BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
________________ VĂN THỊ LỆ HIỀN
HỒN – TÌNH – HÌNH - NHẠC
TRONG THƠ HOÀNG CẦM
Chuyên ngành : Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHÙNG QUÝ NHÂM Thành phố Hồ Chí Minh -2009
1.2. Nền văn học ta giai đoạn từ nửa sau thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX là
thời ngự trị của những đại danh hào, những giá trị cổ điển bậc nhất như: Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương…, những t
ên tuổi đã làm rạng danh nền văn học nước nhà. Và
giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, bên cạnh những tên tuổi như: Nam Cao, Vũ Trọng
Phụng, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử…, Hoàng Cầm là một
hiện tượng tiêu biểu trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại.
Dấn thân trên bước đường kịch nghệ và thi ca, với Hoàng Cầm, đâu chỉ là cái
duyên mà như là một th
iên mệnh. Quả vậy, chất chứa trong hồn người thi sĩ Hoàng
Cầm là niềm mê đắm khôn nguôi với đời và với thơ ca. Phất cánh diều thơ từ rất
sớm, chàng thi sĩ tự nhận mình có duyên với làng quê và có nợ với thi ca ấy, trọn
đời một lòng chung thủy với nàng thơ, lấy thơ làm cứu cánh, làm mục đích và lẽ
sống cho mình. Tiếng thơ Hoàng Cầm không ồn ào mà khiêm nhường, lặng lẽ, sâu
lắng. Giọng thơ Hoà
ng Cầm mượt mà, đầy sức quyến rũ, bởi hơn ai hết, nhà thơ có
biệt tài trong việc khai thác chất men say của thơ và hơn thế, còn sở hữu một thế
giới nội tâm sâu thẳm và chiều sâu văn hóa làng quê Việt. Thơ ông đẹp vẻ đẹp thướt
tha mà dạt dào, hào sảng, óng ả, thanh cao mà ngọt ngào, lắng đọng. Bước vào thế
giới ấy, người đọc sẽ không
khỏi ngỡ ngàng trước nét bút tài hoa mà rất đỗi nguyên
khôi, một hồn thơ đặc biệt tinh tế và nhạy cảm. Vậy nên, dù gia tài văn chương thi
nhân để lại cho đời không thật nhiều song những tiếng vọng từ sâu thẳm tâm can
ông, qua thơ, lại có ấn tượng không nhỏ trong lòng người đọc. 1.3. Làm nên tên tuổi của Hoàng Cầm trên văn đàn, bên cạnh những sáng tác
thơ còn phải nói đến những tác phẩm văn xuôi và kịch thơ nổi tiếng. Đương nhiên,
chỉ với mảng sáng tạo đầy chất mộng của mình, Hoàng Cầm đã xứng đáng được
xem là một trong những nhà thơ xuất sắc của nền thi ca Việt Nam hiện đại. Giữa
ng Cầm. Nét
văn phong riêng, sự sáng tạo đặc sắc và độc đáo của người nghệ sĩ tài hoa Hoàng
Cầm cũng được khẳng định theo đó.
Mục đích đặt ra là không nhỏ, những gì có thể làm được hẳn cũng chưa phải
là tất cả khi sự nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn. Dẫu vậy, bằng niềm say mê và
lòng nhiệt thành, chúng tôi rất mong mang lại những đóng góp mới mẻ, dù nhỏ, cho
ngành nghiên cứu văn học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nếu những vở kịch thơ và những trang văn xuôi của Hoàng Cầm bộc lộ một
bề dày văn hóa cùng những trải nghiệm về đời, về nghệ thuật sâu sắc và thấu đáo thì
suối thơ của ông chính là dòng sông tâm hồn ông – nơi luôn đầy ắp những con sóng
dạt dào, trẻ trung và ngọt mát. Quả là, ở lĩnh vực nào Hoàng Cầm cũng tạo ra được
ấn tượng đẹp trong l
òng người đọc. Song có lẽ, với thi ca, sức bung tỏa của tài năng
và mạch cảm xúc bất tận trong tâm hồn ông mới thực sự tuôn trào. Luận văn không
đề cập đến toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm mà chỉ tập trung nghiên cứu phần thơ
của thi nhân. Ở đó, chúng tôi cũng không bàn đến mọi phương diện về nội dung và
nghệ thuật mà chỉ đi sâu tìm hiểu cái hay, nét đẹp của thơ ông qua những yếu tố về
hồn thơ, tình thơ, hình ảnh và nhạc điệu trong thơ.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đặt ra ấy, chúng tôi khảo sát toàn bộ
sáng tác thơ của Hoàng Cầm, cụ thể qua những tập thơ: “Mưa T
huận Thành”, NXB
Văn hóa 1991; “Bên kia sông Đuống”, NXB Văn học 1993; “Lá Diêu Bông”, NXB
Văn học 1993; “Về Kinh Bắc”,
NXB Văn học 1994; “Men đá vàng”, NXB Văn
học 1995; và “99 tình khúc”, NXB Văn học 1996. Ngoài ra, Hoàng Cầm còn có
nhiều tác phẩm thơ được in trên các báo và tạp chí song chúng tôi chỉ xem đó như là
Chị yêu dấu của mình. Tuy vậy, thi nghiệp của ông chỉ thực sự được khẳng định khi
Bên kia sông Đuống ra đời. Bài thơ đã nâ
ng tên tuổi Hoàng Cầm lên trên đài thơ,
đứng cạnh các bậc liền anh Thế Lữ, Nguyễn Bính, Xuân Diệu…, và cùng với
những Lá Diêu Bông, Quả vườn ổi…, thơ Hoàng Cầm làm say lòng độc giả bằng
cách riêng của nó, thu hút mạnh mẽ sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học.
Đến với thơ Hoàng Cầm, người nghiên cứu dù đứng ở góc độ nào, bàn về
phương diện gì cũng đều nhận ra cái tài thơ với tấm
lòng yêu thơ, yêu cuộc sống
hiếm thấy nơi ông, ngưỡng mộ thật sự vẻ đẹp tâm hồn, cốt cách của thi nhân. Và ở
những mức độ đậm nhạt khác nhau, các bài viết thể hiện niềm ưu ái, sự đồng cảm
và trân trọng đối với những vần thơ chan chứa tình đời, tình người, ngút đầy nỗi
nhớ, niềm thương của
ông. Những bài viết ấy được tập hợp lại trong mấy quyển
sách sau đây: Quyển thứ nhất do Hoài Việt sưu tầm, biên soạn, có tên: Hoàng Cầm,
thơ văn và cuộc đời của NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997. Quyển thứ hai
của Vũ Tiến Quỳnh, quyển Lý luận phê bình – bình luận văn học, giới thiệu các tác
giả Hồng Nguyên, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Quang Dũng và Hoà
ng Cầm,
NXB Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh, 1998. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Lạc biên soạn
quyển Hoàng Cầm và giai điệu thơ Kinh Bắc, tập sách có sự tham gia của nhiều
giáo sư, tiến sĩ, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng và được Hội Nghiên cứu và Giảng
dạy Văn học thành phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ xuất bản năm 2004. Quyển Hoàng
cầm – Tác giả, tác phẩm, tư liệu và quyển N
hà văn và tác phẩm trong nhà trường,
về hai tác giả Nguyễn Đình Thi và Hoàng Cầm, được Nguyễn Bích Thuận và Lê
Lưu Oanh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn nhiều bài viết về đời và thơ Hoàng
Cầm song phần lớn đã được giới thiệu trong những sách trên. Ngoài ra, còn có một
số bài nghiên cứu nằm rải rác trên các sách, báo và tạp chí, với những cách nhìn,
cách nghĩ khác nhau, tác giả mỗi bài viết đã góp những tiếng nói đầy ý nghĩa cho
Đoài,… nhưng dễ thường ít có thi nhân nào lại gắn bó đến mức máu thịt với quê
hương Kinh Bắc như Hoàng Cầm... Có sự hòa hợp cộng hưởng giữa thế giới Kinh
Bắc với hồn thơ Hoàng Cầm để làm nên một gương mặt thi nhân, một người thơ
Kinh Bắc quen mà lạ, với phong cách và sắc điệu riêng,
chỉ riêng ông mới có” [66,
tr.15]. Bài viết của Nguyễn Xuân Lạc về Hoàng Cầm và thơ ông tuy không thật dài
song đã bộc lộ một sự am hiểu sâu sắc về đời thơ này. Tác giả viết: “Người thơ ấy
đã đi một chặng đường thơ hơn nửa thế kỉ. Nhiều dáng thơ, kiểu thơ, lối thơ nhưng
vẫn chung một hồn thơ Kinh Bắc. Hồn thơ ấy đã lắng đọng và thăng hoa để làm
nên
những nét đẹp riêng của thơ Hoàng Cầm mà dường như chỉ ông mới có” [66, tr.20].
“Những nét đẹp riêng” ấy trong thơ Hoàng Cầm được người viết nhận ra từ những
chiếc Lá Diêu Bông, từ Cây Tam Cúc, Quả vườn ổi, từ Bên kia sông Đuống…, từ cả
tập Mưa T
huận Thành, Về Kinh Bắc..., và được khẳng định đó là “cái đẹp kì ảo”, “lý tưởng”, là “cái đẹp của thơ siêu thực”, “thơ của cái viết tự động”.
Thơ Hoàng Cầm là vậy, làm khó ngay cả những người thật sự am hiểu và
yêu thích thi ca. Nghĩ về thơ ông, Nguyễn Đăng Mạnh băn khoăn: “Hình như có
một không gian Kinh Bắc rất đỗi cổ kính trong thơ anh” [66, tr.26]. Cùng suy nghĩ
ấy, Nguyễn Xuân Lạc khẳng định: “Cái may mắn lớn nhất trong đời thơ ông là được
hút nhụt ngọt từ vườn hoa thơ diễm tình Kinh Bắc. Và vùng đất thơ ấy đã nuôi
dưỡng, ôm ấp, nâng đỡ cho hồn thơ ông bay lên” [66, tr.24]. Đây là điều không ai
có thể phủ nhận trước mỗi thi phẩm của Hoàng Cầm, mà có chăng chỉ là những
cách nói khác nhau, xuất phát từ những điểm nhìn khác nhau.
Thật vậy, Đỗ Đức Hiểu trong bài viết Hoàng Cầm, đã nói: “Tính hiện đại của
thơ Hoà
ng Cầm không phải là như ở thơ Vũ Hoàng Chương (nhà thơ đô thị với phố
Nguyễn Xuân Lạc khẳng định cái đẹp trước hết trong thơ Hoàng Cầm là “cái đẹp kì
ảo, lý tưởng trong thơ tình”, và là “cái đẹp của thơ siêu thực, thơ của cái viết tự
động” [66, tr.20-21]; còn Đỗ Lai Thúy thì nhận định: “Có thể Hoàng Cầm không có
lý luận, không có tuyên ngôn như nhóm siêu thực của Bréton, nhưng trên thực tế
ông đã sáng tạo như họ” [66, tr.56]. Cũng trên quan điểm ấy, Đỗ Đức Hiểu viết về
Mưa Thuận Thành: “Mưa Thuận Thành là thế giới siêu Thuận thành, siêu Kinh Bắc,
siêu mưa” [66, tr.30].
Tìm
hiểu thơ ông, nhất là những sáng tác ở giai đoạn sau, nhiều nhà nghiên
cứu, điển hình như Nguyễn Đăng Điệp, đã khẳng định: “Đó là tiếng vọng của cõi
mơ, là sự siêu thăng của vô thức” [66, tr.52]. Dễ hiểu hơn, Đỗ Lai Thúy nói: “Đó là
thơ của tiềm thức, của giấc mơ, mê sảng, của cái viết tự động…” [66, tr.56]. Một
chỗ khác, tác giả viết: “Nhà thơ chìm
vào tiềm thức để cho ngòi bút tự tuôn chảy”.
Điều kì lạ mà hết sức thú vị này, chính Hoàng Cầm đã chia sẻ trong nhiều
bài viết của mình. Trong Đôi dòng tâm tưởng về thơ, thi nhân viết: “Thơ, từ những
khát vọng người, từ vùng u huyền, bí ẩn nhất, bật ra như một điệu đàn, như một
hình bóng, bất chợt, như tiếng nói các thần linh không biết tự thưở nào” [
101, tr.89].
Sự thật, nhiều bài thơ của Hoàng Cầm đã ra đời như vậy, và sự thật, đó là những tác
phẩm được độc giả yêu thích trước nay. Nhà thơ tâm tình: “Nói chung, hầu hết
những bài thơ được độc giả yêu thích trong nhiều năm của tôi, bao giờ cũng bắt đầu
một cách vi diệu là từ ngoài tôi, vẳng lên đôi ba câu nghe rất rành rẽ giọng phụ nữ
lảnh l
ót mà rất xa, như hát mà như đọc” [101, tr.93]. Kì thực, đó chính là tiếng nói
dội lên từ tiềm thức thi nhân, những gì tưởng đã lắng đọng thật sâu trong hồn ông
bỗng có lúc vọng về, thổn thức, khôn nguôi. Gọi là “thơ của giấc mơ”, chớ hiểu
giấc mơ theo nghĩa thông thường của nó, bởi giấc mơ ấy thật diệu kì mà chẳng mấy
ai có đuợc. Đó là kết quả của ba
o đêm thao thức không ngủ, là sự thăng hoa của một
thành công trong thi pháp của ông”, “là cái giá đã trả được của đời thơ Ho
àng Cầm”
[151, tr.291-297]. Ở đó, chàng thi sĩ tài hoa, đa tình này “đã biết tiết chế tình cảm
của mình, đã nén chìm tính biểu cảm vào câu chữ, để nỗi nghẹn ngào khuất chìm
trong câu chữ đặng kí thác trọn vẹn vết thương tủi cực của số phận mình” [151,
tr.297].
Đồng cảm với Chu Văn Sơn, trong bài Đọc Mưa T
huận Thành của Hoàng
Cầm, nhà văn Phạm Thị Hoài viết: “Trước hết, tôi thấy Hoàng Cầm đẹp và xa cách.
Thật lạ lùng, là thực ra hầu hết những gì tạm gọi là chất liệu làm nên thế giới thơ
ông đều còn nguyên cả đấy, thực ra không xa vời, không siêu nhiên hoang đường gì
hết, mà hồn thơ ông vẫn là một người khách xa…” [151, tr.250]. Ngẫm về điều đó,
nhà văn cho rằng: “Hoàng Cầm có
một hệ lời tinh vi và lắt léo… Cái hệ lời ới hời vi
vút sấp ngửa khép nép nghiêng ngửa mê và tê mê vời vợi ấy lại đi đôi với một âm
vận rất riêng, dường như đã được gọt rũa tính toán cho không còn một chút ngẫu
nhiên nào lọt lưới… Tất nhiên là Hoàng Cầm cầu kì. Bất kì câu nào của ông cũng
tiêu tao yểu điệu…” [151, tr.250-251].
Phạm Thị Hoài bộc lộ cảm nhận của m
ình: “Lần đầu đọc thơ ông, tôi hơi bối
rối trước những từ ngữ không ngờ có thể đặt cạnh nhau, những hình ảnh không ngờ
có thể nối tiếp nhau để xuất hiện những thi tứ không ngờ và một nhạc điệu không
ngờ” [151, tr.255]. Chính khả năng liên tưởng kì lạ đã “gợi về cho ông những cảm xúc đang lang thang đâu đó, đã xâu chuỗi những hình ảnh, đã lảy ra những từ ngữ,
nhạc điệu không thể có nổi ở một trường liên tưởng nông cạn, nghèo nàn, hoặc tầm
thường hơn” [151, tr.256], Phạm Thị Hoài kết luận.
Về phương diện tình cảm trong thơ Hoàng Cầm, nhân đọc Mưa Thuận
Thành, Phạm Thị Hoài nhận xét: “Thế giới tình cảm của Hoàng Cầm trong Mưa
xám) và thần lực (như có tiếng một người nào đó từ th
âm cung nội tâm hay từ cõi
mịt mờ hư ảo của xứ sở tâm linh thì thầm bên tai). Thơ là thành tựu của cả hữu thức
lẫn vô thức” [66, tr.36-37]. Cũng chẳng vướng vào bệnh cầu kì hình thức, quá xem
trọng việc mạ hình đẽo chữ trong sáng tác. “Con chữ trong tay anh như âm binh trong tay phù thủy có tài phù phép. Anh muốn thổi hồn vào con chữ” [66, tr.38].
Thơ Hoàng Cầm do vậy có sức gợi cảm rất lớn, làm lay động cả tâm thức người
đọc. Nhận rõ điều đó, qua bài viết, Hoài Việt bày tỏ tình cảm, niềm tâm đắc của
mình về nhiều phương diện của tài thơ này.
Về vấn đề sáng tạo hình ảnh trong thơ, Hoài Việt ghi nhận: “Anh không
thuộc trường phái cấu trúc luận nhưng lại rất có duyên cấu trúc hì
nh ảnh trong thơ”
[66, tr.38]. Về khả năng dùng chữ thì biệt tài của “con người mái tóc bụi tro này là
việc mày mò tìm ra cái lẫn đằng sau chữ, tầng tầng lớp lớp chồng lên nhau, tạo nên
bề dày chữ nghĩa, không chỉ nổi mà còn chìm…” [66, tr.38]. Và với những gì đã có,
Mưa Thuận Thành, Về Kinh Bắc, Men đá vàng và 99 tình khúc, Hoàng Cầm nghiễm
nhiên được coi là “một cao thủ trong làng thơ hiện đại” [151, tr.11].
Bài nghiên cứu Hoàng Cầm và 99 tình khúc của Trần Mạnh Hảo đá
nh giá về
thơ Hoàng Cầm trên cả hai phương diện: thành công và hạn chế, cái hay và điểm
khuyết của nó. Qua đây, một lần nữa, cái đẹp, nét duyên của đời và thơ Hoàng Cầm
được ghi nhận: “Hoàng Cầm trong đời và trong thơ vốn là một thi khách tài hoa và
một ái khách đào hoa… Nhà thơ đã lấy yêu làm nghiệp để trang trải cái nghề thơ
vốn nhiều oan khiên của mình” [109, tr.110]. Bằng sự thấu hiểu và đồng cảm, tác
giả nói tiếp: “Chừng như nhà thơ có duyên phận với nỗi đau, nên cứ đụng vào nỗi
đau, thơ ông lại được người đọc cảm thông, chia sẻ” [109, tr.115]. Tuy chỉ đi sâu
bàn về 99 tình khúc nhưng những lời nhận định của tác giả lại có ý nghĩa với mọi
vương quốc thơ riêng, với nền móng, bản sắc và các nghi thức không thể trộn lẫn”
[151, tr.257]. Hoàng Cầm
– cái tên ấy, vì thế đã được tiếp nối vào danh sách không
dài lắm những tên tuổi sống mãi trong lòng bạn đọc.
Tóm lại, những kiến giải tuy không giống nhau song trong chừng mực nào
đó, thể hiện sự thống nhất trong cách nhìn nhận, đánh giá về thơ Hoàng cầm, sự
ngưỡng mộ, quý trọng đối với tài năng thơ của thi nhân. Sẽ càng có ý nghĩa nếu đời
thơ ấy nhận đư
ợc ngày càng nhiều sự thấu hiểu, lòng yêu thương cùng niềm cảm
thông của người đọc.
Hướng tiếp cận thứ hai đi sâu phân tích, tìm hiểu một số tác phẩm nổi tiếng,
tiêu biểu cho hồn thơ Hoàng cầm như: Bên kia sông Đuống, Lá Diêu Bông, Cây
Tam Cúc… Trong đó, Bên kia sông Đuống – một tác phẩm đặc sắc được chọn giảng
dạy trong nhà trường phổ thông – đư
ợc quan tâm nghiên cứu nhiều nhất. Ở đây,
chúng tôi đề cập đến một số bài viết của những tác gia như: Hà Minh Đức, Hoàng
Như Mai, Lê Trí Viễn, Trần Đăng Xuyền, Phạm Tiến Duật…
Ngay từ lúc ra đời đã gây một tiếng vang lớn, thi phẩm Bên kia sông Đuống
thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình văn học. Hoàng Như
Mai nhận định: “Bài thơ Bên kia sông Đuống là một sáng tác tiêu biểu trong t
hời kì
kháng chiến chống Pháp. Nó thể hiện sâu sắc, cảm động cuộc sống, tâm trạng, ước
vọng của nhân dân Việt Nam” [66, tr.91]. Trong bài Hoàng Cầm và các bài thơ Bên
kia sông Đuống, Lá Diêu Bông, Hà Minh Đức cũng khẳng địng giá trị bất hủ của
Bên kia sông Đuống: “Bài thơ đã nói lên được khá sâu sắc tình cảm với quê hương
đất nước, vẻ đẹp của vùng quê Kinh Bắc, tội ác của kẻ thù trên quê hương và tấm
lòng của người con nơi xa khi nghĩ về làng quê trong cảnh ngộ đau lòng đó” [132,
tr.100]. Có thể nói Bên kia sông Đuống đã mang được tấm lòng của nhà thơ đến với
o dài, mà như là sự phát triển, sau một đứt đoạn. Chỗ đứt đoạn tuyệt vời ấy là
Bên kia sông Đuống” [66, tr.55].
Viết về Bên kia sông Đuống, bài nghiên cứu của Trần Đăng Xuyền thể hiện
một sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc. Tác giả bài thơ được ngợi ca trước hết bởi
những tình cảm thật đẹp: “Tình yêu tha thiết, say m
ê vùng quê Kinh Bắc vốn tiềm
tàng, chất chứa bấy lâu trong hồn thơ ông, chỉ chờ một hoàn cảnh nào đấy là bùng
lên mạnh mẽ, trào ra đầu ngọn bút thành những vần thơ dòng dòng cảm xúc” [66,
tr.105]. Và Bên kia sông Đuống là ngọn lửa tình cảm cháy lên từ dòng mạch cảm
xúc cuồn cuộn bao nỗi nhớ thương, tiếc nuối, đau đớn, xót xa, căm giận… trong
lòng thi nhân. Đồng cảm sâu sắc với nhà thơ cũng như nắm bắt được linh hồn của tác phẩm, Trần Đăng Xuyền nhận ra: “Trên một cái nền nhạc buồn, cái hồn của quê
hương, cái hồn của dân tộc phảng phất trong mỗi dòng thơ” [66, tr.112].
Cùng cảm nhận ấy, Vũ Dũng cho rằng: tìm hiểu bài thơ Bên kia sông Đuống
bên cạnh lưu ý đến chất Kinh Bắc trong hồn nhà thơ, phải thấy được tình huống,
hoàn cảnh khơi dậy mạch nguồn cảm xúc trong ông. Sẽ hiểu vì
sao “Bài thơ là một
dòng thác tình cảm tuôn trào. Nó không muốn dừng lại để chọn lựa và gọt rũa từng
câu, từng chữ. Nó cứ trào ra từng đợt, từng đợt như những đợt sóng tình cảm, cảm
xúc, và mỗi đợt như thế lại gọi dậy một cách tự nhiên trong kho kí ức, hàng loạt kỉ
niệm đẹp nhất, thân thiết nhất về quê hương mình…” [109, tr.233]. Bài phân tích
khá tỉ mỉ và ấn tượng của Tạ Đức Hiền về bài thơ Bê
n kia sông Đuống cuối cùng
cũng đi đến kết luận: “Có thể nói cảnh sắc và con người Kinh Bắc đã tạo nên chất
tài hoa, độc đáo trong thơ Hoàng Cầm. Chất Kinh Bắc làm nên vẻ đẹp thẩm mĩ của
bài thơ Bên kia sông Đuống để ta yêu quý và trân trọng [158, tr.560].
Trong bài Bên kia sông Đuống, niềm xót xa, tiếc nhớ gửi về quê hương trong
cảnh điêu tàn, Phan Huy Dũng khẳng định: “Hoà
Diêu Bông. Suy ngẫm về chiếc lá kì diệu đầy bí ẩn ấy, Hà Minh Đức nhận ra: “Ở
Hoàng Cầm, chất say thơ tựa như mối duyên tiền kiếp,
nên tâm hồn dường như vừa
sống trong thực tại vừa sống trong hoài niệm, ước mơ. Trải qua bao thăng trầm thế
sự, tâm hồn ấy “được dựng nên bằng nhiều lớp kỉ niệm của tuổi trẻ gắn với một
vùng đất quê hương đẹp, giàu có, thơ mộng” [132, tr.101]. Cuộc đời nhờ đó mà có
Lá Diêu Bông! “Bài thơ đã để lại những ấn tượng đẹp,
bình dị mà rất nên thơ…”
[132, tr.104]. Về ẩn ý của bài thơ, “tôi nghĩ rằng anh muốn nói đến hiện thực và mơ
ước như một bi kịch trong tình yêu lứa đôi” [132, tr.104]. Rộng ra, ấy là “bi kịch
ngàn đời của con người, là những mong ước mà con người suốt đời lặn lội tìm
kiếm”, theo Lê Tiến Dũng [66, 399].
Mai Thục khẳng định: “Lá Diêu Bông chính là ẩn ức của Hoàng Cầm về một
tình yêu đã mất” [151,
tr260]. Kiến giải về điều đó, người viết cho rằng: “... càng
đọc, càng thấy âm vang tiếng vọng của ngàn xưa, thân thương gần gũi mà xa xôi
vời vợi… Lá Diêu Bông xôn xao một thế giới riêng như ảo, như thực ẩn hiện giữa
một không gian mênh mông của đồng quê Việt Nam” [151, tr.259].
Đánh giá về bài thơ Cây tam cúc, Đặng Tiến viết: “Cây tam cúc là một bài
thơ hay, tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật của Hoàng Cầm. Từ một trò chơi
dân gian khá phổ biến, tác giả đã sáng tạo nên một bức tranh trữ tình đặc sắc và
phong phú, đã vẽ lên giấc mơ hạnh phúc, giấc mộng lứa đôi…” [66, tr.60]
. Phần
quan trọng của thi phẩm đã được người viết chú trọng – Không khí và văn hóa quan
họ. Chính nhờ yếu tố ấy mà bài thơ có thêm hương sắc. “Nó chuyên chở tình người,
tình quê nhiều hơn luyến ái lứa đôi” [66, tr.61].
Cùng với nội dung, phương diện nghệ th
uật của bài thơ cũng được tìm hiểu
kĩ lưỡng. Đặng Tiến nhận xét: “Thơ Hoàng Cầm giàu âm điệu… Cây tam cúc là
một bài thơ ngắn dồi dào nhịp điệu vào hàng đầu trong thơ Việt” [66, tr.61]. Bên
Từ nhiều góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu ít nhiều đã đề cập đến những
vấn đề về hồn thơ, tình thơ, hình ảnh và nhạc điệu trong thơ Hoàng Cầm. Tiếp nối
những gì đã được gợi ra ấy, chúng tôi – những người thực hiện c
huyên luận này, hy
vọng về sự thành công và những đóng góp nhất định của một công trình nghiên cứu
một cách toàn diện và có hệ thống về thơ Hoàng Cầm. Thiết nghĩ, đề tài Hồn – Tình
– Hình – Nhạc trong thơ Hoàng Cầm tuy không thật mới lạ song sự giải mã đầy đủ,
hoàn thiện về chúng vẫn là điều quan tâm sâu sắc đối với giới nghiên cứu, phê bình
văn học cũng như những người quan tâm, yêu thích thơ ông.
5. Phương pháp nghi
ên cứu
Để việc nghiên cứu đạt được hiệu quả cao, trong quá trình thực hiện luận văn
này, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1. Phương pháp hệ thống
Đặt thi nghiệp Hoàng Cầm trong dòng chảy chung của nền thơ hiện đại để
nhận rõ và đánh giá những nét độc đáo riêng cùng những đóng góp của thi nhân trong tiến trình thơ của dân tộc. Nhìn thế giới thơ Hoàng Cầm trong một chỉnh thể
toàn vẹn, để qua đó, thấy được thế giới tâm hồn, tình cảm và những suy nghĩ của
nhà thơ về con người và về cuộc đời, những đặc trưng nghệ thuật trong sáng tác của
ông. Vấn đề nghiên cứu cũng theo đó mà được soi sáng một cách tường tận.
5.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Thao tác phân tích giúp đem lại sự cảm n
hận sâu sắc, thấu đáo về một hồn
thơ vốn đầy ắp những nỗi niềm, những suy tư về nhân thế. Bên cạnh đó, các yếu tố
hình ảnh, nhạc điệu qua sự phân tích, miêu tả cụ thể, sinh động, sẽ là nền tảng, là cơ
sở thuyết phục cho những nhận định mang tính khái quát về sắc điệu riêng của thơ
Hoà
ng Cầm.
HỒN THƠ HOÀNG CẦM
1.1. Hồn thơ
Thơ là tiếng lòng của người nghệ sĩ, là sự hòa điệu tâm hồn nhà thơ với
những âm vang của cuộc đời. Thơ là cuộc sống muôn màu muôn vẻ được nhìn,
được mô tả không chỉ bằng mắt, bằng tai mà bằng tâm, bằng sự linh cảm và cả tâm
hồn. Sự gặp gỡ, tri kỉ, phút tâm giao giữa nhà thơ và độc giả cũng chỉ thực sự diễn
ra ở phần hồn của tác phẩm, nơi tiếng vọng, dư ba của tác phẩm đọng lại sau câu
chữ, nơi cảm
xúc hòa cùng cảm xúc và những điệu tâm hồn cứ rung lên mãi, ngân
xa mãi.
Thơ, sở dĩ có sức sống và trường tồn theo tháng năm, bởi ngoài chất trí tuệ,
chất suy tưởng, nó có chất thơ, hồn thơ. Những nhà thơ lớn vừa là những nhà tư
tưởng lớn lại vừa là những kĩ sư tâm hồn giỏi. Văn học nói chung và thi ca thực
chất là sự nhập c
uộc, là quá trình thâm nhập một cách sâu sắc đời sống xã hội và thế
giới tâm hồn con người. Thi phẩm suy cho cùng là nơi nhà thơ thể hiện những trải
nghiệm tinh thần, bộc bày tâm tư, tình cảm và thố lộ những gì sâu kín nhất, chân
thật nhất, trong sáng, hồn nhiên nhất trong hồn mình. Dụng công sáng tạo nên tác
phẩm nghệ thuật, trong sâu thẳm lòng mình, người nghệ sĩ không mong muốn cảm
hóa
được lòng người bằng những lời lẽ tuyên truyền, những lập luận hay lý giải mà
bằng những lay động trong tâm hồn, trong trái tim với niềm cảm xúc thực sự. Khi
tác phẩm nghệ thuật được viết ra từ chính nỗi lòng, từ niềm rung cảm mạnh mẽ,
chân thành, nó sẽ thực hiện được sứ mệnh thiêng liêng: “Mang tiếng nói của mỗi
người đến cho mọi người và m
ang tiếng nói của mọi người đến cho từng người”
[140, tr.18]. Thi nhân phải là người biết nuôi nấng, bồi dưỡng cho hồn thơ phát
triển, bay bổng. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Marx nói rằng: “Chỉ có âm nhạc mới
thức tỉnh được cảm giác về âm nhạc của con người” [60, tr.137]. Thơ, không thể đi
Hồn thơ thể hiện chiều sâu, chiều rộng và chiều cao tư tưởng, tình cảm trong tác
phẩm. Hồn thơ càng sâu, tác phẩm càng có nội lực với sức chứa t
ình ý sâu sắc, giá
trị thẩm mĩ nhờ đó sẽ càng cao.
Trước một tác phẩm văn học, đặc biệt là thi ca, nếu chỉ cố công chiếm lĩnh
tác phẩm ở mặt nội dung và hình thức nghệ thuật thôi thì chưa đủ. Phải làm sao
nhận diện cho được cái hồn cốt, thần thái của nó, thẩm thấu được dư ba vị ngọt của
thi phẩm sau
từng con chữ. Có vậy, sự giao tiếp bằng thơ mới diễn ra theo đúng
nghĩa của nó và giá trị đặc biệt to lớn của tác phẩm thi ca mới được nhìn nhận, đánh
giá đúng mức. Yếu tố hồn thơ quả thực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với một
bài thơ, một đời thơ. Dù vậy, vấn đề nà
y trước nay vẫn chưa dành được sự quan tâm
sâu sắc và nghiên cứu như một vấn đề lý luận. Khái niệm hồn thơ xem ra còn chưa
được làm sáng tỏ và giá trị thẩm mĩ, nghệ thuật của nó vì thế cũng chỉ được nói đến
một cách chung chung, sơ sài, mờ nhạt. Vậy hồn thơ là gì? Ý nghĩa của nó trong
sáng tác thơ? Làm thế nào để nhận diện một hồn thơ?
Thơ là một trong những thà
nh quả đẹp nhất, cao quý nhất của tâm hồn con
người. Đó “là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của
những con người lao động, phấn đấu, suy nghĩ, yêu thương, trong cái phần cao nhất, sâu nhất của họ, tức là tâm trí” [18, tr.34]. Nói cách khác, “tác phẩm thơ được sinh
ra do sự quyện xe của thực tại khách quan với tâm hồn, trí tuệ con người” [18,
tr.33]. Đây là quy luật quan trọng trước hết của sự sáng tạo mà cả người sáng tác và
người thưởng thức đều phải hiểu và quan tâm. Để cho, một bài thơ ra đời phải chạm
được vào tâm hồn của người đọc bằng chính phần hồn của nó, phải làm cho họ rung
động, yêu t
hích và say mê. Muốn vậy, người làm thơ phải gửi được vào trong ấy
nhưng có thể nói tất cả những gì tạo nên một hồn thơ đều được nảy sinh trên mảnh
đất hồn người. Nói cuộc sống là chất liệu tạo nên thơ, nghĩa là nó phải được “đào”,
được “xới”, được “chắt lọc”, “phải được ủ thành m
en và bốc lên trong tâm hồn thi sĩ” mới thành thơ được” [72, tr.74]. Và nếu nói thơ là thiên nhiên thứ hai được sáng
tạo nên từ thiên nhiên thứ nhất thì tâm hồn nhà thơ chính là đấng tạo hóa thứ hai
vậy. Thơ là cuộc sống nhưng cuộc sống chỉ thành thơ qua sự thanh lọc của tâm hồn
thi nhân.
Quả vậy, thơ, kì thực là tiếng vọng của tâm hồn thi nhân trước âm thanh đa
sắc của thế giới thực tại. Và nhà thơ, theo Coleridge, “là người đưa linh hồn của con
người vào giữa hành động bằng cách đẩy chúng kết ước tháp tùng lẫn nha
u trong
cuộc phiêu du đuổi bắt chiếc bóng của giá trị và phẩm giá. Anh thả âm thanh và tinh
thần vào cùng một mảnh đất, ở đấy, chúng quấn lấy nhau, trộn lấy nhau để tạo thành
một sức mạnh toàn diện và thần diệu” [Dẫn theo 37, tr.170]. Nguyễn Địch Cát, vì
thế đã nói: “Người nào trội về nhân cách thì làm thơ hay trang nhã, người nà
o trội
về khí phách thì làm thơ hay hùng hồn, người nào giỏi dùng chữ đặt câu thì làm thơ
hay hoa mĩ, người nào giỏi về điển cố thì làm thơ hay vững vàng... Xem thơ thì có
thể mường tượng mà thấy được người [72, tr.34]. Với triết lý: “Cố lấy hồn tôi để
hiểu hồn người”, Hoài Thanh – người thẩm thơ và bình thơ xuất sắc nhất trong nền
văn học Việt Nam hiện đại – đã nhận ra hồn thơ của các anh tài Thơ Mới: “Chưa
bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn t
hơ rộng mở như Thế Lữ, mơ
màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn
Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan
Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [123, tr.37].
Hồn thơ thể hiện bản lĩnh nghệ thuật, phẩm chất thẩm mĩ và bộc lộ cảm
thể nói cho tôi một điều gì mới về việc cần phải nhìn cuộc sống của chúng ta như
thế nào?” [63, tr.90]. Văn học nghệ thuật vốn không dung nạp những cây bút
thường thường bậc trung, những tác giả không tạo được chất giọng riêng, hồn thơ
riêng cho mình. Nhà thơ sáng tạo ra tác phẩm cũng đồng thời sáng tao ra hơi thơ,
hồn thơ của mình. Nếu không có được điều đó, a
nh ta khó có thể trở thành một thi
sĩ thực thụ. “Người đọc thơ muốn rằng thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống,
nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ, và khi đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ
ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể càng độc đáo, càng hay” [72, tr.75].
Hồn thơ được hình thành từ sự hội tụ của hai yếu tố: tố chất bẩm sinh, thiên
phú và sự dày công tìm tòi, học tập và t
hể nghiệm của nhà thơ. Luôn giữ cho tâm
hồn trong sáng, lung linh với những cảm xúc dào dạt, những rung động sâu xa và
gửi nó vào tác phẩm nghệ thuật là công việc suốt đời và nhiều kiếp của thi nhân.
Thế giới tâm hồn con người và đặc biệt của người nghệ sĩ vốn phong phú, đa dạng,
kỳ ảo, vô hình. Để tâm hồn t
hấm vào câu chữ, làm rung đông trái tim người đọc và
làm nên sự bất tử của tác phẩm văn chương, nhà thơ không chỉ là người sáng tạo mà
còn phải biết dấn thân. Sống giữa cuộc đời, giữa mọi người, anh ta phải biết đau nỗi
đau của người khác, buồn, thương, vui sướng phải nhiều hơn người khác. Mỗi tác
phẩm, với họ, là một sự hóa thân, là một phần tâm hồn, khí lực của họ. Sâ
u trong ấy
là những tâm nguyện, những ước muốn cao đẹp của nhà thơ về cuộc đời và về con
người. Hiện lên qua tác phẩm dù là một cái tâm trong sáng hay một miền tâm linh
kỳ ảo, một tương lai tươi sáng hay những giấc mơ mờ ảo của vùng tiềm thức xa
xôi…, hết thảy đều là những nét đẹp sâu kín trong hồn nhà thơ. Nỗi khát khao được
gửi hồn vào tác phẩm cũng là nỗi
khát khao được giao cảm với thiên nhiên, đất trời
chứa trong nó sức mạnh biểu cảm với những hiệu quả thẩm mĩ riêng. Hồn thơ chân
quê, t
huần hậu Nguyễn Bính sống mãi bên đời một phần nhờ những đặc điểm ưu
trội của thể lục bát. Trong loại thơ 8 chữ, Thế Lữ đưa được “hồn thơ rộng mở” của
mình đến với người đọc và nhận lại biết bao niềm cảm thông, chia sẻ…
Bên cạnh đó, hồn thơ điều phối việc xây dựng các thủ pháp nghệ th
uật và cả
cách xây dựng kết cấu tác phẩm. Đây thực chất là mối liên hệ bên trong của thơ, là
mối tương liên đem lại sự thống nhất, hoàn chỉnh cho tác phẩm. Không phải chỉ đến
khi tác phẩm đã hoàn tất và được cố định lại trong một hình thức nhất định mới xuất
hiện hồn thơ. Trong thực tế, hồn thơ định hình ngay từ đầu, trong tư duy, tình cảm của nhà thơ, trong điểm nhìn nghệ thuật của anh ta. Nó can dự trực tiếp vào quá
trình sáng tạo và góp phần làm nên sự thành công cho thi phẩm. Cùng viết về làng
quê như Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ…nhưng sao chỉ Nguyễn Bính đưa
được bức tranh thơ thấm tình đồng nội của mình chạm tới được cái hồn của dân
tộc? Có lẽ, vì Nguyễn Bính, nhà thơ ấy đã thổi được hồn mình vào trong thơ, và hơn
thế, đã tạo nên được tiếng thơ mới m
ang sắc điệu riêng, đầy biến hóa trên nền thơ
lục bát quen thuộc.
Vấn đề hồn thơ với những đặc điểm phức tạp như thế, để hiểu cho sâu sắc,
thấu đáo kỳ thực là một thử thách không nhỏ đối với thưởng thức và nghiên cứu thơ
ca. Việc chiềm lĩnh thi phẩm suy cho cùng là nhận diện hồn thơ và chỉ ra những
điểm đặc sắc, độc đáo của nhà thơ. Một nền thơ phong phú, đa dạng, phát triển cả
bề rộng lẫn bề sâu, phải là một nền thơ đa phong cách, đa sắc điệu, thực sự giàu có
về hồn điệu . Đó phải như là một bầu trời đầy sao, lung linh, lấp lá
nh, một khu vườn
đầy hoa thơm cỏ lạ, trăm sắc, trăm hương…Bởi vì, hồn thơ chân chính luôn luôn và
bao giờ cũng là hiện t