát triển với các tác
giả như: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… Về tiểu thuyết và truyện ngắn cũng phát
triển nhanh chóng như những truyện ngắn trào phúng độc đáo của Nguyễn Công Hoan,
truyện ngắn giàu chất trữ tình, thấm đượm chất thơ của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh,
truyện ngắn của Nguyễn Tuân có màu sắc vừa cổ điển vừa hiện đại, truyện ngắn của Tô
Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân hóm hỉnh và tài hoa. Đặc biệt là những truyện ngắn hiện thực sắc
nét, giàu giá trị nhân văn, nhân bản của ngòi bút bậc thầy Nam Cao. Có thể nói văn học giai
đoạn này đã đạt được những thành tựu to lớn cả về thơ và văn xuôi, nhiều tác giả thực sự tài
năng và nhiều tác phẩm đáng gọi là kiệt tác thời kỳ này. Trong khi đó bộ phận văn xuôi viết
về đề tài lịch sử từ sau 1945 còn là đề tài xa lạ và ít được chú ý, bàn luận đến.
Sau khi chiến tranh kết thúc 1975, cuộc sống dần trở lại quy luật bình thường của nó,
con người trở về với khuôn mặt đời thường. Bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức
cá nhân, đòi quan tâm đến từng số phận của mỗi người. Sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã mở
ra cho văn học nhiều đề tài mới. Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế
và tính đa chiều của mọi quan hệ, con người được khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện,
nhiều tầng bậc khác nhau có thể thấy trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu với các truyện
“tự thú” – “sám hối”, truyện tự nhận thức… đã tạo nên bộ mặt văn học phong phú và phát
triển khá phức tạp. Tuy nhiên, về tiểu thuyết lịch sử, trong thời gian này vẫn chưa có bước
phát triển đáng kể. Ở thời điểm này, chúng ta có thể nhắc đến công trình khảo cứu công phu
của Phan Cự Đệ xuất bản 1975 Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Nhưng trong cuốn sách
chuyên khảo này Phan Cự Đệ không đề cập riêng đến thể loại tiểu thuyết lịch sử. Đến đầu
những năm 80 của thế kỷ XX, việc bàn luận đến tiểu thuyết lịch sử hầu như vẫn còn rất
hiếm. Theo Nguyễn Văn Dân: “Trong tinh thần này, chúng tôi thấy có một bài viết đáng
quan tâm của tác giả người Rumani Ion Maxim được dịch sang tiếng việt: Những viễn
5
cảnh của tiểu thuyết lịch sử (“Perspctives du roman historique”, Cahiers ruomains
d`etudes littéraires, 1979, No. 4, Thu Hà dịch)” [74]
6
loại trường thiên tiểu thuyết. Sông Côn mùa lũ được nhà xuất bản Văn Học và Trung tâm
Nghiên cứu quốc học xuất bản 1998 – Là một trường thiên tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng thế
kỷ XVIII, một tác phẩm mà nhà văn đã đầu tư rất công phu, với gần hai ngàn trang sách,
hoàn toàn xứng đáng là tiểu thuyết theo cái nghĩa cổ điển của từ này. Tác phẩm hấp dẫn
người đọc ở chất văn chương của nó, lôi cuốn ta, những người yêu lịch sử dân tộc, yêu con
người Việt Nam nhân ái và quả cảm. Đồng thời tác phẩm còn thể hiện sự tài hoa, hiểu biết
sâu rộng của người viết về văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam. Tác phẩm đã tạo nên sức
hút mạnh mẽ đối với người đọc, góp phần phác họa lại bức tranh lịch sử Việt Nam qua việc
tái hiện lại hình ảnh đẹp của người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ dưới cái nhìn văn chương
có những hư cấu độc đáo nhưng vẫn giữ được những giá trị chân thật của nhân vật lịch sử
này. Nguyễn Huệ trở thành biểu tượng cho giòng lịch sử oai hùng của dân tộc. Tác phẩm
được hội đồng tuyển chọn sách hay đánh giá là một tác phẩm có giá trị nhân bản, giá trị dân
tộc năm 2012 và được hãng phim TFS (Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) mua bản
quyền để chuyển thành phim truyền hình. Bên cạnh đó, với đề tài này chúng tôi còn muốn
thổi hơi thở của lịch sử vào lòng người đọc một cách nhẹ nhàng thông qua những tiểu thuyết
lịch sử mà cụ thể là Sông Côn mùa lũ. Tin rằng, luận văn này sẽ góp một phần có ích trong
việc truyên truyền, phổ biến, giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước qua những
chiến công chói lọi của phong trào Tây Sơn đã đi vào sử sách.
Ngoài ra, với sự yêu mến và xúc động chân thành của người viết trước hồn thiêng sông
núi được lắng kết trong từng trang viết của tác phẩm chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài:
“Vấn đề chân thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn
Mộng Giác” để nhằm đi vào tìm hiểu tác phẩm một cách sâu sắc, nhất là vấn đề chân thật
lịch sử và hư cấu của tác phẩm. Đồng thời đây coi như lời tri ân đối với tác giả Nguyễn
Mộng Giác. Dưới góc độ đây không phải là tác phẩm được coi như là một hiện tượng, là tác
phẩm tiêu biểu dùng làm khuôn mẫu cho cả khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử trong bối cảnh
cận đại mà chỉ nhằm đi vào tìm hiểu một tác phẩm tiêu biểu được phổ biến rộng rãi của nhà
văn Nguyễn Mộng Giác để khảo sát vấn đề chân thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật của tác
3. Lịch sử vấn đề
Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác là một trường thiên tiểu thuyết lịch sử rất
đặc sắc ở những giá trị lịch sử và chất văn chương. Với sự phong phú, vẻ đẹp mang tính
nhân văn, nhân bản lớn lao, tác phẩm được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc và giới ngiên
cứu văn học trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có những công trình nghiên
cứu, khảo luận về tác giả, tác phẩm này với quy mô lớn, toàn vẹn. Có thể điểm qua một số
bài viết và những Tạp chí văn học… đã đi vào nghiên cứu nội dung này như sau:
Trong cuốn Tạp chí sáng tác nhận định văn nghệ (2006), thực hiện số đặc biệt về nhà
văn Nguyễn Mộng Giác, xuất bản tại Nhà xuất bản Văn nghệ Hoa Kỳ. Cuốn tạp chí này, tập
8
hợp những bài viết của nhiều tác giả nhận định về những sáng tác của Nguyễn Mộng Giác.
Trong đó, nổi bật có bài viết Nhân vật Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn
mộng Giác Trần Hữu Thục đã đi vào thể hiển hình ảnh Nguyễn Huệ từ lịch sử đến những
nhân vật Nguyễn Huệ trong văn chương. Trên cơ sở đó tác giả đi vào tìm hiểu về hình ảnh
Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác. Tác giả bài viết này cũng có
đưa ra hai quan niệm trái chiều giữa Nguyễn Khắc Phê và Phan Cự Đệ khi tiếp nhận Sông
Côn mùa lũ. Nguyễn Khắc Phê cho rằng tác phẩm có những hạn chế vì cho rằng viết về một
tiểu thuyết lịch sử viết về mấy thập kỷ cuối thế kỷ XVIII mà lại chọn nhân vật trung tâm là
Nguyễn Huệ, tác phẩm viết quá ít về những chiến công của phong trào tây Sơn… Khác với
quan niệm trên, Phan Cự Đệ cho rằng: “Sông Côn mùa lũ rõ ràng không phải viết về Nguyễn
Huệ như một vĩ nhân (điều mà các sử gia và bộ máy thông tin tuyên truyền đã làm quá
nhiều và có quá hiệu quả), ngược lại muốn thăm dò những phía khác của người anh hùng
xét như một con người (không cần phải kèm theo những thuộc tính, có khi đã trở thành sáo
rỗng, như oanh liệt, hiển hách, thiên tài, lỗi lạc…)” [31,tr.93] Từ những nhận định trên,
cũng cho thấy phần nào về diện mạo Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác.
Năm 2012 để giới thiệu và làm rõ về giá trị của tác phẩm, Đỗ Minh Tuấn có bài viết
Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác: Sự khám phá nhân cách văn hóa Việt. Trong
khám phá, lý giải kết nối chuỗi nhân cách văn hoá từ thường nhân đến vĩ nhân làm nên một
dòng chảy văn hoá tâm linh nhất quán qua từng trang sách. Dòng chảy văn hóa đó là sự
hoà quyện của logic lịch sử, lôgic đời sống và lôgic nghệ thuật trong dung môi văn hoá Việt
Nam đầy tính nhân bản, lưỡng hợp hỗn dung. Đó chính là mã số của sức mạnh Việt Nam,
bản lĩnh Việt Nam” [94]
Năm 2012 Nhà xuất bản Thanh Niên đã xuất bản Quán văn – tập san văn học nghệ
thuật - số 7, giới thiệu các bài viết về tác giả Nguyễn Mộng Giác và tiểu thuyết Sông Côn
mùa lũ: Một cái nhìn của Nguyên Minh, Với bạn, một chân tình khó quên của Lữ Quỳnh,
Trong tình thân & nỗi thương tiếc! của Mang Viên Long, Ban Mai Nụ cười bình yên, Về
thể loại tiểu thuyết trường thiên của Đặng Tiến, Nguyễn Mộng Giác và người Bình Định
của Thụy Khuê, Nhân vật Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác
của Trần Hữu Thục… nhằm nhắc lại những kỷ niệm với Nguyễn Mộng Giác, quá trình sáng
tác của nhà văn, những cảm nhận về tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ, cùng với sự bày tỏ niềm
luyến tiếc trước sự ra đi của nhà văn Nguyễn Mộng Giác…
Cũng năm 2012 Nguyễn Vy Khanh có bài viết nhân đọc tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ
Về tiểu thuyết lịch sử nhân đọc Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác). Trong bài viết
này, ông chỉ ra mối quan hệ giữa văn chương và lịch sử, đi vào tìm hiểu tiểu thuyết Sông
Côn mùa lũ, chỉ ra chân dung của Nguyễn Huệ: “Nguyễn Mộng Giác cho người đọc nhìn
thấy sự sinh thành và lớn dậy cùng tâm lý, kiến thức, chính trị và tài năng khác người của
người anh hùng áo vải gốc nhà nông, nhưng đồng thời là một con người văn hóa, có sở học
10
Nho của thời đại, có cái học đạo lý làm người” [78] Theo Nguyễn Vy Khanh thì Nguyễn
Mộng Giác viết sát lịch sử dù phần nào theo dã sử nhưng rất gần với các nhân vật Tây Sơn:
“Sông Côn mùa lũ là cái nhìn tổng hợp của Nguyễn Mộng Giác về con người lịch sử
Nguyễn Huệ (…) Sông Côn mùa lũ đại diện cho khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử muốn
trình bày trung thực một thời đại bằng cách tiểu thuyết hóa những diễn tiến tình tiết, những
thái độ, trình độ trí thức, tâm tính, với những nhân vật có thật bên cạnh vài nhân vật tiểu
thuyết có thể có thật, như một giả thuyết, một thử nghiệm văn chương cho đề tài lịch sử đã
Minh.
- Bùi Văn Lợi (1998), Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX
đến 1945 (diện mạo và đặc điểm), Luận án tiến sĩ Trường ĐHSP Hà Nội.
- Nguyễn Hoài Thanh (2012), Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử
của Nguyễn Triệu Luật, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp trường, Trường
Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
Những đề tài nghiên cứu trên chỉ đi vào một vài khía cạnh nào đó của Sông Côn mùa
lũ để phục vụ cho việc nghiên cứu. Đáng chú ý là đề tài nghiên cứu cấp Bộ, trường Đại học
Qui Nhơn của Bùi Văn Lợi (2004), Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ trong tiểu
thuyết lịch sử Việt Nam và vấn đề giảng dạy tiểu thuyết lịch sử về Nguyễn Huệ trong nhà
trường phổ thông. Tác giả đề tài có đi vào nghiên cứu hình tượng người anh hùng Nguyễn
Huệ trong một số tiểu thuyết lịch sử và trong Sông Côn mùa lũ.
Nhìn chung, do đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu khác nhau nên cho đến nay
chưa có công trình nghiên cứu nào có quy mô lớn, toàn diện, chuyên sâu nhiều mặt về tác
phẩm này. Cho nên, tác phẩm còn ẩn chứa nhiều vấn đề cần được đào sâu, nghiên cứu, phát
hiện, đây là điều vô cùng thú vị, hấp dẫn trong quá trình nghiên cứu bởi những giá trị tương
đối tươi mới của tác phẩm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để cho nội dung của luận văn được nghiên cứu một cách sâu sắc, logic nhưng cũng
đảm bảo không cứng nhắc, liệt kê. Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi vận
dụng kết hợp các phương pháp sau:
-
Phương pháp nghiên cứu lịch sử
Là tiểu thuyết lịch sử nên nội dung có liên quan mật thiết với chính sử. Vì vậy, trong
quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch để đặt tác phẩm trong
bối cảnh lịch sử, xã hội cụ thể từ đó mới đưa ra những kết luận chính xác về tác phẩm, nhất
là trong việc chỉ ra được những nội dung mà tác giả thể hiện: Đâu là nội dung đảm bảo tính
Khi tiến hành nghiên cứu cần đặt hệ thống thể loại tác phẩm này trong hệ thống quan
hệ đồng đại hay lịch đại để thấy được sự giống nhau của tác phẩm với các tác phẩm khác và
những đóng góp khác biệt của tác giả trong việc phát triển thể loại tiểu thuyết lịch sử đương
đại.
5. Đóng góp của luận văn
Hòa vào xu hướng tìm về cội nguồn dân tộc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận văn
này nhằm hướng đến những đóng góp sau:
Thấy được sự tài hoa, những tư tưởng, tình cảm cao đẹp của nhà văn về con người và
thời cuộc được lồng ghép trong những trang viết của tác phẩm.
Thông qua luận văn, chúng tôi nhằm làm rõ vấn đề chân thật lịch sử và những hư cấu
nghệ thuật góp phần làm cho chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về tiểu thuyết Sông Côn mùa
lũ của Nguyễn Mộng Giác.
Luận văn cung cấp tài liệu hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về tác giả Nguyễn
Mộng Giác và tác tác phẩm Sông Côn mùa lũ. Ngoài ra, từ muôn vàn sự kiện lịch sử trong
thời khắc đất nước đầy biến cố, nhất là qua hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ được vẽ
lại bằng văn chương góp phần làm cho người đọc thấy được sự cần thiết của tiểu thuyết lịch
sử trong việc tìm về cội nguồn của dân tộc.
6. Kết cấu của luận văn
13
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận luận văn này được cấu trúc thành ba chương:
- Chương 1. Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1986 đến nay và “Sông Côn mùa lũ”
của Nguyễn Mộng Giác
Nhằm làm rõ nội hàm khái niệm tiểu thuyết lịch sử, đi vào nghiên cứu tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam đương đại từ 1986 đến nay về các mặt nội dung phản ánh, những đặc trưng
nghệ thuật. Tìm hiểu về tác giả Nguyễn Mộng Giác, quá trình sáng tác và diện mạo, vị trí
có quan niệm chính thống và quan niệm theo hướng đổi mới. Bên cạnh đó, sự khác biệt trong
truyền thống văn hóa phương Đông và phương Tây cũng tạo nên những quan niệm khác nhau về tiểu
thuyết lịch sử.
Bàn về khái niệm tiểu thuyết lịch sử Đỗ Hải Ninh khẳng định: “Tiểu thuyết lịch sử hiểu
theo nghĩa chung nhất, là tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử” [84] Theo cách hiểu này thì đã
làm sáng rõ, khưu biệt thể loại vào nội dung lịch sử. Ấy thế, theo chúng tôi quan niệm này
còn những bất cập khi chưa làm thỏa đáng những yêu cầu, đặc trưng, biên độ của của sự hư
cấu về nội dung lịch sử.
Theo Từ điển bách khoa Encyclopaedia Britannica tiểu thuyết lịch sử là: “Tiểu thuyết
lấy một giai đoạn lịch sử làm khung cảnh và mong muốn truyền bá cái tinh thần, kiểu cách,
và các điều kiện xã hội của một thời kỳ quá khứ với những chi tiết hiện thực và trung thành
với sự thật lịch sử (tuy nhiên trong một số trường hợp sự trung thành này chỉ là giả tạo).
Công trình sáng tạo đó có thể đề cập đến những nhân vật lịch sử có thật… hoặc có thể bao
hàm một sự pha trộn nhân vật lịch sử với nhân vật hư cấu” [Dẫn theo Nguyễn Văn Dân,
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại – phác họa một số xu hướng chủ yếu, 74] Quan
15
điểm này, theo chúng tôi là hoàn toàn sát đáng, thể hiện khá trọn vẹn nội hàm khái niệm tiểu
thuyết lịch sử khi cho rằng tiểu thuyết lịch sử lấy giai đoạn lịch sử làm khung cảnh, để thể
hiện tư tưởng người viết dựa vào sự thật lich sử, nhân vật lịch sử và do là tác phẩm văn học
nên phải có sự pha trộn nhân vật lịch sử với nhân vật hư cấu.
Georg Lukács trong The Theory of Novel và nhất là trong The Historical Novel có
quan niêm về tiểu thuyết lịch sử: “Đã quan niêm tiểu thuyết lịch sử luôn có một tác giả và
tác giả bị tác động bởi xã hội hắn sống, tác động này ảnh hưởng đến cái nhìn lịch sử của
hắn, đến chính việc hắn lựa chọn tiểu thuyết lịch sử hoặc chọn đề tài và thời đại lịch sử”
[Dẫn theo Nguyễn Vy Khanh Về tiểu thuyết lịch sử nhân đọc Sông Côn mùa lũ Nguyễn
Mộng Giác,78]
Gần với các quan niệm trên thì theo Từ điển văn học do Trần Hữu Tá, Nguyễn Huệ
Chi chủ biên cho rằng: “Tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính. Lịch
Giác và người Bình Định có đưa quan niệm của Bakhtine về tiểu thuyết: “Tiểu thuyết là sự
đa dạng xã hội của ngôn ngữ, đôi khi của những thứ tiếng và những giọng cá nhân. Sự đa
dạng này được thực hiện một cách văn chương. Những định đề thiết yếu của tiểu thuyết đòi
hỏi ngôn ngữ dân tộc (langue nationale) phải được kết tầng thành những thổ ngữ (dialecte)
xã hội khác nhau, thành những kiểu nói riêng của một nhóm người, thành những tiếng lóng,
tiếng nhà nghề (jargon), thành ngôn ngữ của những kiểu cách, những lối nói, ngôn ngữ của
một thế hệ, của một lớp tuổi tác, của các trường phái, của những kẻ cầm quyền, của những
câu lạc bộ hay những mốt thời thượng, thành ngôn ngữ xã hội của “ngày này” (thậm chí
của “giờ này”) thành ngôn ngữ của chính trị (mỗi ngày chính trị có một định thức riêng để
chỉ định một vấn đề chính xác bằng từ vựng và bằng cách nhấn mạnh) mỗi loại ngôn ngữ
trên đây phải được kết tầng bên trong tiểu thuyết, bất cứ lúc nào, khi câu truyện hiện hữu”
[17,tr.36] Trong quá trình khảo sát chúng tôi thấy quan điểm theo hướng đề cao sự sáng tạo,
tưởng tượng trong tiểu thuyết lịch sử được nhiều người đồng tình. TheoAlexandre Dumas
nhận định rằng: “Lịch sử đối với tôi là gì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo bức họa của tôi
mà thôi.” Còn S. Haasse cho rằng: “Mặc dù những cuốn tiểu thuyết của tôi có thể là tiểu
thuyết lịch sử (bởi nó dựa trên những sự kiện và những biến cố lịch sử hoặc có liên quan
đến những con người có thật)… chủ định của tôi không bao giờ lấy việc tái hiện quá khứ
làm nhiệm vụ hàng đầu. trong văn học, đề tài lịch sử là một phương diện chứ không phải
một cứu cánh” [Dẫn theo Phan Cự Đệ Tiểu thuyết lịch sử,14] Theo Nguyễn Huy Tưởng:
“Lịch sử chỉ là cái cớ để nhà văn triển khai những băn khoăn trăn trở cho thôi day dứt tâm
thế của người cầm bút về thân phận con người, ý thức công dân và sứ mệnh nghệ thuật”
[54,tr.71]
Bàn về tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Triệu Luật có đưa ra quan niệm về tiểu thuyết lịch
sử: “Nhà viết tiểu thuyết lịch sử không cần theo phép sử học. Tác giả chỉ phải tưởng tượng
ra một “truyện có thể có” ở một thời đại, rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy.
17
Mục đích là lấy một chuyện không đâu mà làm sống một thời đại. Những tiểu thuyết Note
dame de par, Quatre vingt treize của Victor Huygo đều là bịa đặt, nhưng đọc truyện đó ta
18
tác phẩm văn học viết lịch sử bằng tiểu thuyết. Rõ hơn là nhà văn lấy tiểu thuyết làm
phương tiện để làm sáng tỏ hơn chân lý lịch sử, tức mục đích” [90] Từ đó, Hải Thanh đề cao
yếu tố hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử: “Tiểu thuyết lịch sử là sự sáng tạo, hư cấu trên cái
nền đã ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử. Nhà tiểu thuyết lịch sử có thể tha hồ
bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạonhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ
hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch
sử” [90] Từ quan niệm này, soi rọi vào góc nhìn liên văn bản thì tiểu thuyết lịch sử góp phần
làm sống dậy văn hóa, lịch sử theo sự kiến tạo của từng cá nhân tác giả. Mượn lịch sử để
bàn về hiện tại, dùng những giá trị lịch sử để phục vụ hiện tại. Nhận định về tiểu thuyết lịch
sử vấn đề đặt ra là “đánh giá lịch sử”. Lịch sử dưới con mắt của nhiều người khác nhau, sẽ
có nhiều ý kiến khác nhau. Tiểu thuyết lịch sử rất dễ rơi vào mâu thuẫn không thể dung hòa
được giữa tính chân thật lịch sử và hư cấu, sự đồng nhất về thời gian lịch sử… Khái niệm về
tiểu thuyết lịch sử là vấn đề còn tranh cãi cho đến nay mà đó cũng là tính hấp dẫn của thể
loại này. Bời vì, nếu có tranh cãi, sự không đồng thuận đó cũng là lẽ thường và lành mạnh
trong văn chương.
Từ quá trình tìm hiểu về đặc trưng thể tiểu thuyết lịch sử cùng với thực tế của quá trình
sáng tác thể loại này giai đoạn năm 1986 đến nay, có thể thấy rõ “tiểu thuyết lịch sử là tiểu
thuyết viết về đề tài lịch sử”. Quan niệm tiểu thuyết lịch sử phải gắn liền và tôn trọng các sự kiện lịch sử,
không được hư cấu, quan niệm này đã làm hạn chế phạm vi của tiểu thuyết lịch sử rất nhiều, làm cho nó
rất gần với các thể loại như: sử ký, phóng sự, truyền thuyết… Tác phẩm dường như không còn là văn
học mà mang đậm tính sử học, tính thời sự, như một phóng sự về những diễn biến của những câu
chuyện quá khứ của lịch sử. Trong tiểu thuyết thông thường hư cấu, tưởng tượng, sáng tạo là
điều không thể thiếu của người viết nên hướng tiếp cận thứ hai cho rằng hư cấu là biện pháp
nghệ thuật nhằm thể hiện sự sáng tạo của nhà văn, gây hứng thú cho người đọc, là đặc điểm
thể hiện sự đặc sắc, bộc lộ quan điểm của tác giả đối với lịch sử, là cơ sở để phân biệt thể
loại này khác với các công trình sử ký. Bên cạnh đó hư cấu còn xuất phát từ quan niệm nghệ
thuật của nhà văn, do đó không nên tuyệt đối hóa nó hay quá đề cao tính trung thành với lịch
hương, đất nước nồng nàn, tinh thần lên án, đả kích kẻ thù xâm lược. Nhìn chung, các tác
phẩm giai đoạn này có sự chuyển biến rõ rệt so với giai đoạn trước nhất là trong nghệ thuật
xây dựng nhân vật, tiểu thuyết giai đoạn này gặt hái được những thành công, vẫn tiếp tục
cảm hứng sáng tác dựa vào tính chân thật lịch sử của giai đoạn trước nhưng có sự đa dạng,
phong phú hơn do chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi hay loại “nghĩ thoại bản”
(nihuaben) vốn phát triển từ loại truyện ngắn gọi là “thoại bản” (huaben) của Trung Quốc và
tiểu thuyết hiện đại phương Tây. Tuy nhiên, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này vẫn chưa được
quan tâm nhiều và còn theo lối kết cấu đơn tuyến, miêu tả ngoại hình để khắc họa tính cách
nhân vật theo lối kết cấu có hậu, nhân vật chủ yếu bộc lộ tính cách qua hành động nhiều hơn
tâm lý.
20
Giai đoạn từ 1945 đến 1985 là giai đoạn tiểu thuyết lịch sử có sự phát triển, có thể kể
một số tác phẩm như: Hùng khí Thăng Long (1964), Bóng nước Hồ Gươm (1970) của
Chu Thiên, Người Thăng Long (1981) của Hà Ân, Đô đốc Bùi Thị Xuân (1982) của Quỳnh
Cư. Sao Khuê lấp lánh (1984) của Nguyễn Đức Hiền… Các tác phẩm giai đoạn này dần
dần thoát khỏi lối kết cấu chương hồi, lối văn biền ngẫu được thay thế cách viết giàu hình
ảnh, văn phong khúc chiếc, Các tác phẩm giai đoạn này tăng lên về số lượng, đa dạng hơn
về đề tài, cũng như có sự kết hợp giữa tính chân thật lịch sử và những hư cấu nghệ thuật,
đánh dấu bước sáng tạo trong nghệ thuật sáng tác, làm cho diện mạo tiểu thuyết lịch sử được
hoàn thiện, phát triển với nội dung sâu sắc và hấp dẫn hơn.
Từ 1986 đến nay là giai đoạn phát triển cao, thời điểm “lên ngôi” của tiểu thuyết lịch
sử. Với đông đảo đội ngũ sáng tác, độc giả bắt đầu có hứng thú tìm về lịch sử Việt Nam
thông qua những tiểu thuyết lịch sử hấp dẫn và giàu giá trị nhân văn, đặc biệt được sự quan
tâm của cứu giới nghiên cứu, phê bình văn học. Bởi, trong những năm gần đây có rất nhiều
cuộc hội thảo, tọa đàm về đề tài tiểu thuyết lịch sử, những buổi giới thiệu sách mới: Hội nhà
văn Việt Nam tổ chức hội thảo ngày 07/09/2012 ở Hà Nội với đề tài Sáng tác văn học về đề
tài lịch sử, Hội thảo khoa học toàn quốc ở Hà Nội ngày 15 và 16/12/2012 với đề tài Sáng
tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử… Đặc biệt, trong những năm gần đây có nhiều tác
- Quân sư Nguyễn Trãi (2001) của Trần Bá Chi.
- Lê Lợi (2002), Bà Triệu (2003), Đinh Bộ Lĩnh (2004), Lý nam Đế (2006) của Hàn
Thế Dũng.
- Ức Trai – Tâm thượng quan khuê tảo (2002) của Bùi Anh Tấn.
- Giàn thiêu (2004) của Võ Thị Hảo.
- Trần Quốc Toản (2005) của Lưu Sơn Minh.
- Đàn đáy (2006) của Trần Thu Hằng.
- Đô đốc Bùi Thị Xuân (2006) của Quỳnh Cư.
- Đất Việt Trời Nam (2007) của Đan Thành.
- Hội thề (2010) của Nguyễn Quang Thân.
- Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần (2010) của Hoàng Quốc Hải…
Đặc điểm của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này ngoài sự phát triển nhanh chóng về số
lượng bởi đây là thể loại văn học có hiệu quả nhất trong việc tìm về cuội nguồn của dân tộc
bằng những trang sử, giàu giá trị văn hóa. Các tác phẩm giai đoạn này thể hiện sự đột phá,
sự đa dạng về nội dung đề tài và hình thức thể hiện. Về đề tài, tác phẩm có sự tiếp nối các đề
tài của các giai đoạn sáng tác trước. Ngoài ra, còn phát huy những đề tài mới như văn hóa
dân tộc, cái nhìn mới về các nhân vật chính sử. Hình thức sáng tạo giai đoạn này cũng đa
dạng, độc đáo, có nhiều đổi mới, ngoài việc dựa vào chân thật lịch sử các sáng tác còn phát
huy tính hư cấu nghệ thuật tạo, khai thác chiều sâu nội tâm nhân vật với những trăn trở, suy
tư da diết tạo được hiệu quả nghệ thuật cao trong sáng tác văn học về đề tài lịch sử.
22
1.1.3. Nội dung chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử từ 1986 đến nay
Yêu nước, căm thù giặc, ý chí quật cường và lòng tự hào dân tộc
Do đặc điểm của tiểu thuyết lịch sử là tái hiện không khí lịch sử, các sự kiện và nhân
vật lịch sử. Mà lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước. Một dân tộc
có truyền thống yêu nước “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Chính vì vậy, nội dung “Yêu
nước, căm thù giặc, ý chí quật cường và lòng tự hào dân tộc” là nội dung quan trọng của tiểu
thuyết lịch sử.