ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
MÔN HỌC: QUẢN LÝ BỀN VỮNG CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG
BÀI TIỂU LUẬN:
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG
VÀ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU CÁC TÁC ĐỘNG
ĐẾN MÔI TRƯỜNG CHO NGÀNH THAN Ở VIỆT NAM
Giảng viên : GS.TS. Lê Chí Hiệp
Học viên: Nguyễn Thị Thùy Dương
MSHV : 1080100012
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2011
MỤC LỤC
Mở đầu 3
Chương I
NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ THAN ĐÁ
I. Khái niệm chung 5
II. Than đá 5
Chương II
TRỮ LƯỢNG VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC SỬ DỤNG THAN
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
I. Trữ lượng than đá trên thế giới 7
1.1 Tình hình phân bố than trên thế giới 7
1.2 Hiện trạng sử dụng 10
II. Trữ lượng than ở Việt Nam 11
2.1 Sơ lược về lịch sử khai thác than ở Việt Nam 11
2.2 Trữ lượng than ở Việt Nam 14
III. Ứng dụng của than trong đời sống và sản xuất 17
IV. Những tác động của việc khai thác và sử dụng than đến môi trường 20
4.1 Trong quá trình khai thác ở Việt Nam 20
4.2 Ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng 25
giới, hàng năm than cung cấp 23% nguồn năng lượng chính toàn cầu và trong lượng
than được sử dụng thì có tới 60% là phục vụ cho sản xuất điện và chiếm 38% lượng
điện được sản xuất ra trên toàn cầu. Đồng thời, than đóng một vai trò quan trọng trong
sản xuất thép, chiếm 70% sản lượng thép được sản xuất trên thế giới. Than được tiêu
thụ trên thế giới được phân chia như sau: Các nước thuộc OECD chiếm 51% trong
tổng lượng tiêu thụ than cứng, các nước có nền kinh tế chuyển đổi là 9% và 40% là tỉ
lệ của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà than đá mang
lại thì những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến môi trường cũng ngày một lớn, ngoài là
một nguồn năng lượng không có khả năng tái tạo, việc khai thác quá mức than cũng
như các nguồn năng lượng hóa thạch còn là nguyên nhân có thể làm rỗng đàn vỏ trái
đất và khiến cho cường độ các cuộc động đất có thể mạnh hơn và sử dụng than trong
hoạt động sản xuất cũn là nguồn phát sinh CO
2
ô nhiễm môi trường, hàng năm cũng
3
có hàng trăm vụ tai nạn lao động chết người trên trái đất vì việc khai thác than không
an toàn …
Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng than lớn trên thế giới, với
ước tính có khoảng 4 tỷ tấn than Antraxit. Với trữ lượng than phân bố chủ yếu là ở độ
sâu dưới 500m trong khi lượng than ở các mỏ lộ thiên lại rất nhỏ, khoảng 300 triệu
tấn nên gặp không ít khó khăn trong việc khai thác. Hơn nữa, Việt Nam có trữ lượng
khoảng 17 tỷ tấn than nâu thích hợp cho việc sử dụng trong các ngành công nghiệp
nồi hơi, nhưng phần lớn lượng than này nằm dưới Đồng bằng châu thổ sông Hồng nên
số than này sẽ rất khó khăn trong việc khai thác do việc ảnh hưởng đến diện tích đất
nông nghiệp và ảnh hưởng của lượng nước ngầm cao. Than Antraxit nằm chủ yếu ở
vùng mỏ Quảng Ninh còn than nâu chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Hồng.
Ngành than là một bộ phận của nền kinh quốc dân thống nhất, phát triển của
ngành than phải đặt trong sự phát triển của các ngành liên quan và đặt trong tổng thể
phát triển của nền kinh tế và xã hội. Ngành than là một trong những ngành công
nghiệp mang tính chất hạ tầng và là nguồn cung cấp đầu vào phục vụ cho nhiều ngành
Là năng lượng được sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch. Nhiên
liệu hóa thạch chủ yếu là than đá và dầu mỏ. Như chúng ta đã biết, việc tạo ra than đá
và dầu mỏ là 1 quá trình xảy ra hàng triệu năm. Đó là quá trình cây cối và các chất
hữu cơ khác bị vùi lấp lâu ngày phân hủy tạo nên. Vậy khi đốt cháy nhiên liệu hóa
thạch thì sẽ xảy ra việc phát thải khí CO
2
, lượng CO
2
này hàng triệu năm sau các loại
thực vật mới hấp thụ hết để tạo sự cân bằng CO
2
. Người ta coi nhiên liệu hóa thạch là
nhiên liệu không tái tạo.
Năng lượng tái tạo:
Có nhiều dạng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, địa nhiệt, thủy triều,
năng lượng sinh ra khi đốt cháy các loại nhiên liệu như trấu, bã mía
5
II. Than đá:
Khái niệm về than đá
Than đá là một loại nhiên liệu hóa thạch được hình thành ở các hệ sinh thái đầm
lầy nơi xác thực vật được nước và bùn lưu giữ không bị ôxi hóa và phân hủy bởi sinh
vật (biodegradation). Thành phần chính của than đá là cacbon, ngoài ra còn có các
nguyên tố khác như lưu huỳnh. Than đá, là sản phẩm của quá trình biến chất, là các
lớp đá có màu đen hoặc đen nâu có thể đốt cháy được. Than đá là nguồn nhiên liệu
sản xuất điện năng lớn nhất thế giới, cũng như là nguồn thải khí carbon dioxide lớn
nhất, được xem là nguyên nhân hàng đầu gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu. Than
đá được khai thác từ các mỏ than lộ thiên hoặc dưới lòng đất (hầm lò).
6
Chương II
TRỮ LƯỢNG VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC SỬ DỤNG THAN
1990 3387
2003 5300
Bảng: Sản lượng than trên toàn thế giới từ năm 1950 - 2003
Nếu tính toán theo lượng tiêu thụ năng lượng năm 1999 thì dầu lửa còn đủ sử
dụng trong 41 năm, khí gas thiên nhiên 62 năm, riêng than đá 230 năm.
Điều cần chú ý ở đây là lượng tiêu thụ năng lượng được lấy làm cơ sở tính toán là
năm 1999, không thể tính toán chính xác do nhu cầu về năng lượng trong tương lai sẽ
tăng nhanh với nguồn tài nguyên có hạn sẽ càng chóng làm cạn kiệt nguồn năng
lượng.
Nếu chỉ sử dụng năng lượng tự nhiên (tính theo lượng sử dụng nhiên liệu năm
1999) thì dầu lửa còn đủ sử dụng 16,6 năm, khí gas thiên nhiên 14,9 năm, than đá 58
năm; tổng cộng chỉ còn đủ sử dụng trong vòng 90 năm.
Đương nhiên trong tương lai lượng tiêu thụ nhiên liệu tăng lên sẽ làm nguồn
năng lượng càng chóng cạn kiệt. Số lượng tài nguyên than đá còn lại có khả năng khai
thác được do BP công bố gần đây thì: nếu mức tiêu thụ vẫn trên đà giống như năm
2004 thì dầu lửa / khí thiên nhiên / than đá còn 40.5 năm / 66.7 năm / 164 năm nữa.
8
Về than đá, trữ lượng xác nhận có thể khai thác căn cứ theo cách tính này đều
dựa vào con số báo cáo của WEC năm 2003 là 909,6 tỷ tấn, mới đây WEC cũng đã
báo cáo bản thống kê năm 2006 . Theo như vậy thì trữ lượng có thể khai thác được là
847,5 tỷ tấn .Nếu chia theo lượng sản xuất năm 2005 thì còn khoảng 143 năm nữa .
Theo báo cáo của BP statistical Review 2004, tính đến năm 2004 thì trữ lượng
than trên toàn thế giới là 984 tỷ tấn trong đó 50% than Antraxit và 50% là than nâu,
chỉ có thể được trong 192 năm nữa. Tiềm năng cung cấp năng lượng tự nhiên cho
chúng ta thấy lượng tài nguyên năng lượng hóa thạch còn tồn tại bao nhiêu.
Các quốc gia Mỹ, Cộng đồng các quốc gia độc lập và Trung Quốc là có trữ
lượng lớn nhất (chiếm trên 50% trữ lượng than của thế giới), một số quốc gia có trữ
lượng than như: Ấn Độ là 90 tỷ tấn, Úc là 90 tỷ tấn và Nam phi là 50 tỷ tấn than…
Bảng: Phân bố trữ lượng than trên thế giới năm 2004
(Nguồn: BP statistical Review 2004)
trường thế giới. Chính vì thế, việc xem xét trữ lượng và các vị trí khai thác ở các khu
vực khác nhau trên thế giới sẽ giúp các nước có cái nhìn tổng thể để điều chỉnh việc
sử dụng và khai thác hợp lý hơn.
1.3 Hiện trạng trữ lượng và sử dụng tại một số nước trong khu vực:
Tổng lượng xuất khẩu than điện của các nước Châu Á – Thái Bình Dương năm
2007 đạt khoảng 680 triệu tấn trong đó: Australia xuất 250 triệu tấn (có 112 triệu tấn
than cho điện); Indonexia xuất 196 triệu tấn (có 125 triệu tấn cho điện). Tổng lượng
nhập khẩu than điện của các nước Châu Á – Thái Bình Dương năm 2007 khoảng 425
triệu tấn bằng 63% tổng lượng than buôn bán trên thế giới bằng đường biển. Trong
đó: Nhật Bản nhập 112 triệu tấn, Hàn Quốc nhập 66 triệu tấn, Trung Quốc nhập 51
triệu tấn, Ấn Độ nhập 45 triệu tấn, Malaixia nhập 11 triệu tấn, Thái Lan 11 triệu tấn.
Trong tương lai, do vấn đề đảm bảo an ninh năng lượng các nước sẽ tăng sử dụng
than trong nước, hạn chế xuất khẩu than ví dụ như Indonexia từ năm 2010 chỉ duy trì
10
xuất khẩu ở mức 150 triệu tấn than năng lượng/năm. Trong khi đó thị trường nhập
khẩu than truyền thống từ Indonexia và Australia đã được phân chia từ trước. Ví dụ:
Năm 2007 Australia xuất khẩu 101 triệu tấn than butum, thị phần được chia như sau:
Nhật 57 triệu tấn (56,5%); Đài Loan 15,5 triệu tấn (15,4%); Hàn Quốc 13,7 triệu tấn
(13,7%); các nước khác 14,5 triệu tấn (14,4%)(*). Indonexia năm 2007 xuất khẩu
145,6 triệu tấn than bitum, với thị phần chia như sau: Nhật 28,7 triệu tấn (19,7%);
Hàn Quốc 23,9 triệu tấn (16,4%); Đài Loan 20,5 triệu tấn (14,1%); Ấn Độ 18,2 triệu
tấn (12,5%); Hồng Kông+Trung Quốc 16 triệu tấn (11%); các nước ĐNÁ 19,4 triệu
tấn (13,3%); các nước khác 18,9 triệu tấn (13%)(**). Việt Nam trong quan hệ thương
mại với các nước cũng chỉ có thể nhập khẩu tối đa tới vài chục triệu tấn than cho điện.
(Ghi chú: (*) Nguồn: Tổng cục thống kê Astralia; (**) Nguồn BTS ltd)
Nhận xét:
Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương việc sử dụng than vào mục đích cung
cấp điện là khá phổ biến. Hầu hết các nước ở khu vực này đều vừa phải đáp ứng nhu
cầu than trong nước vừa phải đáp ứng cho việc xuất khẩu than vì vậy việc khai thác
than ở các nước đều ngày càng tăng sản lượng theo từng năm, tuy nhiên hiện nay với
1880; 1881 các kỹ sư người Pháp gồm: Phuýt-sơ (Fuchs), Xa-la-đanh (Saladin), Xa-
răng (Sarran) đã tiến hành khảo sát vùng trầm tích chứa than ở địa phận Đông triều,
Hòn Gai, Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay. Đến năm 1882, kỹ sư Phuýt-sơ
đã lấy mẫu than ở Hà Lầm (trong vùng mỏ Hòn Gai) để đưa về Pa-ri phân tích hoá
nghiệm và chính thức lập bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1: 4.000.000. Trên đó
ông ta đã sơ lược vạch ranh giới phía nam của trầm tích chứa than thuộc các địa phận
trên.
Ngày 12/3/1883, thực dân Pháp đem quân đánh chiếm khu mỏ Hòn Gai - Cẩm
Phả, ngày 24/4/1884 thực dân Pháp đã ép buộc triều đình nhà Nguyễn làm “văn tự”
bán mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả (lúc đó gọi là Hòn Gấc), với diện tích 21.932 héc-ta cho
Tư bản Pháp. Đến năm 1888 triều đình nhà Nguyễn bán tiếp khu mỏ than Mạo Khê -
Đông Triều cho thực dân Pháp.
Tháng 9 năm 1884, thực dân Pháp ở Đông Dương đã thành lập và cho ra đời Hội
khai khoáng Bắc kỳ, cũng vào năm đó các xí nghiệp khai thác than của thực dân Pháp
bắt đầu đi vào hoạt động khai thác mỏ tại Hòn Gai, Cẩm Phả, Mạo Khê Đông Triều.
Năm 1898 chính quyền bảo hộ Pháp ở Hà Nội cho thành lập Sở Địa chất Đông
Dương, kể từ đây công cuộc khai thác than đá của các chủ mỏ tư bản Pháp ở vùng đất
Quảng Ninh được diễn ra với quy mô ngày một lớn, để mang lợi nhuận về làm giàu
cho chính quốc (nước Pháp). Nghề khai thác than ở Quảng Ninh do chủ Tư bản Pháp
trực tiếp thực hiện, mạnh nhất vào năm 1939 quá trình này được chia làm 3 giai đoạn
sau:
Giai đoạn I: Từ năm 1888 – 1900 làm công tác thăm dò, khảo sát và chuẩn bị cơ
sở vật chất cho khai thác thử. Năm 1890 bắt đầu khai thác đạt 3.000 tấn, cuối năm
1900 đạt sản lượng 201.000 tấn than.
12
Giai đoạn II: Từ 1901 – 1914 mở rộng khai thác, ra đời nhiều Cty khai thác than.
Cuối năm 1914 đạt sản lượng 604.000 tấn.
Giai đoạn III: Từ năm1915 – 1939 đẩy mạnh khai thác, các Cty mỏ cạnh tranh
khốc liệt để giành quyền khai thác mỏ. Năm 1918 mới đạt 637.000 tấn, đến cuối năm
1939 sản lượng than khai thác ở Quảng Ninh đã đạt 2.515.000 tấn tăng gấp gần 4 lần
nhiều vỉa với cấu tạo và chiều dày của vỉa thay đổi đột ngột.
Đối với việc khai thác than ở bể Quảng Ninh trước đây, có thời kỳ sản lượng lộ
thiên đã chiếm đến 80%, tỷ lệ này dần dần đã thay đổi, hiện nay còn 60%, trong tương
13
lai sẽ còn xuống thấp hơn. Vì các mỏ lộ thiên lớn đã và sẽ giảm sản lượng, đến cuối
giai đoạn 2015-2020 có mỏ không còn sản lượng; các mỏ mới lộ thiên lớn sẽ không
có, nếu có là một số mỏ sản lượng dưới 0,5-1 tr.T/n. Tỷ lệ sản lượng than hầm lò tăng,
nói lên điều kiện khai thác khó khăn tăng, chi phí đầu tư xây dựng và khai thác tăng,
dẫn tới giá thành sản xuất tăng cao. Cho nên, tuy trữ lượng địa chất của bể than
Quảng Ninh là trên 3 tỷ tấn, nhưng trữ lượng kinh tế là 1,2 tỷ tấn và trữ lượng công
nghiệp đưa vào quy hoạch xây dựng giai đoạn từ nay đến 2010-2020 mới ở mức 500-
600 triệu tấn. Mức độ khai thác xuống sâu là -150m. Còn từ -150m đến -300m, cần
phải tiến hành thăm dò địa chất, nếu kết quả thăm dò thuận lợi, thiết bị và công nghệ
khai thác tiên tiến, việc đầu tư cho mức dưới -150m sẽ được xem xét vào sau năm
2020.
Ngoài ra, còn có trữ lượng than đá antraxit khác nằm rải rác ở các tỉnh: Hải
Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn La, Quảng Nam, với trữ lượng từ vài trăm
nghìn tấn đến vài chục triệu tấn. ở các nơi này, quy mô khai thác thường từ vài nghìn
tấn đến 100-200 ngh.T/n. Tổng sản lượng hiện nay không quá 200 ngh.T/năm.
b. Than mỡ :
Trữ lượng tiềm năng được đánh giá sơ bộ là 27 triệu tấn, trong đó trữ lượng địa
chất là 17,6 triệu tấn, chủ yếu tập trung ở 2 mỏ Làng Cẩm ( Thái Nguyên) và mỏ Khe
Bố (Nghệ An).
Ngoài ra, than mỡ còn có ở các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình với trữ lượng
nhỏ.
Than mỡ được dùng chủ yếu cho ngành luyện kim với nhu cầu rất lớn sau năm
2000, nhưng trữ lượng than mỡ ở ta lại rất ít, điều kiện khai thác rất khó khăn. Sản
lượng than mỡ khó có khả năng cao hơn 0,2 – 0,3 tr.T/năm, trong khi nhu cầu sẽ tăng
đến 5 – 6tr.T/năm vào giai đoạn 2010 – 2020.
c. Than bùn :
đối với than nâu ở đồng bằng sông Hồng thì có thể đưa vào đầu tư xây dựng mỏ và
khai thác từ 2015 – 2020 trở đi.
Bảng: Trữ lượng tài nguyên và sản lượng khoáng sản Việt Nam
Trữ lượng (1.000
tấn)
Sản lượng
2006 (1.000
tấn)
Tăng trưởng trung
bình từ 2002
(%/năm)
% sản lượng thế
giới
Sắt 663.000 510 4,3 0,08
Bauxit 2.300.000 30 10,1 0,01
Thiếc 83,6 3,5 18,1 1,09
Titan 34.500 150,5 4,6 8,96
15
Vàng (a) 35.000 2.500 5,6 0,13
Than 6.600.000 38.900 21,6 0,63
Apatit 1.669.000 1.122 11,2 0,87
(Nguồn: Bộ Công Thương và USGS)
((a) Trữ lượng và sản lượng tính bằng kg)
Bảng: Công nghiệp Việt Nam
Sản lượng năm 2007
Tăng trưởng
(%/năm)
(tỷ VNĐ
Nhìn chung, khoáng sản than ở Việt Nam cũng khá phong phú về chủng loại, tuy
việc khai thác chỉ tập trung được vào một số loại than chủ yếu nhưng trong tương lai
cùng với công nghệ phát triển thì việc khai thác sẽ có nhiều khả năng hơn nữa. Bên
cạnh tìm hiểu, nâng cao các công nghệ khai thác để đáp ứng nhu cầu sử dụng và xuất
khẩu, thì việc đưa ra những giải pháp về các vấn đề kèm theo đối với đặc thù của
ngành than cũng cần được sự quan tâm từ phía chính phủ và địa phương có các hoạt
động khai thác và sử dụng than.
Tuy sản lượng và tiềm năng về khoáng sản than ở Việt Nam không phải là quá
lớn nhưng nó cũng góp một phần rất quan trọng về ổn định thị trường năng lượng tại
Việt Nam. Ngoài ra, nó cũng góp phần củng cố được đời sống của người công nhân
trong ngành than. Tuy nhiên, cũng như rất nhiều nơi khác ở Đông Nam Á thì sản
lượng than ở Việt Nam vừa phải đáp ứng nhu cầu trong nước vừa phải xuất khẩu một
lượng đáng kể để bù lại lượng than bán trong nước với giá rẻ hơn vì vậy áp lực lên
ngành khai thác than đang ngày càng lớn.
III. Ứng dụng của nhiên liệu than trong đời sống và sản xuất:
Than đá sử dụng nhiều trong sản xuất và đời sống. Trước đây, than dùng làm
nhiên liệu cho máy hơi nước , đầu máy xe lửa . Sau đó , than làm nhiên liệu cho nhà
máy nhiệt điện , ngành luyện kim . Gần đây than còn dùng cho ngành hóa học tạo ra
các sản phẩm như dược phẩm , chất dẻo , sợi nhân tạo . Than chì dùng làm điện cực.
Than có tính chất hấp thụ các chất độc vì thế người ta gọi là than hấp thụ hoặc là
than hoạt tính có khả năng giữ trên bề mặt các chất khí , chất hơi , chất tan trong dung
dịch . Dùng nhiều trong việc máy lọc nước, làm trắng đường, mặt nạ phòng độc
Theo báo cáo của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), khả năng sản
xuất than căn cứ vào quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015
(có xét triển vọng 2025) thì đến năm 2015 khả năng khai thác than tối đa cũng chỉ đạt
17
61,4 triệu tấn. Trong khi đó, than cho sản xuất điện năm 2009 mới là 7,3 triệu tấn, đến
năm 2013 dự kiến lên tới hơn 40 triệu tấn.
Năng lượng than cho sản xuất điện:
Mặc dù sản xuất năng lượng cơ bản khiêm tốn, Việt Nam vẫn còn xuất siêu về
suất 250-300 bar, nhiệt độ hơi 580-600oC) đã được xây dựng. Hiện nay, hiệu suất phổ
biến của nhà máy nhiệt điện đốt than là 42-43%, cá biệt tới 49-50%.
Ở những nước có nhiều than như Trung Quốc, úc, Nam Phi, ấn Độ… tỷ lệ nhiệt
điện đốt than rất cao, tới 70-80%.
Nhìn chung trong vài chục năm tới, tỷ lệ nhiệt điện đốt than vẫn chiếm tỷ lệ lớn
nhất trong tổng số sản lượng điện năng của thế giới (khoảng từ 40% trở lên).
Sở dĩ như vậy vì trữ lượng than của thế giới còn rất lớn, nhân loại còn có thể
dùng trong nhiều thế kỷ, trong khi trữ lượng dầu và khí còn rất hạn chế.
Mặt khác, hiện nay giá than trên cùng một đơn vị nhiệt lượng chỉ bằng 1/2 giá
dầu. Chắc chắn sau vài chục năm nữa, khi trữ lượng dầu và khí cạn kiệt dần thì sự
chênh lệch về giá còn cao hơn nhiều.
Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiệt điện đốt than trong tổng sản lượng điện năng còn nhỏ bé,
trong nhiều năm gần đây chỉ dao động trong phạm vi 10-20%. Các tổng sơ đồ phát
triển điện trong tương lai dự kiến cũng không quá 20%.
Theo quy hoạch phát triển điện năng, đến 2010, cơ cấu nhiệt điện than trong tổng
công suất các nhà máy điện sẽ lên đến 19,9%, tương đương với nhu cầu 10,2 triệu tấn
than nguyên liệu.
Trong 8 năm tới, tổng công suất của các nhà máy điện sẽ được nâng lên mức
22.000 MW/năm, trong đó thuỷ điện chiếm 38,8%, nhiệt điện khí - dầu chiếm 40,9%.
Tổng công ty Điện lực Việt Nam dự tính, nhu cầu than để sản xuất điện cho năm
2020 sẽ lên tới 23,7 triệu tấn và đây là một thách thức lớn đối với ngành than Việt
Nam.
Quy trình cơ bản sản xuất điện bằng than:
Từ bãi chứa than – than được đưa vào các kho chứa – sau đó đưa vào máy
nghiền than thành bột than – Bột than được đưa vào buồng đốt, thổi lửa để lấy năng
lượng nhiệt – Hơi được bốc lên qua các lưới lọc và đi qua đường ống vào các turbin
và máy phát điện để tạo ra điện năng.
Nhận xét:
19
Những ứng dụng của than trong đời sống thì khá phổ biến và gắn bó với con
2
rừng, tạo ra xói
mòn, bồi lấp ở các sông suối và làm ô nhiễm Vịnh Hạ Long. Một số mỏ than còn sử
dụng công nghệ khai thác lạc hậu, thiếu chương trình khoa học tổng thể để xác định
sự cần thiết về tăng trưởng công suất cho phù hợp với các yêu cầu bảo vệ môi
trường. Do đó, môi trường đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi những tác động xấu, nước
bị ô nhiễm nặng bởi chất thải rắn lơ lửng, vi trùng và bụi trong không khí v.v…
Để có sản lượng nhảy vọt, vượt công suất thiết kế, nhiều đơn vị đã chạy đua lộ
thiên hoá dù đã được quy hoạch là khai thác theo công nghệ hầm lò. Trong khi đó,
20
công nghệ khai thác lộ thiên được đánh giá là gây tác hại rất lớn về ô nhiễm môi
trường, hạn chế độ sâu khai thác. Đến thời điểm này, nhiều mỏ lộ thiên đã âm quá
giới hạn cho phép là -300m (so với mặt biển), nhưng vẫn tiếp tục khoan thăm dò khai
thác, bất chấp những tác hại về cấu tạo địa chất, làm tiền đề cho những thảm họa khác
như lở đất, nhiễm mặn và biến đổi sinh thái.
Hiện nay trong khu vực Hòn Gai – Cẩm Phả có khoảng 30 mỏ than lớn nhỏ đang
hoạt động, bình quân khoảng 2.000ha, có 1 mỏ với tổng diện tích là 175km
2
, chiếm
28,7% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả. Trong
giai đoạn 1970 – 1997, các hoạt động khai thác than ở Hòn Gai, Cẩm Phả đã làm mất
khoảng 2.900ha đất rừng các loại (trung bình mỗi năm mất 100 – 110ha) , trong đó
khoảng 2.000ha bị mất do mở vỉa, đổ đất đá thải. Độ che phủ rừng tự nhiên từ 33,7%
năm 1970 giảm xuống 6,7% (1985) và 4,7% (1997)
Tại khu vực Cẩm Phả, trước năm 1975 việc khai trường được mở rộng chủ yếu
về phía tây – nam (khoảng 100ha) và phía tây (25ha). Sau 1975 việc khai trường và
bãi thải phát triển về phía bắc khoảng 435ha, phía tây – bắc 265ha và phía đông 75ha
Về ô nhiễm môi trường không khí:
Môi trường không khí các khu vực khai thác khoáng sản và lân cận thường
xuyên bị ô nhiễm do bụi, khí độc, khí nổ và tiếng ồn phát sinh ở hầu hết các khâu sản
dao động từ 3,1 - 6,5, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt tiêu chuẩn cho phép từ
1,7 - 2,4 lần, cá biệt có nơi vượt đến 8,09 lần. Nước thải mỏ gây nhiều ảnh hưởng đến
hệ thống sông, suối, hồ, vùng ven biển như gây bồi lấp, làm mất nguồn sinh thủy, suy
giảm chất lượng nước Do tác động lâu ngày, trong đó có tác động của khai thác than
trái phép trong một thời gian dài, một số hồ thủy lợi vùng Đông Triều đó bị chua hóa,
làm ảnh hưởng đến chất lượng nước phục vụ nông nghiệp.
Trước năm 2009, chỉ có 1 đơn vị thuộc Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam
(TKV) có hệ thống xử lý nước thải mỏ. Hiện nay, TKV đang đầu tư 32 dự án xây
dựng trạm xử lý nước thải mỏ đảm bảo đạt TCCP (kế hoạch năm 2009 - 2010), trong
đó hiện nay mới có 10 dự án đã xây dựng xong với tổng lưu lượng xử lý lớn nhất là
2.370 m
3
/giờ, các mỏ còn lại mới chỉ lắng sơ bộ và xả trực tiếp ra môi trường.
Một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nhất, đó là huyện Đông Triều,
vùng trọng điểm lúa của tỉnh, gần 7.000 ha lúa và hoa màu ở Đông Triều (Quảng
Ninh) đang đối mặt với nạn hạn hán và thiếu nước nghiêm trọng trong khi nhiều hồ
thủy lợi lớn bị ô nhiễm, tài nguyên rừng bị suy thoái , gây cạn kiệt dòng sinh thuỷ,
gây ngập úng và hạn hán cục bộ, làm bồi lắng lòng hồ, ảnh hưởng không nhỏ đến đời
sống dân sinh các khu vực lân cận. Trong tổng số 25 hồ chứa nước ở huyện Đông
Triều đã có gần một nửa bị bồi lấp, nguồn nước bị chua hoá từ quá trình sản xuất than
gây ra, trong đó có nhiều hồ bị chua hoá nặng, độ PH đều ở mức dưới 3,5 (PH tiêu
22
chuẩn từ 5 – 5,5). Tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang âm thầm huy hoại năng suất
cây trồng, vật nuôi và nguy cơ bị cắt đứt toàn bộ nguồn thuỷ sản trong tương lai gần.
Cơ quan chức năng đã xác định chính nước thải mỏ gây ảnh hưởng đến hệ thống
sông, suối, hồ, vùng ven biển như gây bồi lấp, làm mất nguồn sinh thủy, suy giảm
chất lượng nước và là tác nhân "tiêu diệt" các hồ thủy lợi tại huyện Đông Triều khiến
nông dân huyện này thiếu nghiêm trọng nguồn nước để phục vụ trồng cấy.
Tác động đến địa hình, cảnh quan: Biến đổi địa hình và cảnh quan. Những biến
đổi mạnh nhất diễn ra chủ yếu ở những khu vực có khai thác than lộ thiên. Các bãi đổ
Về tai nạn lao động:
Trong những năm gần đây thì cùng với việc gia tăng sản lượng khai thác đối với
ngành than thì vấn đề tai nạn lao động xảy ra cũng thường xuyên hơn, mặc dù đã có
nhiều đổi mới đối với công nghệ khai thác trong thời gian qua nhưng vẫn đề tai nạn
lao động vẫn xảy đến ở các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển như
Nga, Hà Lan, Trung Quốc …
Ở Việt Nam tai nạn hầm mỏ cũng đang ngày một gia tăng, tuy so với tai nạn lao
động khác vẫn chưa nghiêm trọng song với điều kiện lao động và năng suất như hiện
nay thì vấn đề này cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Theo thống kê, mỗi năm ở Việt
Nam có khoảng 9 vụ tai nạn hầm mỏ và thường là những vụ tai nạn có thương vong
lớn.
Một dẫn chứng về vấn đề tai nạn hầm mỏ ở đất nước chiếm tỷ lệ này cao nhất
thế giới là Trung Quốc:
Bản đồ đánh dấu các khu vực xảy ra tai nạn sập
hầm mỏ gần đây ở Trung Quốc.
Những nguyên nhân chính
Nguyên nhân thứ nhất chính là nhu cầu than trong nước tăng mạnh.
24
Thời gian giành cho nghỉ ngơi và tu bổ hạ tầng hầm mỏ do đó bị giảm đáng kể.
Nguyên nhân thứ hai là sự tham gia tích cực một cạch thái quá của thành phần kinh tế
tư nhân. Các chủ thầu nhỏ lẻ không đủ kinh phí để đầu tư cho cơ sở hạ tầng xung
quanh khu vực mình khai thác. Họ cũng không đủ thời gian tổ chức các lớp huấn
luyện phòng tránh tai nạn sập hầm và cháy nổ. Nguy hiểm hơn, vì lợi nhuận, họ để
công nhân phải làm việc trong những điều kiện thời tiết và sinh lý dễ xảy ra tai nạn.
Các biện pháp khắc phục
- Cải thiện điều kiện về an toàn lao động đối với công nhân ở các hầm mỏ đặc
biệt là các mỏ khai thác than lộ thiên.
- Cải thiện cơ sở hạ tầng, kỹ thuật công nghệ nhằm gia tăng độ an toàn trong
khai thác.
- Tăng cường công tác giám sát từ chính quyền địa phương và chính phủ.